Giấc Mơ Trở Lại Đồi 29

Thơ Lê Văn Bỉnh

 

Đêm qua trong giấc mơ

Toàn thân tôi bừng nóng

Đau đau cổ họng

Ho khan rồi khó thở

Những đám vi khuẩn đỏ

Ồ ạt chui vào phổi

Hung hăng đào xới

Phá vỡ hàng vạn phế nan

Khi tôi sắp xỉu ngất

Bỗng cửa phòng mở bật

Mấy làn gió mát

Từ một đỉnh đồi xa

Thổi vào mũi miệng vô vàn hạt phấn hoa

Hai buồng phổi đầy dưỡng khí và thân tôi hồng hào trở lại

Chúng ta phải sống và tập hợp dưới chân đồi xưa

Tiếng vọng vang vang oai phong hiệu lệnh

***

Ngọn đồi đó chúng tôi từng dừng quân

Đóng lại một đêm

Đồi 29 ai dễ gì quên

Cao độ trùng tên với ngày cận cuối tháng Tư

Chúng tôi đã vội vã leo lên

Hì hục cuốc đào công sự

Những ụ súng to nhỏ bố trí sẵn sàng

Lệnh chờ đánh tập hậu

Đại quân địch sẽ qua thung lũng dưới chân đồi này

Nhưng sáng hôm sau

Khi mặt trời vừa lên cao

Chợt có lệnh đầu hàng

Chúng tôi bàng hoàng

Đắn đo do dự

Cả đơn vị tức tưởi gục đầu

Quân phục cởi ra giấu cùng súng đạn

Vào những hốc đá

Lần lượt bước xuống chân đồi

***

Vừa hồi sức tôi cùng đồng đội

Quay trở lại ngọn đồi xưa

Hoang vu u tịch

Những mái tóc bạc vờn bay trong gió

Những khuôn mặt nhăn nheo khắc khổ

Những bàn tay gầy guộc ốm o

Chúng tôi nhìn lên đồi

Nhạt nhòe nước mắt

Đồi 29 hôm nay sao cao quá

Những chướng ngại không thể vượt qua

Những bộ quân phuc kia ơi còn như xưa hay mục nát

Những khẩu súng kia ơi còn như xưa hay rỉ sét

Bốn mươi lăm năm háo hức chờ đợi

Còn lại đây hồn xác thẫn thờ

Đau xót

Lê Văn Bỉnh, ĐS 10

Virginia, tháng Tư 2020

Tháng tư, bức tường đá đen *

Hoài Ziang Duy

Tôi đứng nhìn em

Người thiếu phụ đứng ở bức tường đá đen

Có chồng chết ở chiến trường Việt nam

Mấy chục năm qua như lời em kể

Mỗi năm tháng tư

Hoa đào mở hội

Trên mặt phẳng đá đen cuộc đời trơ trụi

Năm mươi bảy ngàn chiến binh, quan, quân ghi dấu

Thấy lại tên chồng

Hồi ức chuyện năm xưa

Mấy mươi năm qua, lịch sử nhục vinh còn đó

Tên kề tên không phân biệt chức danh

Khi chết đi thân người nằm xuống

Cũng cầm bằng

Một nghĩa như nhau

 

Em trở về, tôi tháng tư đen

Tìm lại tên ai trên bức tường hồi ức

Tôi bâng khuâng lòng đêm canh thức

Xương máu đồng bào

Đồng đội tôi

Người lính vô danh

 

Đâu có bức tường nào ghi đủ chiến cuộc Việt Nam

Cả triệu người nhà tan phận nát

Sau chiến tranh, chiến binh người lưu lạc

Có còn đâu tổ quốc quay về

Dẫu hôm nay, cho cùng màu da mẫu hệ

Thấy sống còn

Đâu có nghĩa như nhau

 

Hỡi cô gái ở bức tường đá đen

Em dò lấy tên người thân quá cố

Có thấy tôi, mang tên người chết trước

Sử xanh kia sao buông bỏ nửa chừng

 

Không biết em nghĩ gì ở tháng tư

Tôi đứng đây vịn cành đào trĩu nặng

Bức tường đen, đứng ngoài xa thầm lặng

Vẫn thấy gần nước mất với khăn tang.

 

*( Bức tường tưởng niệm chiến tranh VN tại Washington D.C.)

Hoài Ziang Duy

(trích trong thi tập “ĐỨNG TỰA BÊN ĐỜI”, xuất bản tháng 4-2019)

Nếu Muốn Gửi Về

Thơ Trần Văn Lương

Dạo:

Người ơi, nếu muốn gửi về,

Thì xin gửi những gì quê hương cần.

Nếu Muốn Gửi Về

 

Hỡi người bạn vượt biên từ năm ấy,

Được Trời thương cho trẩy bước tới nơi,

Tạ ơn người dù đang sống thảnh thơi,

Vẫn nhớ đến những mảnh đời kẹt lại.

 

Bạn bối rối, ngập ngừng, băn khoăn mãi,

Muốn hỏi tôi, nếu hải ngoại có lòng,

Phải gửi gì về để giúp non sông,

Tôi xin được có đôi dòng suy nghĩ.

                        ***

Xin đừng gửi về những đồ xa xỉ,

Những món hàng mang hiệu Ý, hiệu Tây,

Người dân đen ăn không đủ mỗi ngày,

Làm sao dám mơ mòng hay ngấm nghé.

 

Xin đừng gửi về bên đây ngoại tệ,

Sẽ vào tay bọn đồ tể bưng biền,

Còn dân đen chỉ được phép dùng tiền

Mà bọn chúng có quyền in tùy tiện.

 

Xin đừng gửi những “phái đoàn từ thiện”,

Ồn ào về “ban phúc”, tiện mua danh,

Chỉ béo cho lũ giặc có quyền hành,

Vì có kẻ nuôi dân lành thay chúng.

 

Xin đừng gửi lũ con buôn lợi dụng,

Đem đô la về lũng đoạn thị trường,

Làm giàu cùng đám cán bộ bất lương,

Mặc dân Việt trơ xương nằm ngắc ngoải.

 

Xin đừng gửi bầy “xướng ca vô loại”,

Chúng giờ đây ở hải ngoại hết thời,

Bèn trở về kiếm chác chút tiền tươi,

Nên nịnh nọt, nói những lời trâng tráo.

 

Xin đừng gửi nhóm người ham danh hão,

Được bạo quyền bốc láo tận trời cao,

Nên quay về, quên khổ nhục năm nao,

Ra mắt sách xong ồn ào họp báo.

 

Xin đừng gửi những tấm thân già lão,

Lận tiền còm, diện áo gấm xênh xang,

Về cả đàn tìm cưới dọc cưới ngang

Những thiếu nữ tuổi đáng hàng con cháu.

                                ***

Nhưng hãy gửi điều bạo quyền muốn giấu,

Để toàn dân được thấu hiểu rõ ràng

Ai là người làm đất mẹ tan hoang,

Ai là kẻ đã và đang bán nước.

 

Xin hãy gửi về quê hương kiến thức

Của người dân một đất nước tự do,

Biết đòi quyền được hạnh phúc ấm no,

Giúp vạch mặt bầy Cộng nô ác đức.

 

Nhưng trên hết xin gửi về tin tức,

Mà chúng tôi hằng háo hức muốn nghe:

– Rằng những người đang vất vưởng xa quê,

Vẫn còn giữ lời thề khi bỏ xứ;

 

– Rằng tuy sống nương nhờ nơi lữ thứ,

Lá Cờ Vàng vẫn rạng rỡ tung bay,

Vẫn được người tỵ nạn giữ trên tay,

Khắp các chốn vẫn đêm ngày hiện diện;

 

– Rằng khi có những chương trình thắp nến,

Dù xa xôi người vẫn đến thật đông,

Muôn câu ca, vạn ánh lửa một lòng,

Cùng nhớ tới thời biển Đông lận đận;

 

– Rằng đời sống dù muôn ngàn thứ bận,

Chẳng ai quên ngày Quốc Hận đau thương,

Người mang danh tỵ nạn vẫn xuống đường

Điểm mặt lũ gây nên trường đại họa;

 

– Rằng người Việt vẫn giữ gìn văn hóa,

Dù đêm ngày vất vả nẻo tha phương,

Vẫn không hề quên truyền thống quê hương,

Vẫn hành động đúng luân thường đạo lý;

 

– Rằng tiếng Việt được bảo tồn thật kỹ,

Không học đòi lũ khỉ ở bên kia,

Cứ “từ” này, “cụm từ” nọ tía lia,

Hết “tản mạn” lại “cực kỳ” “bức xúc”;

 

– Rằng ngọn lửa vẫn được truyền liên tục

Trong chương trình giáo dục thế hệ sau,

Để con em biết được bởi vì đâu

Cha mẹ chúng phải ôm sầu ly biệt;

 

– Rằng đất khách, người lưu vong gốc Việt,

Bao năm rồi vẫn đoàn kết trước sau,

Chẳng bao giờ khích bác tấn công nhau,

Chung vai gánh nỗi buồn đau mất nước.

                             ***

Nhưng chua xót, đó chỉ là mơ ước,

Những điều này thực tế được bao nhiêu.

Lòng người nay đã thay đổi quá nhiều,

Vì danh lợi nên sớm chiều trở mặt.

 

Dân trong nước thờ ơ không thắc mắc,

Kẻ ngoài về rặt nhắm mắt ăn chơi.

Đâu phải chỉ tại Trời,

Mà nước mất vào tay loài dị tộc.

Trần Văn Lương (CH8)

Cali, mùa Quốc Hận 2020

 

Chào người đội nón

Thơ Hoài Ziang Duy

Chào em anh giở nón ra
Chào nhân gian xuống định ra duyên phần
Ở đây một chốn phân thân
Đằng kía xóm vắng đâu cần hỏi han
Lệ làng cứ phải gặp quan
Cúi đầu vâng dạ bắt quàng kết thân
Còn thương tỏ dạ ân cần
Nắng kia sáng tỏ mãn phần đưa xa

Chào em anh bước vô nhà
Có ngôi chủ thứ trông ra khứ hồi
Đếm qua cây cảnh núi đồi
Mây kia bay khuất chỗ ngồi đổi thay
Nghĩa thời tình dụng hai tay
Rừng kia thêm lá gỗ thay một màu

Chào em anh đội nón vào
Phòng khi trời nắng ba đào quàng xiên
Đôi khi bước lạc đảo điên
Giả, chân, có lúc thánh hiền dột mưa
Nón theo thế cuộc thời xưa
Cần khi đem xuống, đong đưa, đội vào.

Hoài Ziang Duy

Chim Hồng Yến Sẽ Bay Lượn Đâu Đây

Thơ Lê Văn Bỉnh

Tháng Chín này em có về đây hội ngộ
Chim hồng yến* sẽ bay lượn đón em
Cất tiếng hót hân hoan chào thêm một lần gặp gỡ
Ai sẽ ra phi trường
Hồi hộp đón em
Bảng số xe có thể làm em ít nhiều bối rối
Xin hãy bỏ qua cho sự tình cờ
“Virginia is for lovers” **
Nếu hàng chữ này chỉ dành riêng cho “chúng mình” trong phút giây ngắn ngủi
Cũng là hạnh phúc anh hằng mơ ước
Có một thời không thể nào bày tỏ được

***
Tháng Chín này bạn có về đây hội ngộ
Cùng nâng ly rượu vang đỏ địa phương
Cho một chút ấm lòng
Thêm vài ly dành cho bạn bè vắng bóng
Một phút trầm tư kẻ trước người sau
Có một thời chúng mình say sưa lý tưởng
Háo hức tung cánh bay về các tỉnh quận xa xôi
Tuổi trẻ kia những toan đội đá vá trời
Rồi một hôm bầu trời sụp đổ
Mộng cao cao ảo ảnh phù du
Kẻ vào tù
Người phiêu bạt trên những xứ lạnh tuyết băng

***
Gánh nặng cuộc đời đôi vai em trỉu xuống
Những lo toan đất lạ trán bạn nhăn nheo
Bụi thời gian chúng ta giủ phủi cho nhau
Tất cả như sẽ qua mau thật mau
Khi những tia mắt ấm đan nhau biển đời sẽ lặng

***

Tháng Chín này em có về đây hội ngộ
Tháng Chín này bạn có về đây gặp gỡ
Gíó mùa thu thủa ban sơ nhắc nhở
Gió mùa thu giấc mộng cũ lại đong đầy
Chim hồng yến sẽ bay lượn đâu đây
Hót chào những tấm lòng
Vẫn với nhau như những ngày xưa ấy

Lê Văn Bỉnh

Tháng 6/2019

*Cardinal, con chim biểu tượng cho tiểu bang Virginia
** DMV design, trên hầu hết các bảng số xe tiểu bang Virginia

Tháng Tư Buồn

THƠ Út Cai Lậy *

Bốn bốn năm dân vẫn còn thống khổ
Từ ngày buồn của tháng mất Quê tôi
Tên Sài Gòn chỉ tạm thế tên thôi
Vẫn sống mãi trong lòng dân nước Việt
Bỏ nước ra đi lòng buồn tha thiết
Nhớ gia đình nhớ phố cũ trường xưa
Nhớ con đường vào những buổi chiều mưa
Tiếng mì gõ tiếng rao hàng phố vắng
Rồi lại nhớ những trưa hè rực nắng
Phượng sân trường nhắc nhở đến mùa thi
Lệnh động viên các Anh bước chân đi
Theo tiếng gọi núi sông xa bạn cũ
Ghi tên tòng quân sống đời quân ngũ
Xếp bút nghiên bỏ mộng ước tương lai
Ngoài sa trường chiến đấu thật hăng say
Mong đất nước thanh bình dân no ấm

Chốn địa đầu Tết không hoa tươi thắm
Pháo đì đùng thay bởi ánh hỏa châu
Mẹ và cha đã thức suốt canh thâu
Đêm trừ tịch vắng con lau nước mắt

Anh lính trẻ nhớ nhà lòng đau thắt
Mong thanh bình sớm trở lại như xưa
Cuối tháng tư trời vần vũ cơn mưa
Báo hiệu trước một tương lai đen tối

Hãy vùng lên thế hệ đang tiếp nối
Nắm tay nhau cùng “phất ngọn cờ vàng”
Để dân mình thoát khỏi cảnh lầm than
Sống Hạnh phúc An lành trên đất Mẹ

Út Cai Lậy

* Út Cai Lậy là bút danh của hiền thê anh Lê Phước Ninh ĐS16

Cầu Xưa

THƠ Lê Văn Bỉnh

Cầu xưa đã gẫy bao năm trước
Người ở bên kia kẻ bên này
Thương nhớ chờn vờn sâu đáy nước
Huynh đệ lờ mờ khói sóng bay

Tôi đi lặng lẽ người thua cuộc
Cuộc chiến đạn bom máu mặn môi
Cuộc tình trai trẻ tim đau buốt
Đành đứng chơ vơ một góc trời

Nhiều khi mơ thấy người năm cũ
Không còn dao động thủa ban xưa
Đôi lúc nghe người thù quá khứ
Một lời chào thôi ngại dối lừa

Em nói tôi nay là kẻ khác
Tôi biết mình kẻ thật vô tình
Anh bảo tôi xa lơ xa lắc
Tôi hiểu mình trong cuộc hành trình

Kẻ thua cuộc một người đã hết
Chết tình yêu lịm cả tình người
Chỉ sống lại bạn bè mỏi mệt
Trong xót xa may thấy nụ cười.

Tôi soát lại những gì còn mất
Có một thời tôi đã nên người
Rồi sau đó lìa xa Cõi Thực
Mất cội nguồn hồn xác tả tơi

Tôi tò mò thêm câu ngắn ngủi
Hỏi cầu xưa xây lại hay chưa
Ai lại muốn suốt đời thui thủi
Sang bên kia … đôi lúc mong chờ

Lê Văn Bỉnh

Tháng Tư 2019

Thơ cho ngày sau, có người tìm thấy

Hoài Ziang Duy

Tôi viết bài thơ cho năm tháng sau nầy
Cho chính chúng ta
Những người nằm xuống
Không còn chứng nhân trong câu chuyện kể
Khi quá khứ trôi xuôi
Thời gian bước tới
Là những lãng quên
Ở năm, ở tháng, ở tuổi chất chồng
Cuộc sống nuôi thân

Thế hệ con trẻ rồi sẽ hỏi nhau
Việt Nam tôi đâu?
Sao thân phiêu bạt?
Xa lấy cội nguồn ngút ngàn trùng lấp
Xa lấy tình xa, xứ người lưu lạc

Làm sao nhắc nhớ
Từng đoàn người bỏ nước ra đi
Trên những chuyến bay, chuyến tàu ra khơi ngày cuối
Ba mươi tháng tư năm một chín bảy lăm
Một ngày chung cuộc tan hàng
Miền Nam Việt Nam

Rồi đời sau không thể nào quên
Như cơn lốc cuốn đi
Như tiếng thét rền thảm nạn
Như câu ai oán động lòng
Cả thế giới mở rộng vòng tay
Cứu vớt triệu người tìm đường vượt thoát

Sống còn không biết về đâu
Biển muôn trùng, sóng gíó ngàn khơi
Hãi hùng cho lần vĩnh biệt
Phận người đánh đổi
Hãm hiếp, phơi thây
Cái giá hy sinh phải trả cho hai tiếng
Tự do

Cũng từ đó định kiếp người Việt lưu vong
Khắp cùng thế giới

Rồi một ngày, như thể ngày sau
Con lớn lên lập thân nơi xứ người,
Nói tiếng mẹ đẻ đất nước cưu mang
Như sự thể tình cờ
Đọc lấy bài thơ nầy, hiểu lấy
Đất nước Việt Nam với hai chủ nghĩa
Hai miền Nam Bắc phân tranh
Hai mươi mốt năm cuộc chiến tương tàn
Hơn hai triệu người nằm xuống
Hiểu lấy cuộc cờ thất bại năm xưa
Cái giá hy sinh đành thôi ở dân tộc nhược tiểu
Cho bàn cờ sự thế

Ranh giới đồng minh là sự bội phản
Xoá đi sanh linh một dân tộc
Đổi dời mệnh nước
Tiếng oán hờn đeo đẳng
Sao thể nào yên!

Ra đi là chắc không về nữa
Ngóng về quê mẹ thẳm ngàn khơi
Nhắn dùm tôi câu nói nửa lời
Khi nước mắt khóc trời chưa muốn sáng

Sống hôm nay không còn bên lửa đạn
Một kiếp người không có Tổ quốc lâm chung
Tôi là ai?
Lẫn trong dòng dân Việt.
Sao không có chính danh
Thân phận mình

Là ai?
Để nói lời thương tưởng
Thế giới nầy không có đồng minh gần gũi
Không có kẻ thù trước mặt sau lưng
Không là ai, mới nhận ra chính mình?
Từ máu xương dân tộc
Từ mộ phần
Cha ông nằm xuống

Bài thơ nầy được viết từ người bỏ nước ra đi
Mang theo một trang sử buồn
Chữ nghĩa sống còn hôm nay
Đau lấy nỗi đau
Nói lại một thời khuất bóng
Chuyện cũ. Đã xa
Chỉ gần hơn
Cổ tích.

Hoài Ziang Duy

(trích thi tập “ĐỨNG TỰA BÊN ĐỜI, xuất bản tháng 4/2019)