Quê Mình Giờ Thế Đó

Trần Văn Lương

Dạo:
Nhìn về chốn cũ mà đau,
Lương tâm, nhân tính từ lâu không còn.
 

 Quê Mình Giờ Thế Đó

 
Trăng nhỏ giọt trên mái đầu bạc phếch,
Người già ngồi, ngốc nghếch ngước nhìn mây.
Quanh gót chân vương vãi đống báo ngày
Đầy tin tức đắng cay từ quê mẹ.
 
Lòng muốn khóc, nhưng mắt không còn lệ,
Thoáng nhìn quanh rồi lặng lẽ cúi đầu,
Cắn chặt môi, đè nén chuỗi thương đau
Đang cuồn cuộn tranh nhau gầy giông gió.
                 
                              ***
Trời đất hỡi, quê mình giờ thế đó,
Chỉ mới vừa nhuộm đỏ mấy mươi năm,
Mà đã thành một địa ngục tối tăm,
Thành hang ổ bọn phi cầm phi thú.
 
Đất nước Việt, nhưng giặc Tàu làm chủ,
Đám cầm quyền chỉ là lũ gia nô,
Vâng lệnh ngoại bang, hành động điên rồ,
Theo vết của tên tội đồ dân tộc.
 
Vét tiền bạc chuyển dần ra ngoại quốc,
Đẩy cháu con đi “du học” xứ người,
Học hành gì, toàn chỉ có ăn chơi,
Sắm xe cộ, tậu cơ ngơi khắp chốn.
 
Để chuẩn bị sẵn sàng nơi ẩn trốn,
Sau khi Tàu xâm chiếm trọn quê cha,
Chẳng điều gì dẫu hèn mạt xấu xa,
Mà chúng chịu buông tha hay từ bỏ.
 
Nhưng lớn nhất là tội làm sụp đổ
Cả một nền đạo đức tổ tiên ta
Đã hy sinh dốc xương máu mình ra
Để gầy dựng cho nước nhà thuở trước.
 
Nhìn tư cách của người dân một nước,
Thì ít nhiều cũng biết được rồi đây,
Xứ sở này sẽ nhẹ bước cao bay,
Hay sớm muộn cũng có ngày xóa sổ.
 
Ngắm quê cũ, lòng càng thêm xấu hổ,
Đạo đức dân mình xuống hố thật nhanh,
Từ đám già cho đến lũ trẻ ranh,
Đâu cũng thấy toàn gian manh độc ác.
 
Vì tổ quốc biểu tình thì lác đác,
Nhưng hùa đi đại nhạc hội thì đông,
Mặc cho Tàu dần chiếm đoạt non sông,
Miễn mình được nghe văn công hò hét.
 
Rồi lớn bé xuống chật đường gào thét, 
Nhảy cẫng lên mừng kết quả trận banh,
Nhưng trong khi đất nước mẹ tan tành,
Vẫn lãnh đạm làm thinh không nhúc nhích.
 
Kéo nhau đi du lịch,
Giở lắm trò lố bịch, lưu manh,
Vào xứ người mà ăn cắp như ranh,
Trơ trẽn lộ toàn hành vi bỉ ổi.
 
Về giáo dục, nói ra càng tức tối,
Học sinh thì gian dối đến thành tinh,
Đám thầy bà càng đáng rủa đáng khinh,
Còn xảo trá hơn học sinh vạn bội.
 
Điểm qua các thành phần trong xã hội,
Bắt đầu từ cán bộ tới dân đen,
Từ “giáo sư”, “tiến sĩ” tới phu phen,
Đâu cũng chỉ xem đồng tiền trên hết.
 
Khi đạo đức bị hoàn toàn hủy diệt,
Và lương tâm cũng biền biệt ra đi,
Thì chẳng cần phải có phép tiên tri,
Cũng biết rõ được cái gì sẽ đến.
                    
                          ***
Chạnh nhớ lại lời thề khi vượt biển,
Tiếng sụt sùi đêm tách bến ra khơi,
Mới đây thôi đã mấy chục năm rồi,
Lòng già bỗng thấy bồi hồi vô hạn.
 
Nhìn một số người mang danh “tỵ nạn”,
Lại càng thêm buồn nản lẫn xót xa,
Kẻ “thăm quê”, kẻ du lịch “dối già”,
Kẻ “từ thiện”, kẻ về “ra mắt sách”.
 
Nhặt đống báo, vất vô thùng cái toạch,
Miệng lầm bầm tự than trách khôn nguôi,
Lối quê nhà đà vĩnh viễn xa xôi,
Chút hy vọng nhỏ nhoi đành lịm tắt.
 
Trạm xe buýt, ánh đèn mờ hiu hắt,
Khác chi đời kẻ ngắc ngoải tha phương,
Đã đến chặng cuối đường,
Còn phải khóc nhìn quê hương sắp mất.

Trần Văn Lương

Cali, 11/2018

Bóng Ma

Lê Văn Bỉnh

(Thêm stanza cuối để mong tìm gặp lại nhà thơ DƯƠNG QUÂN)

 

Trở về hoang vắng như sa mạc,

Thất thểu đi tìm cội tích xưa.

Nhật ký dẫu nhiều trang thất lạc,

Mấy mươi năm ký ức chưa mờ.

 

Lòng khao khát, kìa xa ốc đảo;

Bước tự do, đôi mắt cay cay.

Đâu sự thật và đâu hư ảo?

Bốn hướng mịt mờ hơi nước bay.

 

Trong sương khói ngóng về Bắc Đẩu,

Trùng trùng vây phủ bóng mây đen.

Lập lòe đom đóm tìm nơi đậu,

Ta thấy trong ta những yếu hèn.

 

Ở đây ngày ngắn ta thành bụi,

Đêm vô tận dài lại hoá thân:

Con đà điểu già vương mang tội

Chui đầu xuống cát biết bao lần.

 

Chợt nghe ai nói gì trong óc,

Mà ngỡ nghìn chim tiếng gọi đàn.

Vườn mơ thơm ngát em mời mọc;

Kèn trống quân thù gịuc thúc vang.

 

Biết trả lời sao khi em hỏi;

Ta còn chưa biết hết lòng ta.

Xin em đừng nhớ, đừng mong đợi;

Ta sống dật dờ … một bóng ma.

 

Ta mơ từ xa triệu ngọn đuốc

Sáng rực lên rừng lửa bập bùng,

Tiếng hò reo đón chào “hồn nước”*

Sẽ trở về sau cuộc phế hưng.

 

Lê Văn Bỉnh

—————–

  • Chữ của nhà thơ Lưu Nguyên Đạt trong bài “Chúng Tôi Còn Hồn Nước” trên blog Việt Thức

Bữa Cơm Cay Đắng

Dương Quân

Vì ngày 30.4.75, viết cho Cựu SV/QGHC

Hôm nay mừng bạn trở về đây

Chén rượu hàn huyên rót thật đầy

Nhắc lại từng tên bao bạn cũ

Kẻ còn, người mất buổi chia tay

 

Buổi ấy bàng hoàng sáng tháng tư

Bổng dưng tan nát cả cơ đồ

Nước non tang tóc, người di hận

Tử sĩ hồn nương nặng bóng cờ

 

Bạn ta, người chết tận rừng sâu

Giữa tuổi thanh xuân, bị ngục tù

Nhiều kẻ vùi thân lòng biển lớn

Tiếng hờn theo gió thoảng vi vu

 

Hỡi ơi! Nhứt khứ hề, vong quốc

Còn gặp nhau đây xiết nỗi mừng

Lại nhớ những người xa vĩnh viễn

Nhạt nhòa đáy cốc rượu rưng rưng

 

Uống đi! Đời đắng như men đắng

Dốc cạn hồ trường, hỏi tuổi nhau

Bạc thếch thời gian trên mái tóc

Một đời lưu lạc sớm qua mau

 

Chút lòng mời bữa cơm đơn giản

Mấy chén dành riêng bạn đã xa

Thắp nén trầm hương xin tưởng niệm

Hãy về hiển hiện ở quanh ta

 

Dù bạn về đây hay ở đâu

Vẫn như ngày trước lúc ban đầu

Ngậm ngùi đất khách niềm thương cảm

Chí cả thu vào khóe mắt sâu

 

Có thể sang năm không gặp nữa

Những người có mặt buổi hôm nay

Chỉ mong tình bạn luôn trong sáng

Nhựt nguyệt hằng soi thế giới nầy

 

Mong thấy quê hương được thái bình

Dân hiền thoát khỏi cảnh điêu linh

Bạo tàn sớm phải vào tiêu diệt

Trang sử đau buồn khép lại nhanh

Dương Quân (ĐS14)

Nghẹn Ngào Gió Muối

Trần Văn Lương 

Dạo:

Dập dồn gió muối biển khơi,

Trên môi mặn chát lệ người xa quê.

Nghẹn Ngào Gió Muối

 Chiều ngắc ngoải, nắng chuồi trơn tuột,

Tháng Tư về giá buốt hồn câm.

Mây loang đáy nước tím bầm,

Trùng dương vẳng tiếng khóc thầm gọi nhau.

 

Manh áo cũ đượm màu gió muối,

Người tần ngần, tiếc nuối bâng quơ,

Mắt nhìn quanh quẩn ngẩn ngơ,

Thương bầy sóng nhỏ lên bờ phơi thây.

 

Buồn ngẫm lại từ ngày mất nước,

Biết bao người cất bước ra khơi,

Trời không cho được tới nơi,

Đành cam đáy biển ngậm cười xót xa.

 

Thân may mắn vượt qua bão tố,

Cuối cùng đà đến chỗ bình an.

Dù xa cách vạn quan san,

Vẫn nghe đòi đoạn ruột gan sớm chiều.

 

Kể từ lúc đánh liều tránh loạn,

Giữ lời thề tỵ nạn sắt son,

Bao lâu lũ giặc vẫn còn,

Thì đành đất khách mỏi mòn lất lây.

 

Quê hương cũ giờ đây xa lạ,

Người dần quên hết cả cội nguồn,

Tập tành rặt thói con buôn,

Bày mưu tính kế lách luồn lừa nhau.

 

Đất nước đã do Tàu làm chủ,

Chỉ bạo quyền no đủ giàu sang,

Mặc dân đói khổ trăm đàng,

Hằng mong chóng được nhẹ nhàng xuôi tay.

 

Biển quê mẹ nay đầy xác cá,

Thay xác người vốn rã từ lâu.

Bốn mươi năm lẻ bể dâu,

Biết bao nhiêu nước dưới cầu đã qua.

                             *

                       *          *

Hạnh phúc vẫn còn xa hun hút,

Dù mong chờ từng phút từng giây.

Run run bóc tấm lịch dày,

Mơ trong tuyệt vọng ngày xoay cơ trời.

 

 Chữ Quốc Hận ngàn đời mãi nhớ,

 Nợ máu này muôn thuở nào quên,

Dân Nam kiếp nạn triền miên,

Vừa ngơi khói lửa, đã liền cùm gông.

 

Bao ước vọng, mười không được một,

Mượn tiếng cười gượng đốt cơn đau.

Bạn bè đầu trắng phau phau,

Gặp nhau chỉ lúc tiễn nhau về trời.

 

Định mệnh chẳng thương người dân Việt,

Để giặc thù giết chết non sông.

Tháng Tư đến, mắt cay nồng,

Chừng nghe tiếng gió biển Đông triệu hồn.

 

 Nhìn sóng nước, bồn chồn ngơ ngác,

Chợt thấy mình chẳng khác u linh,

Ngày ngày câm điếc lặng thinh,

Khập khà khập khiễng một mình lang thang.

 

Chỉ còn lá Cờ Vàng ấp ủ,

Năm canh ru giấc ngủ tật nguyền,

Chập chờn nửa tỉnh nửa điên,

Con tim vất vưởng tận miền xa xôi.

                            *

                     *            *

Nghe mặn chát bờ môi nứt nẻ,

Phải chăng là lệ kẻ ly hương,

Hay là gió muối trùng dương,

Về khơi lại nỗi nhớ thương một đời?

Trần Văn Lương

Cali, đầu mùa Quốc Hận 2018

Đôi Dòng Nhắn Muộn

Trần Văn Lương

Dạo:

Chào đời chẳng một ai hay,

Ra đi cũng muốn xuôi tay âm thầm.

Đôi Dòng Nhắn Muộn

Khi hay tin tôi mất, bạn hiền ơi,

Đừng phí sức tìm đến nơi thăm viếng,

Vì khi bạn lỡ tình cờ nghe tiếng,

Xác thân tôi tan biến đã lâu rồi.

 

Tôi biết mình sống chết cũng thế thôi,

Chẳng ai có rỗi hơi mà thương tiếc.

Ngày tôi đến với đời, không ai biết,

Thì ra đi chẳng thiết để người hay,

 

Nên dặn dò con cháu bấy lâu nay,

Khi tôi phải xuôi tay nằm đâu đó,

Đừng bày vẽ báo tin, đăng cáo phó,

Khiến bạn bè phải tỏ vẻ buồn đau,

 

Đánh đàng xa vất vả viếng tang nhau,

Có đáng sá gì đâu thằng tôi đó.

Tôi đã sống một đời như cây cỏ,

Có chết đi, cũng chẳng bõ công buồn.

 

Hãy xem tôi như là một tiếng chuông,

Trong giây phút chợt buông rồi lịm tắt.

Đừng nhọc lòng thắc mắc,

Chuyện tôi vừa có mặt ở trần gian.

 

Mấy mươi năm hưởng tuổi thọ trời ban,

Sống nhếch nhác, hoàn toàn vô tích sự.

Học đòi đôi ba chữ,

Chẳng ích gì cho xứ sở quê hương.

 

Hơn nửa kiếp tha phương,

Lang thang phường giá áo.

Phất phơ mãi, chẳng làm nên cơm cháo,

Chỉ ngày ngày ngơ ngáo ngóng trời xa.

 

Chưa một lần báo hiếu được mẹ cha,

Anh em cũng tựa hoa trôi dòng nước.

Ân trọng nghĩa sâu, chửa đền đáp được,

Càng sống lâu, càng rước lắm nợ nần.

 

Tết đến đã bao lần,

Vẫn mãi đợi mùa Xuân trên đất mẹ.

Tim cằn cỗi chỉ còn dăm giọt lệ,

Vắt thành câu kể lể nỗi đoạn trường.

 

Tính khật khùng, chẳng có mấy người thương,

Kẻ ghét bỏ, đầy đường không đếm xuể.

Lòng thầm luôn biết thế,

Nên lìa đời chẳng dám để ai hay.

 

Tôi muốn lúc chia tay,

Cũng giản dị như ngày rời bụng mẹ,

Chỉ có mặt vài người thân lặng lẽ,

Buồn hay vui cũng thế, giữ trong nhà.

 

Cuộc sống đà đầy ắp chuyện xót xa,

Tôi không muốn trò tang ma lịu địu,

Thành gánh nặng cháu con mình phải chịu,

Khiến chúng càng thêm bận bịu lôi thôi.

*****

Nếu tình cờ nghe tôi mất, bạn ơi,

Hãy phớt tỉnh, đừng phí lời thương tiếc,

Đừng vớ vẩn thốt lên câu vĩnh biệt,

Hoặc băn khoăn vì biết quá muộn màng.

 

Đừng hoài công sục sạo các nghĩa trang,

Đất nhân loại càng ngày càng khan hiếm.

Cũng đừng kiếm xương tàn tôi dưới biển,

Tôi dám nào làm ô nhiễm trùng khơi.

 

Nếu thương tôi, xin bạn hãy cười tươi,

Châm điếu thuốc, phà hơi theo làn gió,

Rồi nheo mắt, thở phào và nói nhỏ:

– Cuối cùng thằng khỉ đó cũng ra đi!

Trần Văn Lương (CH8)
Cali, 3/2018

Trên Cát

Thơ Lê Văn Bỉnh

 

Người thương binh loay hoay trên bãi biển

Đắp mô hình thủ đô cũ Sài Gòn

Tấp nập bộ hành đại lộ hẽm con

Xuất hiện thêm chợ mấy ngôi lớn nhỏ

 

Ngọn cờ tí teo mặt anh rạng rỡ

Nhiều mái trường đông đúc đám học sinh

Anh nói đây một thủ đô thanh bình

Dù xa xa vang vang bom đạn nổ

 

Khách đi qua bấm máy hình ghi nhớ

Anh mỉm cười cám ơn kỷ niệm này

Sóng biển vào trong vài giờ nữa đây

Sẽ xóa hết cảnh thanh bình trên cát

 

Khách vắng đi và nhanh trong chốc lát

Anh vẽ người chỉ còn lại một chân

Cánh tay cụt đong đưa nỗi nhọc nhằn

Nước lại xóa công trình vừa mới chớm

 

Nhìn sóng vỗ tràn lan anh cười lớn

Tác phẩm vẫn còn – đó chính là ta

Chứng tích một thời — dù khá phôi pha

Là thực tế  –không chỉ qua hình ảnh

 

Cứ vài tuần anh lại ra biển lạnh

Đắp mô hình thủ đô cũ Sài Gòn

Khách vẫn chụp hình – ảnh đó sẽ còn

Còn ảnh anh — người lắc lư trên cát.

 

Mưa mỗi lúc càng thêm nặng hạt

Gió vù vù như tích tụ trăm năm

Sóng điên cuồng gào thét ầm ầm

Anh về đâu — hay vẫn còn trên cát

 Lê Văn Bỉnh

Virginia Tháng Giêng 2018

Lệ Thiên Đường

Tôn Thất Hùng

Ngày em lạc bước trần gian
Hạc vàng quay quắc bạt ngàn tìm em

 

T ơ trời vương màu áo
Mắt ngọc nắng lụa vàng
Tóc mây hương khuê các
Dáng liễu thanh đài trang

Rêu phủ xanh tường cũ
Chiều Thu phiến nắng vàng
Tan trường cùng chung bước
Ðông giá đón Xuân sang

Có lần về xe trễ
Ðông khách cố chen lên
Ngỡ ngàng qua ánh mắt
Trần thế thêm nàng tiên

Trong khoang xe chật chội
Chợt sáng giữa u tối
Áo trắng lạc thiên đường
Giáng trần đang bối rối

Xuống xe theo từng bước
In dấu hài đi trước
Bừng đỏ đôi má hồng
Kiêu sa đi không ngước

Tất niên mở dạ tiệc
Ðông đủ các bạn thân
Chủ đề đêm văn nghệ
Ca khúc tình mùa Xuân

Giáng Hương, Quyến, Ngọc Yến
Cả một trời xuân xanh
“Bến xuân “Như Ý chọn
Thanh Trúc “ Tà áo xanh”

Chủ đề nhạc tình yêu
Ca ngợi tình muôn thuở
Thu “Lá đổ muôn chiều”
Lá vàng khóc tình yêu

Lâng lâng hồn nghệ sĩ
Mê đắm sắc thiên hương
Say tình ca men rượu
Rã cánh mộng thiên đường

Tân xuân mồng một Tết
Tiếng súng đồng nổ dòn
Dầm mưa phùn cùng dự
Lễ thượng kỳ ngọ môn

Giặc chiếm Huế đầu Xuân
Sau binh biến Mậu thân
Rơi lệ mừng tái ngộ
Tay trong tay giai nhân

Thiên đường yêu thơ mộng
Trần thế nặng phồn hoa
Tuổi xuân đầy lý tưởng
Tay trắng về núi xa

Cuộc chiến đang ác liệt
Giặc tràn ngập biên cương
Cõi ngoài lo giúp nước
Nơi hỏa ngục chiến trường

Mỗi lần được về phép
Hạnh phúc ngồi bên nhau
Êm đềm nhìn phiến nắng
Tường cũ rêu xanh màu

Ba năm trước về phép
Ban toán hỏng Tú tài
“Văn chương” lời khuyên bảo
Lần cuối đã Luật hai

Crystal mở cửa hàng
Nhiều bướm ong giàu sang
Ngọc ngà đời nhung lụa
Phụ mẫu kén rễ vàng

Này “Hương xưa, Hoài cảm”
Băng nhạc dành tặng Hương
Tình trần mong manh quý
Chút hạnh phúc thiên đường

Hương kéo tay ra cửa
Ngây thơ mãi bên nhau
Tay trong tay vĩnh cửu
Hạnh phúc đến bạc đầu

Nghĩa mẫu ở phòng bên
Quát ầm “Hương mẹ bảo”
Lệ tình rơi tuyệt vọng
Thôi vĩnh biệt giáng tiên

Tây nguyên mai rừng nở
Chốn cũ nơi hậu phương
Nắng vườn đào còn nhớ
Phút luyến tình tơ vương

Nước mất đời đảo điên
Cướp tra khảo kiếm tiền
Lìa trần đương danh sắc
Về chốn xưa bình yên

Áo trắng hồi thiên đường
Hồn nhiên quên trần thế
Tình trần xưa chạnh nhớ
Theo gió trời tơ vương

Một chút tình thơ mộng
Trần gian mãi còn hương
Nơi vĩnh hằng còn đọng

Hạt sương lệ thiên đường

Có những đêm về sáng
Long lanh những hạt sương
Lệ tình xưa áo trắng
Thanh thoát lìa thiên đường

Cánh hồng sương long lanh
Tinh khiết tình mong manh
Hạnh phúc thời thơ mộng
Vĩnh hằng tình xuân xanh

Hồng trần hoa ngát hương
Khuya khoắc hoa đẫm sương
Nơi vĩnh hằng thanh tịnh
Hương bình an thiên đường

Tôn Thất Hùng
14/1/2017

 Lá Thư Từ Ngục Tối

Trần Văn Lương

Dạo:
Vì thương vận nước điêu linh,
Nên người phải đón Giáng Sinh trong tù.
 
(Để tỏ lòng kính phục đối với những vị anh thư 
nước Việt đang phải đón Giáng Sinh trong ngục tù 
Cộng sản chỉ vì lòng yêu nước đã can đảm lên tiếng
bảo vệ nhân quyền, tự do và độc lập cho quê hương)

Blogger “Mẹ Nấm” Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã bị CSVN tuyên án 10 năm tù từ 29/6/2017

 Lá thư Từ Ngục Tối

Đêm đặc quánh, người tù ngồi chết lặng,
Tiếng đàn ca văng vẳng lắng qua song,
Gắng gượng xua nỗi tuyệt vọng trong lòng,
Tay nguệch ngoạc đôi dòng cho con gái.
                          ***
Con yêu dấu, Giáng Sinh đà trở lại,
Mẹ lần đầu phải xa ngoại, xa con.
Chốn ngục tù dù khổ sở héo hon,
Lòng mẹ vẫn sắt son cùng đất nước.
 
Biết làm sao khác được,
Khi bạo quyền đang tàn ngược với dân.
Mẹ cúi đầu chịu lỗi với người thân,
Và xin ngoại tha cho phần bất hiếu.
 
Mẹ tin tưởng ngoại và con đều hiểu
Nỗi khốn cùng của bao triệu dân Nam.
Nếu mình không tiêu diệt lũ gian tham,
Thì sẽ mất giang san vào tay Chệt.
 
Quê hương là trên hết,
Mẹ có chết cũng đành,
Nhưng dặn lòng phải bền bỉ đấu tranh,
Không muốn thấy dân mình thành nô lệ.
 
Con và ngoại đêm nay cùng đi lễ,
Hãy cầu xin cho mẹ được kiên cường,
Cho dân lành thôi gánh chịu đau thương,
Cho đất nước thoát con đường bất hạnh.
 
Con có biết nhiều trẻ em đêm thánh,
Cũng như con dường chịu cảnh “mồ côi”,
Đón Giáng Sinh mà đòi đoạn khúc nôi,
Thương cha mẹ mỏi mòn nơi tù ngục.
 
Họ như mẹ đã chối từ hạnh phúc
Của riêng mình để liên tục dấn thân,
Cất lên giùm tiếng nói của người dân,
Đem xương máu thắp dần từng ngọn đuốc.
 
Mẹ thầm hiểu, đây chỉ là mơ ước,
Nhưng nếu toàn dân vì nước một lòng
Chịu hy sinh để cứu vớt non sông,
Thì Cộng sản quyết sẽ không tồn tại.
 
Mẹ mong mỏi dân ta đừng ỷ lại,
Đất nước mình, mình phải tự thân lo.
Đừng cậy trông vào “thế giới tự do”,
Ai cũng chỉ bo bo quyền lợi họ.
 
Họ chỉ phán dăm ba câu này nọ
Để tuyên dương cùng cổ võ vu vơ.
Tội dân mình vẫn cứ mãi ngây thơ,
Ôm ảo vọng ngóng chờ hè đổ tuyết.
 
Thương con cháu ngày sau trên đất Việt,
Tìm cội nguồn nào biết hỏi nơi đâu.
Máu Rồng Tiên đã pha trộn khác màu,
Lịch sử cũng bị giặc Tàu viết lại.
 
Chung quy bởi lũ cầm quyền vô loại,
Mà chúng mình mãi mãi mất quê hương,
Người dân lành gánh chịu lắm đau thương,
Cả đất nước là một trường oan nghiệt.
 
Tổ quốc sẽ vẫn muôn đời bất diệt,
Dù giặc Tàu đem nước Việt xóa tên,
Nếu mọi người vẫn một dạ trung kiên,
Luôn nhớ đến công tổ tiên gầy dựng.
 
Nhưng đau đớn, dân đã quen hờ hững,
Biết bao giờ mới khứng chịu đứng lên,
Kẻ đêm ngày lo hưởng thụ triền miên,
Kẻ quên hết thời vượt biên khốn khó.
                         ***
Người buông bút, đèn mờ cay mắt đỏ,
Lời thánh ca về theo gió nấu nung,
Miệng lâm râm câu “Đêm Thánh Vô Cùng”,
Nỗi chua xót chợt bùng như lửa hạ.
Trần Văn Lương
 Cali, 12/2017

Thời gian còn lại

Khánh Hà

Hãy trân trọng thời gian còn lại

Một ngày, một tuần hay bao lâu

Chẳng biết lúc nào thì khép lại

Bỏ lại sau lưng thế giới  sầu

 

Đáng lẽ ra cuộc đời quá đẹp

Trời sanh ai cũng có nụ cuời

Nếu tặng nhau mỗi lần gặp mặt

Là cho nhau một món quà vui

 

Trong thiên nhiên bao nhiêu kỳ thú

Từ đóa hoa nhỏ bé bên đuờng

Đến khí trời, núi non, sông biển

Và khoảng không mầu nhiệm khôn luờng

 

Chung quanh ta tràn đầy ân sủng

Nếu mở lòng cảm nhận tình thuơng

Không tham cầu si mê vọng tuởng

Thế giới ta cả một thiên đuởng

 

Khánh Hà

Cái Chết Không Bình Yên  

Lê Văn Bỉnh

 

Một người sống còn

Sau biến cố với mấy mươi nhát dao đâm vào thân thể

Và một người sắp chết một cái chết không bình yên

Sau những năm dài bệnh hoạn triền miên

Ông thích chọn trường hợp nào

Vị học giả già châu Phi vui tính hỏi tôi khi ông nằm trên giường bệnh

 

Sống vẫn hơn

Tôi trả lời ngay bằng nghĩ suy chức nghiệp

Nhưng cũng chia xẻ

Về những tháng năm dài trải nghiệm trong các trại tù cải tạo quê nhà

Bốn mươi năm sau hồi tưởng

Vẫn còn đau đớn xót xa

Vâng ông bảo cái chết không bình yên không có gì đáng sợ

Chỉ  thương cho thân nhân nhìn nghĩ về mình

Hôm nay và ngày mai khi mình đã vắng bóng trên cõi đời này

 

Thượng Đế tạo tôi ra

Để làm đẹp vương quốc của Ngài

Ngài  may mắn nếu tôi đóng góp được điều hay

Và rủi ro khi tôi làm nhiều điều xấu

Ngài sẽ không màng về sự thiếu vắng của tôi

Là Một Nhà Giáo Dục Vĩ Đại

Ngài muốn con người luôn tư duy về những việc mình làm

Chúng ta còn biết làm gì hơn trong khi còn lây lất

Nhưng quả tình tôi không biết tôi suy nghĩ để làm gì

Hay chỉ  để chia xẻ một chút với ông và con cháu

Chưa bao giờ tôi muốn trở lại trần gian này thêm kiếp thứ hai

Cuộc sống con người chưa bao giờ dễ

 

Ông mỉm cười khi bắt tay tôi từ giả

Nụ cười thân thiện đó

Cái lạnh bàn tay ông

Đến hôm nay tôi còn giữ lại

 

Lê Văn Bỉnh