Bông Hồng Trắng

Trần Văn Lương
 
Thùy :
                   Đường luân hồi quạnh quẽ,
                   Cõi nghiệp thức mang mang,
                   Cất bước đi tìm mẹ
                   Bi thương đọng mấy hàng.
                         (Mục Kiền Liên lên đường tìm mẹ)            
  Tụng:
          Bông Hồng Trắng                                                 
                        (Kính dâng U)                                                  
Rằm tháng bảy mưa trời không chấm đất,
Con lên chùa lòng u uất khôn nguôi,
Nhìn ai ai cũng hoa đỏ thắm tươi,
Mà tủi phận gắn lên người hoa trắng.
Sau Phật điện, phòng hương linh tĩnh lặng,
Khói nhang mờ cùng vạt nắng nương nhau.
Màu khăn tang che khuất kín niềm đau,
Ngàn ánh mắt từ vách cao buồn bã.
Khung ảnh mẹ giữa hàng trăm ảnh lạ,
Đôi mắt  già tựa  biển cả đau thương,
Thương cho mình trót  giũ nợ  tha phương,
Thương con cháu cõi vô  thường trôi nổi.
Tiếng mõ gỗ đục ngầu theo làn khói,
Giọng kinh buồn như réo gọi hồn xưa,
Nến sụt sùi đang khóc trọn cơn mơ,
Con tiếc  nhớ những ngày thơ đã khuất.
Xưa theo mẹ ngày Vu Lan lễ Phật,
Con dại khờ, luôn đánh mất cành hoa,
Đâu biết rằng niềm hạnh phúc bao la,
Được gói trọn trong nụ hoa đỏ thắm.
Cậu mất sớm, mẹ trăm ngàn cay đắng,
Nách năm con, vượt bao dặm sơn khê,
Một đời người chịu mấy bận lìa quê,
Thân cát bụi chưa được về chốn cũ.
Cuộc đời mẹ là chuỗi dài khốn khổ,
Không họ hàng, thân góa bụa long đong.
Tuổi xa trời, sống nhờ đất lưu vong,
Khi nhắm mắt, cháu con còn thăm thẳm.
Con mơ ước, sao đem dòng máu ấm
Từ tim con nhuộm thắm lại nụ hoa,
Để cho con được thấy lại mẹ già,
Dù chỉ thoáng vài sát na ngắn ngủi.
Nhưng hoa trắng vẫn nguyên  màu sám hối,
Và mẹ hiền vẫn lạc lối nơi đâu,
Con đớn đau trước ảnh mẹ gục đầu,
Lòng chua xót chỉ biết cầu biết khẩn.
Cài hoa trắng, con đành lòng chấp nhận,
Khoác lên người thân phận kẻ mồ côi.
Mẹ đã đi xa vĩnh viễn thật rồi,
Con mất mẹ, mẹ ơi, con mất mẹ.
Làn khói trắng tỏa lên cao nhè nhẹ,
Kinh cầu hồn buồn cắt xé ruột gan,
Ngọn gió lùa thêm buốt giá thân nhang,
Nến cháy dở vun từng hàng nước mắt.
                         x
                   x          x
Trời tháng bảy, mây mù không xuống đất,
Chốn quê nhà đang lất phất mưa Ngâu,
Riêng mình con thương nhớ mẹ âu sầu,
Cài hoa trắng mà cúi đầu buồn tủi.
Dù nghiệp chướng trải ba ngàn thế giới,
Dù luân hồi trăm vạn lối mang mang,
Nếu kiếp sau phải trở lại trần gian,
Con chỉ muốn mãi được làm con mẹ.
                   Trần Văn Lương
                  Cali, Vu Lan 2001

Hố Thẳm Trong Tôi

I have but one lamp by which my feet are guided, and that is the lamp of experience.

Patrick Henry

Lê Văn Bỉnh

Em nhắn tôi trở lại quê hương,

Thăm viếng láng giềng và họ hàng,

Gặp vài bạn cũ còn sót lại,

Chia sẻ buồn vui với xóm làng.

 

Bạn thư tôi bàn chuyện đời thường:

Văn hóa, giáo dục hay kinh thương–

Mấy vấn đề tôi còn nghĩ ngợi,

Biết đâu cùng thấy một con đường.

 

***

Lòng tôi xao xuyến tự bao năm,

Cuồng nhiệt ngày đêm những sóng ngầm,

Quê hương ai nỡ quên đi được–

Tất gang hay ngàn dặm xa xăm.

 

Nhưng tôi đã thấy xác trôi sông,

Đầu cắt lìa thân giữa cánh đồng,

Thây người quắp co trong áo trận,

Vẫn còn đây —  ký ức bềnh bồng.

 

Tàu xe chuyên chở sắp dài hàng

Từ khắp miền Nam bao kho tàng,

Chiến lợi phẩm cho miền thắng trận–

Thế kỷ nào thời đại động hang!

 

Miền Nam ơi, mi sẽ bần cùng,

Để rồi cả nước sẽ đi chung,

Đứng lên, ngả xuống theo cờ đỏ;

Ắt phải tuân theo lệnh lạnh lùng.

 

Guồng máy thi nhau chuyển ầm ầm,

Bay về tận láng trại xa xăm,

Đêm ngày thóa mạ –lời trau chuốt.

Tê tái này chết lịm trăm năm!

 

Tôi đã lê thân các trại tù,

Nghe dối gian: cách mạng mùa thu;

Đại ngôn: lịch sử ba giòng thác;

Ruột thịt: miền Nam bọn cựu thù.

 

Gian nan đói khát tháng năm dài;

Ói mửa gập người mùi tanh hôi.

Thối tha bẩn thỉu đành cam phận;

Ruộng dâu xưa, nay hóa biển rồi!

 

Ai chẳng nát lòng khi vượt biên,

Hãi hùng bao chết chóc triền miên.

Tìm sống với vài tia hy vọng.

Đại dương nào phải cảnh thần tiên.

 

Mỗi tin sang khoắng sâu vết hằn.

Đau đớn đâu còn chuyện cá nhân:

Cột mốc lùi xa biên giới Bắc,

Hải đảo lờ mờ sóng Biển Đông.

 

Thành phố sáng choang vang tiếng cười;

Vùng quê tăm tối lệ tuôn rơi.

Cội nguồn xưa … liệng bay nhắc nhở,

Cánh én trúng thương rớt giữa trời.

 

***

Biết nói gì đây với tri âm?

Bao nhiêu năm lặng lẽ âm thầm

H thm trong tôi là có tht:

Sâu trong tim – cùng tận trái tim.

 

Mơ một ngày kia ta gặp nhau,

Tay ấm tay, sóng mắt dạt dào,

Ta nói những gì ta muốn nói…

Hố thẳm năm nào sẽ bớt sâu.

Lê Văn Bỉnh 

Những ngày Tết Canh Dần 2010

 

Các Anh Có Còn Đủ Lửa Gửi Về

Lê Văn Bỉnh

 

Em nhắn anh gửi về chút lửa,

Anh hỏi em sẽ nấu nướng những gì?

Em trả lời cá chết hết ngoài biển trên sông,

Heo gà nhiễm độc ai dám ăn mà nấu;

Lúa rau cháy nắng đầy đồng,

Em không cần đốt thêm chi nữa!

 

Em lại nhắn anh gửi về em chút lửa,

Anh tò mò hỏi em muốn thiêu đốt những gì?

Em trả lời rừng trơ trụi lá;

Đồi đã trọc từ đỉnh xuống chân;

Lâu đài dinh thự của tân cường hào ác bá

Đều xây bằng cốt sắt bê tông,

Cổng kín tường cao nhiều tầng bảo vệ.

Họ có chết đi cũng chỉ thêm đen địa ngục!

 

Mau gửi lửa về, em đêm ngày thúc giục.

Anh nóng lòng muốn biết lửa để làm gì

Khi em không cần nấu nướng đốt thiêu?

Em trả lời không chút chi e ngại:

Để sưởi ấm trái tim em nhiều năm nay nguội lạnh,

Để sưởi ấm mấy chục triệu trái tim quanh đây

Ngỡ mình đang vô vàn hạnh phúc

Trước đất nước của ai đó sắp tiêu vong,

Khi đồng bào của ai đó tù đày gục ngã.

 

Em quả quyết  người ta có thể làm nên tất cả

Với trái tim ấm áp tình nước tình người.

Cuối cùng khi thấy anh  ngần ngại,

Em cũng tỏ ý e dè:

Các anh có còn đủ lửa gửi về?

Câu hỏi đó một mình anh trả lời không nỗi!

 

Lê Văn Bỉnh

tháng 7/2016

Bài Thi Kệ của Thiền Sư Mãn Giác (1052-1096)

Bài thi kệ của Thiền Sư Mãn Giác (1052 – 1096)

春 去 百 花 落
Xuân khứ  bách hoa   lạc
春 到 百 花 開
Xuân đáo  bách  hoa khai
事 逐 眼 前 過
Sự   trục   nhãn  tiền   quá
老 從 頭 上 來
Lão  tòng   đầu thượng lai
莫 謂 春 殘 花 落 尽
Mạc   vị    xuân   tàn   hoa    lạc   tận
庭 前 昨 夜 一 枝 梅
Đình  tiền  tạc   dạ     nhất    chi   mai.

Bản dịch của Thiền Sư Thích Thanh Từ:

Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa nở
Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai

 

Nguyễn N Ngọ (trình bày)

 

Biển, Cá Và Người

Trần Văn Lương

bien ca va nguoi

Đứng sững nhìn rừng cá chết nằm phơi,
Lửa uất hận nung mắt người rát bỏng.
Dãy thuyền gỗ kẹt trên bờ lóng ngóng,
Đoàn ngư dân tuyệt vọng ngước nhìn trời.

Đã mấy chục năm rồi,
Biển đã biến thành nơi chứa xác.
Với chế độ bạo tàn độc ác,
Đến trùng dương cũng tan tác tả tơi.

                          ****

Biển ngày xưa vốn là chốn vui chơi,
Nhưng từ buổi đổi đời đau thương đó,
Khi dân phải trốn chạy làn sóng đỏ,
Đã thành nơi máu lệ đổ tuôn dòng.

Tháng Tư đen, bao bất hạnh chất chồng,
Ách nô lệ đã tròng lên nước Việt.
Giặc Cộng giở trò trả thù khốc liệt,
Bao anh hùng gặp cái chết không may.

Vì tự do nên chấp nhận lưu đày,
Toàn dân Việt đêm ngày lo vượt biển.
Triệu người dấn thân vào nơi nguy biến,
Có mấy phần được đến bến bình an.

Nào biên phòng, nào hải tặc Thái lan,
Cái chết vẫn tham lam đeo từng bước.
Đem tính mạng trả treo cùng sóng nước,
Đáy biển đen chôn ước nguyện không thành.

                               ****

Biển ngày nay vẫn đậm máu dân lành,
Dù súng đạn chiến tranh không còn nữa.
Đất nước khổ hơn cả thời khói lửa,
Dân mỏi mòn đợi mãi chữ tự do.

Sống phập phồng trong hốt hoảng âu lo,
Vì lũ Vẹm luôn bày trò đốn mạt.
Với Tàu Cộng, chúng khom lưng hèn nhát,
Nhưng hung hăng tàn ác với dân mình.

Những ngư dân, vì sinh kế gia đình,
Phải hứng chịu khổ hình trên sóng cả.
Thuyền bè Chệt, chúng gọi là “tàu lạ”,
Giết dân lành, giành cá, lấn biển khơi.

Chúng thông đồng rải chất độc khắp nơi,
Sau chim cá, đến con người bị diệt.
Của độc hại, ai ai mà chẳng biết,
Nhưng đói đành liều chết nuốt qua cơn.

                              ****

Biển ngày mai rồi sẽ thảm thê hơn,
Khi dân Việt chịu thêm hờn mất nước,
Khi mảnh đất của tổ tiên ngày trước
Lọt vào tay bầy xâm lược Bắc phương.

Dân giờ đây đã đến lúc cùng đường,
Mất căn cước, quê hương cùng ngôn ngữ,
Mất luôn cả mấy ngàn năm lịch sử,
Trên đất nhà, làm lữ khách lưu vong.

Trong đau buồn, ngày ngày hướng biển Đông,
Thân nhiễm độc, ngóng trông giờ giải thoát,
Ôm bệnh hoạn, tật nguyền cùng đói khát,
Bất lực nhìn Tàu phá nát non sông.

Tự do không và tổ quốc cũng không,
Kẻ mất nước chợt đau lòng nhận thấy,
Đường giải thoát, sống chết gì cũng vậy,
Cuối cùng rồi chỉ còn đáy biển sâu.

Sau này ai có hỏi: – Nước anh đâu?
Kẻ sống sót đành cúi đầu lặng lẽ,
Thương khóc chốn xưa kia là quê mẹ,
Nay xót xa thành tỉnh lẻ của Tàu.

Nếu hỏi dồn : – Thế dân Việt anh đâu?
Sẽ được chỉ về biển sâu trước mặt,
Kèm theo tiếng trả lời trong nước mắt:
– Đấy là nơi người sẽ gặp dân tôi.

                         ****

Đêm đen dài, bối rối giọt sương rơi,
Trên bãi cạn, bóng ma Hời thấp thoáng.

Trần Văn Lương (CH8)
Cali, 5/2016

Nhắn Kẻ Trở Cờ

Trần Văn Lương

thangtuden

Hỡi người bạn trở cờ theo lũ giặc
Đang nắm quyền sinh sát ở quê tôi,
Đừng chỉ vì chút canh cặn cơm ôi,
Mà thay chúng nói rặt lời dối trá.

Chúng luôn mồm ra rả,
Đánh lừa thiên hạ khắp nơi.
Và chẳng may, đâu đâu cũng có người,
Vẫn nhẹ dạ tin trò chơi bịp bợm.

Này bạn hỡi, đừng đem lời chúng mớm,
Để qua đây luôn sớm tối kêu gào.
Bạn giết người mà chẳng dụng gươm dao,
Khi theo chúng rêu rao điều gian dối.

Đừng dẫn chứng đám cò mồi múa rối,
Bọn thầy tu giả mạo mới ra lò,
Rồi phùng mang trợn mắt hót líu lo,
Rằng đất nước có tự do tôn giáo.

Chúng tóm kẻ chức quyền cao trong đạo,
Cho xênh xang áo mão để reo hò,
Để thổi phồng chiếc bánh vẽ "xin cho",
Hoặc trình diễn lắm trò hề tương tự.

Chúng bắt chẹt tình cảm người xa xứ,
Dụ họ về bằng hai chữ "quê hương",
Bằng những câu giả dối ngọt như đường,
Bằng hình ảnh của "vườn" kia "trái" nọ.

Rồi hốt trọn bầy "cá hồi" vô rọ,
Vắt cạn tiền, xong vất bỏ thẳng tay.
Chuyện sờ sờ trước mắt chẳng chịu hay,
Sao bạn vẫn luôn cối chày ngụy biện?

Đừng núp bóng dưới chiêu bài "từ thiện",
Miệng oang oang toàn nói chuyện thương người,
Nhưng thực ra là về để ăn chơi,
Cùng đóng kịch mong được đời ca ngợi.

Đừng lợi dụng chuyện thiên tai lụt lội,
Để làm giàu trên nỗi khổ của dân.
Thiên hạ ai cũng biết rõ trăm phần,
Mà sao bạn vẫn trần thân lải nhải?

Đừng ong óng toàn những câu nhai lại,
Nào " giao lưu", nào "hòa giải", "thứ tha".
Sao bạn không dám bảo bọn tà ma,
Ngưng bách hại người sa cơ thất thế?

Đừng trâng tráo nói "không làm chính trị",
Khi chính mình xin tỵ nạn nơi đây,
Khóc sụt sùi khai với Mỹ, với Tây,
Vì sao phải đắng cay rời quê cũ.

                         *****

Thân nhược tiểu, mong manh quyền tự chủ,
Bị "đồng minh" bán cho lũ sài lang.
Nên chúng tôi phải đau đớn tan hàng,
Chua xót đứng nhìn giang san tơi tả.

Vì lương thiện, chúng tôi đà trả giá,
Bằng khăn tang của cả triệu người thân,
Bằng những dòng lệ ngập mắt cá chân,
Bằng sinh mạng ngàn quân dân cán chính.

Vì tưởng chúng còn mảy may nhân tính,
Nên bao người đã dính phải tai ương,
Kẻ bỏ mình trong núi thẳm mù sương,
Kẻ giũ kiếp giữa trùng dương sóng gió.

Cũng vì bởi những người như bạn đó,
Mà quê ta, giặc đỏ vẫn cầm quyền,
Sống giàu sang, phung phí những đồng tiền
Từ xa trút liên miên về chốn cũ.

Bạn hỡi bạn, sao đang tâm hưởng thụ,
Trên vết thương đầy máu mủ dân mình,
A tòng theo bọn bán nước cầu vinh,
Để tiếp tục làm điêu linh đất tổ.

Dân tộc Việt chỉ hoàn toàn hết khổ,
Khi lũ này không còn chỗ dung thân,
Khi Cờ Vàng phất phới giữa trời xuân
Theo nhịp bước đoàn quân Nam anh dũng.

                         *****

Bốn mươi mấy năm từ khi buông súng,
Quá khứ buồn giờ chắc cũng phôi pha.
Bao triệu người, còn mấy kẻ xót xa,
Khi nhớ đến một quê nhà đã mất.

Trần Văn Lương (CH 8)
Cali, đầu mùa Quốc Hận,
4/2016

thang tu den 3