Dịch COVID-19 Với Suy Nghĩ Của Tuổi Già

Phạm Thành Châu

Biết bạn đang trải qua một thời gian dài tự cô lập trong lo lắng và buồn bực vì nạn Covid-19, tôi sẽ viết linh tinh “đủ thứ bà rằng” và cố gắng thêm thắt sao cho bạn nằm trong chăn, vừa hưởng cái thú gây gây lạnh của mùa thu vừa mĩm cười với những dòng chữ lẩm cẩm nầy. Tuy chẳng nghiêm trang, nhưng cũng được “một vài trống canh”.

Từ tháng 3 năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát khắp thế giới. Tử thần Covid khởi hành từ thành phố Vũ Hán bên Tàu. Đó là một trong những thứ vũ khí sinh hóa, giết người tàn độc nhất mà tất cả các quốc gia, từ văn minh đến chậm tiến đều bó tay chịu chết. Nó tàn sát, đa số là những người lớn tuổi. Đã già mà còn thêm bịnh nền (có sẵn) trong người thì lưỡi hái của nó vung lên lấy mạng trong chớp mắt. Người lớn tuổi khiếp vía. Họ không dám ra đường, không dám tiếp xúc với ai. Có một bà già sợ đến nỗi không đi chợ, không lấy thức ăn mà bạn bè, con cháu để trước cửa, sợ vi rút dính ở bao bì, nên cứ để đó suốt mấy ngày, hàng xóm thấy lạ, gọi cảnh sát. Hóa ra bà ta gần chết vì đói. Chưa bao giờ người lớn tuổi nhìn thấy rõ cái chết của người khác (cỡ tuổi mình) bằng lúc nầy. Bạn bè, thân quyến chết hằng ngày, chết liệt địa! Tuần trước, ông X. mới gọi nói chuyện, hôm qua đã nghe “đi” rồi. Ông K. mình mới đến nhà thăm hôm kia, thấy vẫn mạnh khỏe, cười nói vui vẻ, vậy mà vừa nghe, đã được đưa vô bịnh viện, thở Oxy. Giở tờ báo, mấy trang sau đầy cáo phó với chia buồn. Tính đến hôm nay (thời điểm tháng 9 năm 2020) trên thế giới, đã có gần 30 triệu người nhiễm Covid-19 với gần 1 triệu người chết. Bịnh dịch đã giết hơn 7,000 bác sĩ, y tá, y công, là những người làm công tác chống đỡ, cứu chữa người bị lây nhiễm. Riêng nước Mỹ, số người nhiễm dịch Covid-19 gần 7 triệu người và số người chết đã trên 200 nghìn. Điều buồn cười là một quan chức y tế hàng đầu của Canada, Therese Tam khuyên mọi người không hôn và cần đeo “khẩu trang?” (che miệng lại!) khi quan hệ tình dục để bảo vệ bản thân khỏi virus corona.

Sau đây là những suy nghĩ vụn vặt của một người lớn tuổi, đang bị Cô (tên) Vít ám ảnh trong đầu. Như người lính ra trận, trước kẻ thù mà run sợ thì có mà bỏ mạng sớm. Nhưng kẻ thù thì có thể thấy được, chứ với cái “Cô Vít-19” nầy thì dung nhan chỉ thấp thoáng trong kính hiển vi điện tử với hình chụp như trái banh có gai màu sắc sáng chói, thấy đã lạnh người. Cá nhân tôi,  “thí mạng cùi”, cứ nhởn nhơ khắp nơi, cà phê, cà pháo với bạn bè mà vẫn bình yên vô sự. Mà giả sử như thình lình Cô Vít-19 (tuổi) nhảy đến ôm chầm lấy tôi thì sao? Sao trăng gì! Sống đến tuổi nầy, trên bảy mươi, quá đủ rồi, Còn gì phải lưu luyến chốn trần ai nầy nữa? Đời chỉ là vở hài kịch mà tôi là tên hề giễu dỡ, hạ màn thì vừa. Nhưng, cũng giống như trong tuồng cải lương, Nhân vật sắp chết mà vẫn ngóc đầu ca đủ sáu câu vọng cổ mới chịu tắt thở. Tôi cũng vậy, nhưng chỉ nói chuyện vui thôi vì “Khóc lóc, rên rỉ là hèn nhát”.

Mỗi người, sinh ra đời có ba giai đoạn. Giai đoạn đầu, “tin” có ông già Noel (Santa Claus), giai đoạn kế tiếp là “không tin” có ông già Noel và giai đoạn cuối cùng là “làm” ông già Noel. Giai đoạn đầu, trẻ con, ăn chơi và học hành, không có gì đáng nói. Đoạn giữa mới nhiều chuyện rắc rối cuộc đời, mà cái rắc rối nhất là tình yêu, rồi  tiến đến hôn nhân (lập gia đình), có cặp  chia tay (ly dị) và cuối cùng kéo nhau chui xuống đất (xuống “âm phủ!).

Xin nói chuyện tình yêu trước. Yêu ai phải tìm cách cho người ta biết. Người ta yêu lại mình mới ngỏ lời xin cầm bàn tay tức là cầu hôn. Mà muốn cầu hôn phải làm gì? Quì xuống dưới chân người đẹp với bó hoa hoặc với chiếc nhẫn hột xoàn. Khi người đẹp đã khoái mình thì dù nói “ba hoa thiên địa” gì nàng cũng gật đầu. Ngược lại người ta không ưng mà mình cứ lải nhải thì coi chừng ăn guốc lên đầu. Có vài màn cầu hôn đáng chú ý như sau.

Ngày 8 tháng 3, 2020, một cậu ở đường Abbeydale, nam Yorkshire, nước Anh, sửa soạn một buổi tối long trọng gồm hàng trăm ngọn nến được thắp lên, rượu, bong bóng bay và thức ăn bày lên bàn rồi vội vã lên xe đi đón người yêu. Lúc quay về thì căn nhà đang cháy tưng bừng với ba xe cứu hỏa đang xịt nước vào đám cháy một cách tuyệt vọng. Người đẹp khoái quá, nhận ngay lời cầu hôn của cậu ta trước đống tro tàn. Chả cần, hoa lá, đèn đóm phiền phức.

Một chuyện khác. Cậu Jérémy đưa người đẹp Athina Yalias vào công viên quốc gia Kruger, Nam Phi. Đến một nơi vắng vẻ, rậm rạp, cậu Jérémy quì xuống, thiết tha ngỏ lời yêu thương. Người đẹp cảm động, cúi xuống, hôn lên trán cậu ta. Thình lình, một con nhện có nọc cực độc tanratula, chích cho cậu ta một phát vào mông đít. Cậu Jérémy hét lên đau đớn, người đẹp cũng suýt ngất xiu vì lo sợ. Cũng may, con nhện không chích vào “điểm chiến lược” nên cậu vẫn là vợ chồng được như thường.

Một cậu khác, có sáng kiến lặn xuống nước, ngỏ lời cầu hôn với người đẹp đang đứng trên cầu nhìn xuống, lắng nghe. Cậu nói cách nào mà nước tràn vào họng và cậu chết đuối. Kính lạy ngài Allah! Xin ngài nhận cậu ta lên thiên đường và tặng cho cậu bảy (7) nàng trinh nữ kẻo tội nghiệp.

Rồi đến chuyện gia đình. Có mấy ông thần ve chai ngồi nhậu, gật gù với nhau. Một ông đề nghị, mọi người thử gửi tin nhắn (message) bằng điện thoại về cho vợ câu “Anh yêu em” để xem các bà trả lời ra sao? Bà vợ 20 tuổi trả lời “Em cũng yêu anh” Bà 30 tuổi “Xỉn rồi phải không?” Bà 40 tuổi “Ông điên rồi hả?” Bà 50 tuổi “Ông gửi lộn cho con đĩ chó nào hở? Về đây, bà thiến tận gốc cho biết tay bà”                            

Sống với nhau qua thời gian, làm gì cũng xảy ra chuyện “Ông ăn chả, bà ăn nem”, nghĩa là ngoại tình. Đã là vợ chồng mà còn ngoại tình thì gia đình trở thành địa ngục. Khi một người ngoại tình cũng giống như cây đinh đã đóng vào tường. Cây đinh có được nhổ đi nhưng cái lỗ đinh vẫn còn đấy. Nó ám ảnh suốt đời sống vợ chồng. Nhiều khi cố quên để hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng đã thật sự nguội lạnh, thấy ghê tởm, hết phương cứu chữa, đành sống với nhau như đóng kịch, coi như bạn “share” phòng. Hiếm có những cặp vợ chồng lớn tuổi sống hòa hợp bên nhau tuy người ngoài nhìn vào tưởng như họ đang hạnh phúc, vì trải qua bao nhiêu năm, làm gì cũng có lúc họ vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (nghĩa vụ đồng cư, chung thủy). Với người Âu, Mỹ, hễ có xích mích nhỏ là họ chia tay. Người Việt thường vì sĩ diện, vì con cái, vì xã hội mà miễn cưỡng chịu đựng nhau “Ở chung với người nghịch như nếm mật nằm gai” Không gì khổ sở bằng sống dưới một nhà mà hằng ngày phải nhìn thấy mặt người mà mình không dám nhìn. Có mấy ông già ngồi uống cà phê. Một ông hỏi các bạn “Ở tuổi gần đất xa trời. các ông ghét nhất là điều gì?” Người thì nói “Cái mặt lầm lì của mụ vợ khi có chuyện không vừa ý. Nó như người câm, miệng như dán băng keo” Người khác “Vợ tôi mở miệng ra là gầm gừ như sủa. Hỏi nó thì nó hỏi ngược lại. Nó cũng có học mà không hiểu sao càng ngày nó càng hỗn hào, mất dạy. Tôi là chồng nó mà nó nạt tôi như đứa ở”  Ông khác “Mình già rồi, đâu thiết chuyện lăng nhăng. Vậy mà cứ ghen bóng ghen gió. Hết chuyện mới lại đem chuyện xưa rích ra kể lễ, đay nghiến. Ước gì được như mấy ông độc thân. Sống không có vợ sung sướng như đang ở trên thiên đàng”. Báo chí thường đăng chuyện nhiều ông chồng sợ vợ đến nỗi phải vào nhà băng cướp tiền rồi ngồi chờ cảnh sát đến bắt đi. Hỏi tại sao? Ông ta bảo, mong được ở tù còn hơn là phải về nhà nhìn thấy mặt bà vợ. Muốn “thoát ly” khỏi tay bà vợ đâu phải chuyện dễ. Trốn đi dâu mà không bị “dẫn độ” về nhà? Ăn uống, sinh hoạt ra sao? Ai săn sóc khi bịnh hoạn? Chỉ có nhà tù là tốt nhất. (xin lưu ý. Tốn kém mỗi năm để giam giữ một tù nhân ở Mỹ là trên ba mươi nghìn USD, thời giá năm 2000)

Bây giờ nói qua chuyện ly dị. Ở Việt Nam ta, ngày xưa, có luật “Thất Xuất” (7 lý do chồng đuổi vợ ra khỏi nhà)

1- Tuyệt tự. Không con trai nối dõi tông đường.

2- Dâm dật (không chung thủy)

3- Không thờ cha mẹ chồng.

4- Lắm điều (chua ngoa, khiến người khác khó chịu).

5- Trộm cắp.

6- Ghen tuông vô cớ.

7- Có ác tật (bịnh tật, không đảm đương được việc nhà, có thể truyền bịnh cho người nhà, con cái)

Xem ra, người chồng, chỉ cần viện cớ mơ hồ (điều 4, điều 6) là có thể tống xuất vợ ra khỏi nhà. Tuy nhiên, cũng có luật “Tam Bất Khả Xuất” để bảo vệ người đàn bà dù người vợ phạm “Thất Xuất”.

1- Người vợ đã từng để tang cha mẹ chồng trong ba năm.

2- Trước nghèo, sau giàu (người vợ đã góp công sức vào gia đình nhà chồng)

3- Không còn chỗ nương thân (thông thường, chồng trả vợ về bên nhà vợ. Nếu cha mẹ vợ không còn thì không được đuổi vợ)

Tôi không thấy luật cho vợ được phép bỏ chồng?! Luật xưa, coi cho biết, chứ thời bây giờ, không ưa nhau, thì lôi nhau ra tòa xin li dị mà không cần nêu lí do. “Anh đi đường anh, tôi đường tôi…” Ly hôn chớp nhoáng được luật Hồi giáo chấp nhận. Người chồng chỉ nói, (có thể gọi điện thoại) 3 lần, 2 tiếng “Galak” (ly hôn) là coi như đã ly hôn (Xin báo một tin vui. Tôi đã theo đạo Hồi sáng nay. Chiều nay tôi sẽ về nói với vợ tôi “Galak. Galak. Galak!” Hê Hê Hê!)

Sau đây là một vài lý do (vui) khiến vợ chồng đưa nhau ra tòa. Một bà vợ đòi li dị ông chồng vì “Ông ta cứ gài ngược cuộn giấy vệ sinh khiến tôi bực mình hết sức”. Một bà vợ phát hiện chồng dẫn gái về nhà trong lúc bà ta đi vắng, vì con vẹt cứ nói “Vào nhà đi em. Anh nhớ em, thèm em quá!” Một bà khác thưa chồng vì tội phỉ báng “Hắn nói tôi là con khỉ già” Quan tòa hỏi “Ông ta nói như thế với bà từ khi nào?”Cách nay 20 năm” “Sao bây giờ bà mới thưa ông ta ra tòa?” “Tuần trước tôi đi sở thú mới thấy rõ con khỉ già nó như thế nào” Một bà khác đưa chồng ra tòa vì nói nhiều quá, chịu hết nỗi, quan tòa hỏi lý do, ông chồng trình bày sự việc suốt bốn tiếng đồng hồ khiến quan tòa cũng phải phát khùng! Một bà khác thưa với quan tòa “Buổi sáng, tôi chiên trứng cho thằng chả ăn thì hắn nói “Sao không làm ốp-la?”(chiên hơi sống). Bữa sau tôi làm ốp-la, thằng chả lại hòi “Sao không chiên trứng mà làm ốp-la?” Bữa sau nữa tôi làm ốp-la một trứng, chiên một trứng khác. Thằng chả lại nói “Trứng chiên thì làm ốp-la, trứng ôp-la thì lại đem chiên. Ai ăn cho được?”                                                                                                          

Vậy thì vợ là người như thế nào? Một ông bố nhận được thiệp hồng (thư mời đám cưới)  của con trai, ông ta trả lời thư như sau. “Một số người nói. Khi hai người kết hôn, họ trở thành những người thân. Nhưng bố muốn nói với con rằng. Cho dù con kết hôn bao nhiêu năm, con phải nhớ. Cha mẹ, con cái mới là người thân, còn vợ chỉ là người yêu. Vợ con không phải là người thân của con. Con có thể la lối, hờn trách bố mẹ vì bố mẹ là người sinh ra con. Mối liên hệ nầy không thể chối bỏ được, nhưng vợ thì không. Quan hệ với cô ấy là hai bên cùng có lợi. Nếu con phạm lỗi, cô ấy có thể rời con bất cứ lúc nào” (và thành vợ người khác)

Nói vậy tôi không có ý đánh giá thấp tình vợ chồng. Người Á Đông như người Việt, nhất là vùng thôn quê, hiếm có chuyện vợ chồng bỏ nhau. Họ yêu  thương nhau cho đến trọn đời. (Ngày xưa, vợ gian dâm với người không phải chồng mình thì bị gọt đầu, bôi vôi, đóng bè cho trôi sông, không ai dám cứu). Ở hải ngoại, vợ chồng sống giữa xã hội văn minh với người bản xứ, ngôn ngữ bất đồng, như người câm điếc, cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng nên vợ chồng phải nương tựa, che chở cho nhau, tình nghĩa vợ chồng càng trở nên sâu đậm. Thế nên khi đôi vợ chồng già mà một người từ giả cõi đời thì người kia đau khổ, nhớ nhung dẫn đến suy sụp cả tinh thần lẫn thể chất. Người đàn ông chịu đựng mất mát tình cảm kém hơn đàn bà nên thường gục ngã rất nhanh sau khi vợ chết.

Có vài chuyện kể, khiến ta cảm động.

Cụ ông John Wilson 92 tuổi, cụ bà Marjorie 88 tuổi sống bên nhau gần 62 năm. Cụ bà bị bịnh phải vào nằm nhà thương Queen Hospital Burton ở Staffordshire, nước Anh. Rồi cụ ông mắc bịnh ung thư giai đoạn cuối phải vào cùng bịnh viện. Lúc đó cụ bà bịnh đã ổn định sẽ được đưa về nhà dưỡng lão. Nhận thấy, có thể hai người sẽ không còn dịp gặp nhau, bịnh viện sắp xếp hai giường của hai cụ gần nhau. Cụ ông nắm tay cụ bà, nói lời vĩnh biệt rồi mỉm cười, nhắm mắt đi vào cõi hư vô.

Đôi vợ chồng đều mù. Ngày cưới về, chồng nắm tay vợ dẫn đi khắp nhà cho vợ quen biết mọi vật. Nay cả hai đã gần tám mươi tuổi. Chồng làm nghề thổi kèn đám cưới, lúc nào cũng nắm tay vợ, dẫn theo, coi như thổi kèn cho vợ nghe “Trăm con phượng hoàng”, “Niềm vui đầy nhà”. Trong đám đông lao xao tiếng cười nói, chỉ cần nghe tiếng gọi nho nhỏ, chỉ cần nghe hơi thở, họ cũng tìm thấy nhau. Một lần, chồng ngã gãy chân, phải nằm bệnh viện. Vợ bốn ngày không ăn hạt cơm. Không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà không còn hồn vía nào nữa.

Bây giờ đến “Cái vấn đề” mà các cụ ông, cụ bà quan tâm, lo lắng. Đó là cái Chết.

Đứa bé, vừa lọt lòng mẹ đã chào đời bằng tiếng khóc “Oe oe!”. Trần có vui sao chẳng cười khì? Lớn chút nữa, chập chửng biết đi. Bước đi đầu tiên cũng là bước tiến đến bức tường trước mặt. Bức tường vô hình nhưng không người nào, kể cả vua chúa hay thánh nhân có thể vượt qua. Đó là cái Chết.

Nhưng chết là hết hay còn gì xảy ra?

Lai như lưu thủy hề, thệ như phong.

Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung.

(Đến như nước chảy, như gió thoảng.

Không biết ta từ đâu đến, rồi về đâu?)

Nếu người có linh hồn thì khi chết, hồn đi đâu? Lang thang trong cõi âm tăm tối, mịt mù, không thấy đường đi, không có lối về, bơ vơ, trơ trọi. Ai? Có ân nhân nào ra tay cứu vớt, đưa đường, dẫn lối cho linh hồn về với ánh sáng, thoát khỏi trầm luân? Thế là các triết gia, các ngài giáo chủ các tôn giáo đứng ra giải thích, rằng có những thế giới khác. Nó ở “trên cao” là thiên đường, nát bàn, cõi tiên… sướng lắm! Nó ở “dưới” địa ngục, hỏa ngục, âm phủ… đau đớn, khổ sở?

Triết gia Epicure (341-270 tcn) viết “Ta không sợ chết. Nó chẳng là gì đối với ta cả, vì khi ta sống, nó chưa có, đến khi nó có mặt thì ta không còn tồn tại”. Phái Khắc Kỷ, đặc biệt là Senèque và Epitète, lại có một lý luận khác để chiến thắng nỗi sợ chết. Họ coi sự chết là một tất yếu của thiên nhiên. Con người là một phần của thiên nhiên. Thiên nhiên có lý tính và con người tham dự vào lý tính ấy. Với cái chết, cá nhân sẽ tan biến, nhưng thiên nhiên là cái toàn thể vẫn tồn tại. Vì thế ta hãy chấp nhận cái chết như một “tất yếu theo định luật thiên nhiên”.

Đa số những lời giải thích của các tôn giáo thường siêu hình và áp đặt. Tôi không có thẩm quyền trên tôn giáo nên chỉ trích đăng một vài đoạn ngắn về phát biểu của các tín đồ của tôn giáo họ.

Trước hết là bài viết vui của luật sư Nguyễn văn Chức, một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ông tưởng tượng, sau khi mình chết, linh hồn mình sẽ “sinh hoạt” như sau. (bài của vip kk)… Sau khi đi thăm một vài nơi ở thế giới của Dante, tôi được đưa ra trước tòa phán xét của Thượng Đế. Tôi là người Công Giáo, tôi phải trả lời về tất cả những hành vi và ý nghĩ của tôi lúc còn sống. Ôi “ngày của thịnh nộ” (Dies irae, dies illa). Nếu linh hồn tôi có tội trọng (mortal sin), tôi sẽ phải xuống hỏa ngục, chịu lửa thiêu đốt đời đời. Nếu linh hồn tôi không có tội trọng và trong trắng như gương, tôi sẽ được lên Thiên Đàng ngay lập tức. Nhưng nếu linh hồn tôi, tuy không có tội trọng, nhưng không trong sáng như gương, nghĩa là còn lợn cợn bụi trần, thì tôi sẽ đi đâu? Tôi sẽ phải xuống ngục luyện tội (purgatory) một thời gian để lửa đốt con người tôi cho sạch những lợn cợn, và sau đó tôi mới được lên Thiên Đàng. Thời gian ở luyện tội, có thể là 10 năm, 20 năm, 50 năm . . . Tùy trường hợp nặng nhẹ. Mà tôi thì như cụ đã biết, nhiều lợn cợn lắm, thể xác cũng như tâm hồn. Có lẽ phải ở luyện tội cả mấy trăm năm.   Tôi được đưa đến tòa phán xét. Chưa đầy 5 phút, có tiếng loa. “Ai có vợ, và đã sống với vợ từ 30 năm trở lên, hãy đứng sang bên phải.” Tôi lễ mễ chạy theo tiếng loa, đứng sang bên phải. Đông lắm, người nào trông cũng thiểu não quá sức. Hai phút sau, có tiếng vọng từ trời cao: “Các con yêu mến, lúc còn sống, các con có vợ và đã ở với vợ trên 30 năm, như thế các con được coi như đã ở luyện tội cả mấy trăm năm rồi, các con sạch mọi tội lỗi và đáng được lên Thiên Đàng ngay lập tức để hưởng Thiên Nhan Chúa”. Mọi người đều hoan hô. Một ông già Mỹ móm mém, phều phào “All right!”. Tôi cũng phều phào “All right!”.                                              

Sự chết đối với người Hồi giáo.  Theo Qur an: Thiên Chúa định trước thời điểm một người chết trước khi được sinh ra. Không ai có thể đẩy nhanh hoặc trì hoãn cái chết của chính mình hoặc cái chết của người khác nếu điều ấy trái với ý muốn của Thiên Chúa, bất kể nguyên nhân cái chết. Theo Kinh Qur an 45:26: “ Allah sẽ ban cho bạn sự sống, sau đó giết bạn, và sau dó Ngài sẽ tập hợp bạn đến Ngày Phục sinh, trong đó không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không biết điều nầy”.  Có người nói rằng, người chiến binh Hồi giáo chết vì kẻ thù, linh hồn sẽ được lên thiên đàng và được Allah thưởng cho bảy (7) trinh nữ. Trước kẻ thù mà người chiến binh Hồi giáo bỏ chạy thì đàn bà cũng có quyền chém chết.                                                                                                   

Phát biểu của đức Đạt Lai Lạt Ma (Phật giáo) về cái chết.    

Với những người chuyên tạo ác nghiệp thì hơi ấm của thân thường thất thoát ở phần trên của thân trước tiên và sau đó mới thất thoát ở các phần khác của thân. Ngược lại, người chuyên tạo nghiệp thiện, thì hơi ấm thường thất thoát từ dưới chân trước tiên. Trong cả hai trường hợp trên, hơi ấm sau cùng tụ lại ở nơi tim, và từ đấy lìa khỏi thân. Các phần tử vật chất này, gồm tinh cha và huyết mẹ kết hợp lại, là nơi thần thức nhập vào lúc đầu tiên để vào tử cung mẹ khi bắt đầu sự sống. Các phần tử vật chất này biến thành trung tâm luân xa tim, và chính từ những điểm nầy mà thần thức cuối cùng lìa khỏi thân. Ngay khi thần thức lìa luân xa tim, thân trung ấm bắt đầu, trừ trường hợp của các vị tu hành cao, thác sinh trong cảnh trời vô sắc của các cõi không vô biên giới, thức vô biên giới, các “cõi Không” hoặc là các cảnh giới cao nhất của cõi luân hồi, thì đi tái sinh ngay sau khi chết. Những người thác sinh vào các cõi dục giới và sắc giới thì vẫn phải trải qua thân trung ấm, ở trong đó những người này sẽ mang hình dạng của thân tái sinh tương lai. Thân trung ấm có đầy đủ 5 giác quan và có cả nhãn thông, có khả năng đi xuyên qua vật chất, và bay ngay lập tức đến nơi mình muốn. Thân trung ấm cũng có thể thấy được các thân trung ấm khác cùng thể loại (tức là cùng cõi đi tái sinh). Các thể loại khác nhau là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời. Khi thân trung ấm chưa tìm được nơi đi tái sinh thích hợp với nghiệp lực của mình sau 7 ngày thì nó sẽ phải trải qua sự chết của trung ấm và tái sinh trong một thân trung ấm mới. Tái sinh trung ấm chỉ có thể diễn ra nhiều nhất là 6 lần, có nghĩa là thần thức chỉ có thể trải qua tối đa là 49 ngày trong cõi trung ấm. Điều đó cũng có nghĩa là khi một thần thức sau khi chết đi một năm trời, hiện ra và cho biết vẫn chưa được tái sinh, không còn ở trong cõi trung ấm nữa, thì thần thức đó đã tái sinh thành ma. (hết  trich) 

 Tóm lại đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Do Thái tin rằng, sau khi chết, linh hồn sẽ bất diệt, được về với Thiên Chúa nơi thiên đàng. Đạo Phật thì cho rằng, linh hồn không bất diệt mà được  đầu thai vào kiếp khác tùy theo cái nghiệp mà mình đã tạo nên. Thế thì với người Á Đông (đặc biệt Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, Đài Loan, Nhật Bản) chịu ảnh hưởng của ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo, nhận định ra sao về cái chết?

Như đã nói ở trên, với Phật giáo, con người khi chết, thân xác tiêu tan nhưng linh hồn sẽ đầu thai vào sáu cõi tùy nghiệp chướng do mình tạo ra khi còn sống. Lão giáo (Đạo gia) cho rằng, ngoài thân thể, là phần vật chất hữu hình còn có hồn và phách (vía).  Lão Tử không bàn đến Thượng Đế, linh hồn, thiên đàng, địa ngục mà chỉ nói một cách tổng quát về nguồn gốc của con người và vạn vật là từ Đạo mà ra, và cuối cùng trở về Đạo, hòa với Đạo. “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh” (Đạo mà có thể nói ra được không phải là đạo thường hằng vĩnh cửu, Tên mà có thể gọi ra được không phải là tên thường hằng bất biến)  Xin trích một bài báo: Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ thứ 2. Đạo giáo có hai phái tu là nội tu và ngoại dưỡng, phái nội tu phổ biến ở Việt Nam hơn. Thời Bắc thuộc, Đạo giáo chỉ phổ biến trong dân gian, đến thời phong kiến độc lập, các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần đều coi trong các đạo sỹ không kém các tăng sư, bên cạnh Tăng quan còn có cả Đạo quan. Từ đời Lê Trung hưng Đạo giáo bắt đầu suy thoái, những đạo quán bị Phật giáo hóa, trở thành chùa. Bên cạnh tượng các thánh của Đạo giáo còn có thêm tượng Phật[3]. Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến tư duy và đời sống xã hội của người Việt thì vẫn còn. Thuật phong thủy, các phương pháp dưỡng sinh, các môn võ thuật, các hình thức bói toán, cúng bái, trừ tà của Đạo giáo vẫn phổ biến tại Việt Nam. Tại Hà Nội vẫn còn một số đạo quán của Đạo giáo như Thăng Long tứ quán bao gồm Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên.

 Đạo giáo đi vào Việt Nam, đặc biệt là Đạo giáo phù thủy, tìm thấy ngay rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người Việt nên Đạo giáo ăn sâu vào người Việt rất dễ dàng. Trước đó người Việt đã từng sùng bái ma thuật, phù phép. Họ tin rằng những lá bùa, những câu thần chú có thể chữa được bệnh tật và trị được tà ma. Tương truyền Hùng Vương vì giỏi phù phép nên có uy tín thu thập được 15 bộ để lập nên nước Văn Lang. Dưới thời Bắc thuộc, Đạo giáo rất phát triển ở Việt Nam. Nhiều quan lại Trung Hoa sang Việt Nam cai trị đều thích phương thuật, ví dụ Cao Biền đời Đường từng “cưỡi diều tìm long mạch” để triệt nguồn nhân tài Việt Nam. Thế nên, nếu Nho giáo phải đến thời Lý mới được thừa nhận thì Đạo giáo hòa trộn với tín ngưỡng ma thuật đến mức không còn ranh giới. Từ Trung Quốc vào Việt Nam, Đạo giáo cũng vẫn giữ hai phái là Đạo giáo nhân gian thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão Quân, thần Trấn Vũ (Huyền Vũ), Quan Thánh Đế Quân. Bên cạnh đó, có sự kết hợp với tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo còn thờ nhiều vị thần thánh khác của người Việt như Đức thánh Trần, Thánh mẫu Liễu Hạnh, cùng với Tam Phủ, Tứ Phủ, cho thấy sự hòa quyện giữa Đạo giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Ngoài ra, các pháp sư Việt Nam từ Bắc chí Nam còn thường hay thờ các thần Ngũ Hổ bằng bức tranh con hổ hay Quan Lớn Tuần Tranh là hai con rắn Thanh Xà và Bạch Xà quấn trên xà nhà trước bàn thờ. Đặc biệt, Đạo giáo đã đem sang Việt Nam phương pháp cầu Tiên (hết trích).

Tóm lại, theo đạo Giáo, ngoài thân thể, phần vật chất hữu hình, còn có hồn và phách (vía). Hồn là phần tinh thần. Khi thân thể chết đi thì phách không còn nữa, hồn tiếp tục tồn tại trong thế giới vô hình. Nguồn gốc của con người và vạn vật là từ Đạo mà ra, và cuối cùng về với Đạo hòa với Đạo. “Sống chết là do khí tụ lại hay tan mà thôi” (Trang Tử). Đạo giáo là một triết lý, sau biến thành một thứ mê tín dị đoan, ma thuật, phù thủy, bùa chú.

Còn theo Nho giáo thì người có khí, có hồn, có phách. Chết không phải là hết. Chỉ chết cái hình hài, còn cái khí tinh anh, cái hồn khí ấy thì lại về với chỗ sáng tỏ của vũ trụ. Tuy nhiên, đạo Nho chỉ hướng sự quan tâm về những vấn đề nhân sinh, nên xiểng dương phương châm “Sự quỉ thần” (khí, phách được gọi cung kính là sự quỉ thần) “Kính nhi viễn chi” và dụng đạo thần minh làm phương tiện giáo hóa tức đề cao khía cạnh phong hóa mà không bàn về khía cạnh siêu hình. Có người hỏi Khổng Tử “Con người có số mệnh không?” Khổng tử đáp “Có số mệnh nhưng không nên đứng dưới bức tường sắp đổ” “Chưa biết chuyện sống, sao biết được chuyện chết?”

Còn người Việt ta nghĩ gì về cái chết, về linh hồn?

Người Việt đa số, có đi chùa lễ Phật, xin lễ cầu siêu cho thân nhân, tin lời Phật dạy nhưng vẫn tự cho rằng mình theo “Đạo Ông Bà”. Họ vẫn tin rằng thân nhân mình, chết đi không phải đầu thai kiếp khác, không phải lên Niết Bàn hay xuống địa ngục mà vẫn ở cùng với con cháu trong gia đình. Trong nhà, chỗ trang trọng nhất là bàn thờ tổ tiên, thân nhân người đã khuất. Ngày xưa, trên bàn thờ có bài vị (thần chủ), là nơi linh hồn người đã khuất ẩn náu, ngày nay thay bài vị bằng di ảnh, tưởng như người đã chết vẫn hiện diện trong gia đình. Khi người thân trong gia đình bị “bất tỉnh nhân sự”. Để hồi sinh, chủ nhà đứng trước sân kêu lớn “Hú ba hồn chín vía (bảy vía nếu là nam) X. về nhập xác” đồng thời thắp đèn nhang trên bàn thờ, cầu xin ông bà phò hộ cho con cháu tai qua nạn khỏi. Khi người thân bị tai nạn hay bịnh tật mà “chết đường, chết chợ” thì gia chủ ra nơi người đã chết kêu lên “Hú ba hồn chín vía Nguyễn, hay Lê… X. theo tôi về nhà” Họ tin rằng nếu không gọi như vậy, hồn người chết sẽ không biết nhà ở đâu mà về để hưởng sự cúng kiếng, sẽ thành ma đói, ma khát. Người chết đuối phải nhờ thầy cúng đến lập đàn trục vong, hướng dẫn hồn về chùa nghe kinh kệ mà siêu thoát, nếu không hồn vẫn phải ở dưới nước cho đến khi (lôi kéo) một người khác chết (đuối) thay, hồn mới thoát khỏi trầm luân. Họ tin rằng, những người chết đuối, chết oan, chết “bất đắc kỳ tử”, linh hồn vất vưởng (oan hồn uổng tử) không nơi nương tựa thành ma, thành quỉ nên ngày rằm, mồng một thường có lẽ vật cúng ngoài trời (bàn thiên) cho các hồn ma đến hưởng và chấp nhận lời cầu xin của gia chủ đừng quấy phá, gây xáo trộn trong nhà đồng thời phù hộ cho mọi người được mạnh khỏe, vạn sự như ý. Vào dịp cuối năm âm lịch có lễ “rước ông bà” về đoàn tụ, vui xuân với con cháu. Sau ba ngày tết có lễ “tiễn ông bà”. Đa số người Việt tin rằng, linh hồn thân nhân vẫn đoàn tụ với nhau  ở một thế giới (vô hình) khác gọi là Âm Phủ. Âm Phủ không phải là địa ngục như Phật giáo mô tả mà là nơi linh hồn những người đã chết vẫn sinh hoạt, đi lại, giao tiếp, chuyện trò với nhau giống như một xã hội bình thường nơi dương thế. Vì vậy đến ngày giỗ chạp, rằm tháng bảy, ngoài lễ vật còn đốt theo “giấy tiền vàng bạc”, áo quần, nhà lầu, xe hơi, đô la… để người thân nơi cõi âm được sung sướng. Người bịnh nặng thường kể lại. Họ thấy cha, me, vợ, chồng… (đã khuất) đến nắm tay đòi dẫn đi. Trong cuộc chiến vừa qua “Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình”. Mạng người như hạt gạo trên sàng. Sống sót được là nhờ phước đức ông bà.

Bây giờ mới thực sự là những suy nghĩ của bọn đàn ông già của chúng tôi. Người trẻ thường hỏi người già “Có sợ chết không?” Xin trả lời “Không sợ chết, chỉ sợ bịnh” Già lão đi đôi với bịnh tật. Nhiều người lớn tuổi ngồi với nhau thường nói về bịnh hoạn của mình như chuyện thời sự. Sau đây là những lời đối đáp của mấy ông già. Một ông nói “Tôi không muốn đến thăm người bịnh, vì thấy chính mình sẽ như vậy. Nằm một chỗ, cựa mình cũng đau, thở không nỗi, ăn uống, tắm rửa, thậm chí đi vệ sinh cũng phải có người giúp đỡ… Khổ như thế thà chết quách còn hơn” Một ông khác thở dài “Vậy mà lúc đó lại muốn sống. Chẳng phải lưu luyến cuộc đời mà vì bản năng sinh tồn của một sinh vật. Hơn nữa, người bịnh chẳng nghe ai nói mình sẽ chết mà an ủi rằng không sao đâu, bịnh sẽ hết. Ngay đến bác sĩ cũng quả quyết rằng bịnh đang được cải thiện, nhưng ra bảo nhỏ với người thân rằng. Bịnh nhân khó qua khỏi, về chuẩn bị tang lễ là vừa” Một ông có vẻ vô tư “Người chết có số. Mới thấy đó mà đã bịnh chết, còn người khác bị ung thư cả mấy chục năm vẫn sống nhăn. Có người cho rằng, do di truyền. Ông bà, cha mẹ sống thọ được bao nhiêu tuổi thì con cháu thọ được khoảng tuổi đó. Vậy tôi xin hỏi. Mấy ông có lưu luyến cuộc đời nầy không?” “Ra đi tay không. Chết là hết. “Gia tài” theo mình là cái “Quan tài”. Giờ thì chỉ cầu sao ngủ một giấc và không hề thức dậy nữa” .

               Đọc  đến đây, làm gì bạn cũng sẽ phàn nàn “Viết dài dòng quá! Tôi chỉ muốn biết ông đã chuẩn bị những gì trước khi ông từ giã cõi đời?” Xin thưa “Tôi chả làm gì cả ngoài việc viết mấy dòng di chúc, đại ý: Khi đưa tôi vô bịnh viện, thấy không hi vọng gì thì rút ống trợ thở. Liên lạc với nhà quàng, lo quan tài, tẩn liệm. Không làm lễ tang ma, không cáo phó, không thăm viếng, không phúng điếu. Tẩn liệm xong đưa quan tài thẳng ra nghĩa trang. Thế là xong một đời người!” Hết!

Phạm Thành Châu

tháng 9/2020

         

Sư Đoàn Tiền Giang

Trần Bạch Thu

Chuyến xe khách đến trại giam vào buổi xế chiều. Trời mây đen u ám vần vũ chùng xuống thấp như sắp chuyển mưa. Dưới đường thấp thoáng bóng công an đi lại quanh quất trước cổng dẫn ra con đường chính. Từ trong trại một đoàn người tù xếp hàng đôi đi ra ngồi xuống cạnh bên thành xe chờ gọi tên từng người đứng lên bước đến cửa cho công an khám xét trước khi lên xe. Tù nhân đi chân đất, đầu trần không được phép mang theo bất cứ một thứ gì. Tất cả đồ đạc vật dụng đã được nhét vào trong bao bố cá nhân gởi theo xe tải từ trưa. Im lặng bao trùm bầu không khí trên xe. Mọi người đang trên đường đến trại cải tạo Vườn Đào, nổi tiếng từ lâu với tên gọi chính thức rất đẹp – Mỹ Phước.

Tất cả tù nhân đã kết thúc giai đoạn tạm giam điều tra ở trại chấp pháp P15 hoặc cơ quan an ninh P12 sau đó được đưa xuống trại giam tỉnh Tiền Giang trong một vài tuần để chờ chuyến đi Mỹ Phước. Thành phần tù nhân bao gồm đủ loại từ vượt biên, vượt biển, hình sự, chính trị hay kinh tế nhưng đông nhất và ồn ào nhất là tù vượt biên.

Đoạn đường đi tới trại Mỹ Phước khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ. Từ Mỹ Tho đến ngã ba Long Định phố xá chen chúc hai bên đường tạo thành từng khu dân cư đông đúc, rồi từ ngã ba rẽ phải đi vào, nhà cửa bắt đầu thưa thớt dần. Hai bên đường cỏ dại, đưn lác mọc cao um tùm. Xe cộ, người đi vắng vẻ. Trông thật đìu hiu ảm đạm.

Xe dừng lại giữa đồng trống mênh mông, xa xa cổng trại làm bằng gỗ trên viết hai hàng chữ sơn đen “Trại cải tạo Mỹ Phước” hiện lên trơ trọi được bao bọc xung quanh bởi hàng rào dây kẽm gai dầy đặc. Chúng tôi xuống xe xếp thành hàng đôi điểm danh rồi lần lượt đi theo con đường đất nhỏ vào bên trong trại. Từ những ô cửa sổ bằng phên đất trong các dãy nhà dài dọc theo đường, hằng trăm con mắt tò mò nhìn ra theo dõi xem đoàn người tù được phân tán vào các dãy nhà. Họ hy vọng có người vào buồng mình để biết tin tức ở bên ngoài dù là rất ít, nhưng cũng đủ giúp cho họ đủ niềm tin sống sót chờ ngày về.

Tôi được phân vào dãy nhà ở góc trong cùng của trại dành cho tù nhân chính trị, gần dãy nhà tù nữ, mặc dù đa số tù nhân chuyển lên đợt nầy đều là “khách” vượt biên. Căn cứ vào kinh nghiệm của các đợt chuyển tù theo cách gối đầu, có nghĩa là trại thả đợt trước thì sẽ có đợt sau được chuyển lên từ Mỹ Tho trám vào, mỗi đợt như vậy thụ án ở trại cảo tạo chừng 6 tháng đến một năm là được thả. Ngược lại tù chính trị thì không có án và không biết được thời gian thụ án là bao lâu cho nên khi bị chuyển vào khu nầy thì mọi người ai nấy cũng đều nhìn bằng cặp mắt e ngại.

Ngay khi mới bước vào buồng giam tôi có cảm giác như đi lạc vào một nơi thâm u cùng cốc. Không gian tối lù mù chỉ có một bóng đèn tròn, vàng vọt ở giữa buồng. Mùi ẩm mốc hòa lẫn với mùi mồ hôi người xông lên nồng nực. Hai bên sạp ọp ẹp, lố nhố người đang ngồi dựa lưng vào vách không thấy rõ mặt chỉ thấy mờ nhạt, xanh xao một màu xám xịt. Buồng trưởng hướng dẫn đi một vòng tìm chỗ trống, cuối cùng đưa tôi đến gần nơi lối đi ra phía sau sát bờ kênh, ngay bên cạnh một người tù đang nằm bất động phủ toàn thân bằng một tấm mền đen mỏng che kín mặt ở cuối buồng.

Buồng giam nền đất lợp lá, vách phên luôn tuồn, tù nhân trải chiếu đệm trên sạp kết bằng cây đước ngủ ban đêm cũng như sinh hoạt ban ngày ăn uống tại chỗ trên manh chiếu nhỏ không hơn không kém. Mỗi tuần dọn vệ sinh một lần, nhưng cũng làm cho có lệ, chỉ quét rác thôi chứ không có tẩy rửa. Lâu ngày nền đất gồ ghề lên bóng láng như vảy cá đen thui. Đêm nằm ngủ mơ thấy như đang đi trên xe nhà rồng ra miền đất lạnh.

Mọi người ai đã từng ở trại Mỹ Phước đều biết địa ngục trần gian là có thật. Điều đầu tiên là đi ị phải đúng giờ. Mỗi sáng theo thứ tự từng dãy nhà chừng hơn 40 người xếp hàng ra dãy cầu tiêu cá đi tập thể trên chừng 10 căn chòi lá dừng sơ sài. Đi trên cây cầu khỉ lắt lẻo đang còn sợ té chưa kịp hoàn hồn thì công an đã ra lệnh khẩn trương cho đợt khác. Thời gian chừng nửa tiếng sau đó tất cả tập họp trở vô buồng cho dãy nhà khác đi ra.

Hôm đầu tiên đến trại đi cầu tiêu cá buổi sáng tôi thấy hơi khó, nhưng không sao, tự quên mình đi so với hình ảnh đập vào mắt, trông thấy vô cùng tội nghiệp khi đoàn tù nữ đi ra xếp hàng chờ. Bất ngờ một nữ tù nhân băng vượt lên phía trước vội vàng lao ngay xuống bờ cầu tiêu cá lềnh bềnh chất thải để ngắt thật nhanh vạt rau muống mọc quanh bờ. Nữ tù nhân nầy còn trẻ đã ở đây hơn 2 năm rồi mà không có thân nhân thăm nuôi. Công an thấy cũng làm lơ, quay mặt đi chỗ khác.

Mỹ Phước là vùng đất trũng phèn nặng nên mỗi buồng giam đều có một hàng lu nước phèn lọc bằng vôi hoặc tro để chắt nước uống và nấu ăn. Lao động chủ yếu là làm thủy lợi đắp đất thành từng luống trồng khóm. Đội cải tạo đi ra ngoài lao động trên nắng như đỗ lửa, dưới dầm chân quá gối trên kênh, xắn đất chuyền đắp lên luống. Bữa sau, hai ống quần đóng phèn bạc hoe, đỏ chạch. Chỉ một tuần thôi dưới chân nhất là ở các móng chân dính phèn vàng khè và mặt mày, tay chưn dộp da tróc vảy trông thật thảm thương.

Ngoài các đội lao động nông nghiệp, trong trại còn có nhiều đội đan lát hoặc làm các tạp vụ linh tinh mà phần lớn là tù vượt biên và tù nữ. Chung quanh trại ở tầm xa ngoài các rẫy khóm còn có các chốt canh giữ hoa màu do một số tù nhân tự giác trông coi, các tù nhân nầy thường đã thụ án hơn hai phần ba bản án hoặc ở đây trên 5 năm mà vụ án vẫn chưa kết thúc. Họ được đi lại tự do sinh hoạt riêng biệt trong các căn chòi lá chốt ở cuối rẫy. Đây là nơi cung cấp thực phẩm chui cho tù nhân trong trại. Dĩ nhiên cũng là nơi giúp các gia đình thu lượm tin tức của người thân đang bị giam bên trong, nhất là tù vượt biên thường có gia đình ở Sài Gòn hay các tỉnh xa xôi ngoài miền Trung. Công an chia chác tiền bạc qua những dịch vụ mua bán đổi chác và đồng thời cũng gián tiếp kiểm soát hàng hóa chuyển lậu vào trong trại.

Trong số các chốt nầy có một tù nhân bị bắt nguội trong một vụ án phản động và không có án. Khi chuyển lên đây anh đã nhiều lần vượt ngục và bị bắt lại. Bắt đi bắt lại mấy lần cho đến nay hơn 5 năm rồi mà cũng chưa được thả. Ra rẫy lao động mọi người thường hay liên lạc với anh ta để gởi mua thêm thức ăn tươi ngoài chợ Long Định vì ngoài nhiệm vụ canh giữ ở chốt anh còn được cán bộ cho theo ghe ra cầu kênh Xáng lấy chở nước ngọt về trại.

Quen dần anh tù tự giác tín cẩn tôi nên mới tiết lộ chi tiết về người tù ít nói lầm lì suốt ngày, gần mười năm không có ai thăm nuôi, nằm kế bên tôi trong buồng giam thuộc tổ lao động vệ sinh trong trại và đồng thời thỉnh thoảng anh ta cũng có nhờ tôi chuyển một ít gạo và cá mắm cho người tù nầy mà anh ta gọi là “ông thầy.”

Thật tình cờ và cũng rất thú vị khi được nằm kế bên và trò chuyện nhiều đêm với “ông thầy” tên thật là Trần văn Đ. nguyên sĩ quan tác chiến Sư Đoàn 7 Bộ binh quân lực VNCH, anh là nhân chứng sống và đang thụ án trong tù về một vụ án mà ít được nhắc tới sau nầy.

Câu chuyện bắt đầu với trí nhớ của một người tù 10 năm.

Tháng 8 năm 1977 cộng sản mở một phiên tòa tại Mỹ Tho để xử một vụ án âm mưu lật đổ chính quyền, tổ chức có danh xưng là Sư Đoàn Tiền Giang. Tuy luôn luôn nói là công khai nhưng không có thân nhân bị cáo tham dự cũng như không có phóng viên báo chí theo dõi và tường thuật, kể cả báo chí trong nước. Phiên tòa chỉ đọc cáo trạng trong khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. Tất cả nhân viên pháp lý cũng như bồi thẩm nhân dân đều do chính quyền chỉ định. Tất cả bị can không có kháng án. Hoàng văn Ngãi, Tư lệnh sư đoàn, tử hình. Hai anh em Trương văn Thân (Bí danh Trần Minh Dũng), Tham Mưu Trưởng và Trương văn Dậy (Mười Dậy) Chỉ Huy Trưởng khu căn cứ Long An, mỗi người lãnh án 10 và 20 năm tù khổ sai. Khoảng hơn 10 người khác gồm có Lê Duy Phong (Sinh viên), Đỗ Hữu Thọ (Sinh viên), Phạm văn Quyền, Nguyễn văn Hiệp. Lê văn Điểu … và TVĐ. lãnh án từ 5 đến 10 năm tù giam. Tất cả đều bị bắt tại nhà Trần Minh Dũng vào buổi chiều tối ngày 10 tháng 10 năm 1976 và đem về biệt giam ở khám đường cũ, số 2 đường Lãnh Binh Cẩn, thành phố Mỹ Tho.

Ngược dòng thời gian, kể từ khi có lệnh đầu hàng từ Tướng Dương Văn Minh trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tất cả sĩ quan binh lính cùng viên chức tại địa phương đều rời khỏi cơ sở hoặc nơi đơn vị đồn trú. Sau đó, đa phần đều ra trình diện đi cải tạo theo như thông báo trên báo chí và đài phát thanh cộng sản. Một số khác vẫn còn lẫn trốn không ra trình diện. Có người mai danh ẩn tích về các vùng xa xôi hẻo lánh tận miền Thất Sơn, Châu Đốc hay xuống vùng U Minh, Cà Mau. Lâu dần biệt tích, có thể họ đã vượt biên hoặc chết không ai biết. Cũng có người chờ tham gia các tổ chức kháng chiến được móc nối từ nước ngoài như trong vụ án Trần văn Bá sau nầy.

Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cộng sản chiếm đóng toàn miền Nam, họ đã biểu lộ rõ dã tâm thống trị đất nước Việt Nam bằng một chế độ độc tài hà khắc. Giam cầm, lưu đày các sĩ quan, viên chức VNCH vô thời hạn. Ngược đãi thành phần trí thức, học giả miền Nam. Trấn áp dân chúng rời thành phố đi các vùng rừng thiêng nước độc để cán bộ đảng viên miền Bắc trán vào chiếm ngụ nhà cửa trong thành phố hoặc các vùng đất đai trù phú trong Nam. Kể từ giữa năm 1976 họ ban hành các chính sách phân biệt đối xử với các thành phần xã hội. Người miền Nam sinh sống trong vùng do VNCH kiểm soát bị loại ra khỏi các sinh hoạt công quyền kể cả trong các lãnh vực kinh tế và xã hội. Không đủ sức để chống đối lại kẻ xâm lược, một làn sóng vượt biên vượt biển đã trở thành phong trào rộng khắp trên toàn miền Nam.

Lúc bấy giờ, sư đoàn Tiền Giang là một tổ chức sớm nhất ở trong Nam chống lại sự cầm quyền của cộng sản. Thành phần tham gia đa số là quân nhân, viên chức VNCH đã cải tạo về hoặc còn lẫn trốn trong vùng Tiền Giang từ sau ngày cộng sản chiếm đóng. Tên gọi là sư đoàn nhưng chưa có trang bị vũ khí trong giai đoạn hình thành và chuẩn bị hoạt động như một phong trào nhân dân nổi dậy chống lại cộng sản. Cấp chỉ huy sư đoàn là các nhà hoạt động chính trị thời VNCH như ông Trương văn Thân là sáng lập viên đảng Tân Đại Việt, cùng thời với GS. Nguyễn Ngọc Huy, nguyên Trưởng Ty Nông Nghiệp tỉnh Định Tường. Trung Tá Hoàng văn Ngãi là Sĩ quan Tham mưu, Tiểu khu Định Tường. Lê văn Điểu là Tỉnh Đoàn trưởng Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Kiên Giang.

Theo kế hoạch của tổ chức thì sư đoàn sẽ là lực lượng nồng cốt một khi tổ chức ra mắt công khai chống lại nhà cầm quyền cộng sản được dư luận quốc tế quan tâm cũng như sự ủng hộ, tài trợ của nước ngoài. Sư đoàn thành lập vào đầu tháng tư năm 1976 tại Mỹ Tho dưới sự chỉ đạo của Trần Minh Dũng (Tư Thân). Hoạt động chính yếu lúc bấy giờ là tổ chức rải truyền đơn chống cộng sản. Tuyên truyền kết nạp cảm tình viên và thành viên hoạt động. Cho đến khi bộ chỉ huy bị vây bắt tại nhà Tư Thân, đường Pasteur, thành phố Mỹ Tho thì thành viên sư đoàn hầu như có mặt khắp nơi trên vùng lãnh thổ của ba tỉnh Long An, Định Tường và Kiến Hòa. Sau ngày 10 tháng 10 năm 1976 công an Tiền Giang ráo riết truy lùng bắt tiếp các thành viên hoạt động của sư đoàn.

Bắt đầu là khu căn cứ ở Long An do Mười Dậy chỉ huy. Công an phối hợp với bộ đội địa phương dùng súng tấn công căn cứ gây thiệt mạng nhiều người và bắt sống một số người tay không có vũ khí. Một số vượt thoát ra ngoài bị bộ đội rượt theo bắn chết. Số còn lại ẩn trốn trong nhà dân và thoát đi về hướng Mộc Hóa.

Sau đó công an dùng các phương tiện giam cầm dã man đối với tù nhân bị bắt. Tra tấn, biệt giam và cùm chân trong phòng tối là đòn cân não để khai thác tin tức. Càng lúc họ càng truy ra nhiều manh mối hơn và đi lùng bắt nguội (không có lệnh của Tòa án) khắp nơi. Thành phần bị bắt bao gồm đủ mọi loại từ sĩ quan, binh lính VNCH cho đến các giới chức trong chính quyền cũ tại địa phương, Trong đó có cả các viên chức tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh (QGHC). Công an ruồng bố trong các cư xá công chức cũ và trại gia binh trước đây. Chỉ trong vòng 10 ngày khám đường cũ chật kín người, công an chuyển một số tù nhân xuống trại giam mới, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho chừng khoảng 4km.

Trong thời gian 6 tháng, công an truy lùng bắt tất cả mọi người có liên quan đến những người bị bắt từ quan hệ gia đình cho đến bạn bè người quen, thân thuộc. Tháng 4 năm 1977 công an chuyển tất cả những người bị bắt vì tham gia sư đoàn Tiền Giang xuống trại giam chính của tỉnh. Tình hình căng thẳng khiến cho nhiều người có liên quan chưa bị bắt bỏ trốn dây chuyền, mặc dù không có liên can gì cả. Một người bị bắt kéo theo hàng chục người bị công an bắt đi thẩm vấn. Thật ra tổ chức cũng chỉ mới còn trong vòng tụ họp và tuyên truyền tham gia với tính cách cảm tình viên thì nhiều nhưng tuyên thệ tham gia vẫn còn rất ít trừ những người chủ chốt.

Cộng sản giấu nhẹm các sự kiện trong vụ án và mở một phiên tòa nhanh chóng để xử các bị can. Theo lời một nhân vật có thẩm quyền cho biết vụ án được Mai Chí Thọ chỉ đạo không khoan nhượng. Không biết cộng sản xử kín bao nhiêu người, chết hay sống trong mười năm qua không có tin tức. Anh cho biết lúc còn ở trại giam Tiền Giang, có thời gian anh bị nhốt chung với hai anh Lê Tấn Trạng và Ngô Ngọc Vĩnh (QGHC).

Vụ án Sư Đoàn Tiền Giang khép lại khi tòa tuyên án chính thức và những người bị bắt sau đó đều có lệnh tập trung cải tạo 3 năm vào cuối năm 1977. Phạm nhân được đưa đi các trại cải tạo tại địa phương hoặc án nhẹ hơn được đưa đi khu nông nghiệp Cồn Tròn ở Cái Bè thuộc Tỉnh ủy Tiền Giang, ở đây phạm nhân sinh hoạt thoải mái, làm việc hưởng theo chế độ công nhân một thời gian ngắn trước khi được trả tự do về với gia đình.

Từ khi được đưa đến trại Mỹ Phước, trong tù anh Đ. thường chỉ nghe ngóng và quan tâm đến tin tức ở nước ngoài. Thật là phấn khởi khi biết được phong trào phục quốc của nhóm Mai văn Hạnh và Trần văn Bá đã về tới Cà Mau. Hay là phong trào kháng chiến của Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã về tới biên giới Lào – Việt. Ngoài các tổ chức trên anh còn luôn biểu lộ sự kính ngưỡng đến các “anh hùng” Võ Đại Tôn và Lý Tống.

Tết năm 1989 tôi được trả tự do. Trước khi biết tin có lệnh được thả hai hôm, tôi và anh có tâm sự nhiều điều. Điều sau cùng anh nói:

– Tôi bây giờ không còn hy vọng gì. Trừ phi các anh ra ngoài còn giữ được tinh thần phục quốc VNCH.

Ra khỏi cổng trại Mỹ Phước tôi bước lên xe mà đầu còn ngoảnh lại. Bóng anh mờ dần sau khung cửa sổ chằng chịt dây hàng rào kẽm gai. Tôi thầm khấn.

Trần Bạch Thu (ĐS 17)

Trận đánh Quận đường Đak-Tô năm 1969

Tôn Thất Hùng

Dân hành chánh, trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam thường được nghe dư luận cho là ít can đảm. Bài viết của một cựu sinh viên Học viện Quốc Gia Hành Chánh, (QGHC) vừa là cựu sinh viên trường sĩ quan trừ bị Thủ-Đức K1/ 68, hồi ký về trận đánh của quân chính quy Bắc-Việt tấn công vào quận đường Đak-Tô. Bài viết trình bày tinh thần anh dũng của nghĩa quân, bộ chỉ huy chi khu địa phương quân và tài điều quân hợp tác đồng bộ giữa Trung tá Quận trưởng, Ban Cố vấn Mỹ cùng hỏa lực yểm trợ đã đẩy lùi cuộc tấn công này.

 

Cá nhân người viết (NV) cũng như bao thanh niên cùng trang lứa, không ai muốn làm người hùng. Trong cuộc chiến Quốc Cộng, là trách nhiệm làm trai đúng với 3 tín niệm: “Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm”, nên mọi người tùy hoàn cảnh, địa vị, đã đem hết trách nhiệm để bảo vệ Miền Nam cho đến ngày tàn cuộc.

Ngày 7 tháng 12 năm 1967, NV tốt nghiệp khóa 12 Đốc-sự QGHC. Tháng 3/1968 thụ huấn 9 tuần Khóa sinh dự bị Sĩ Quan ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 6/1968 sang Trường Bộ Binh Thủ-Đức. Vừa đặt chân xuống là đã được K.27 đàn anh chào mừng, cho chạy hai vòng Vũ Đình Trường, cũng đã thực hiện tốt đẹp, vì đã được thụ huấn ở Quang Trung, mà các đàn anh không bao giờ được biết.

Tháng 10/1968 lên Kontum, vào thời điểm NV đã vào tuổi 22. Ở nhà đàn anh Lê văn Minh, khoá 10. Ngày hôm sau 8/10, Thiếu tá Quận trưởng Đak-Tô Lò văn Bảo, đến nhà đón về Quận bằng trực thăng. Từ Tỉnh lỵ Kontum theo quốc lộ 14 lên Quận đường Đak-Tô là 57 kilomét. Sau Tết Mậu Thân 1968, địch thường xuyên bắn phá, đặt mìn trên đoạn đường Võ Định, Ngô Trang và con dốc dài Đakma-Konhring, là hai nơi nguy hiểm nhất. Ngày nào cũng có xe chở̉ khách, xe quân đội bị mìn hoặc bị phục kích bắn sẻ, làm cho nhiều thường dân và quân nhân bị tử thương, nên đoạn đường này được báo chí mệnh danh là “tử lộ”, và tên Đak-Tô được báo chí Mỹ mệnh danh là “The Hell of Dakto’’, tạm dịch ‘’Hỏa ngục Đak-Tô’’. Vì di chuyển bằng đường bộ là đùa với tử thần, nên trong suốt thời gian từ tháng 10/ 1968 cho đến tháng 3/1970, NV thường xuyên được trực thăng chở về dự họp ở Tòa Hành chánh Tỉnh, chỉ khi nào không có máy bay, thì mới di chuyển bằng xe của Quận.

Lần đầu tiên được di chuyển bằng trực thăng, từ cao độ trên 3000 mét, NV đã thấy nào là rừng già đang vào Thu, lá vàng núi non trùng điệp, nào là cảnh thác nước Yali trắng xóa dưới ánh mặt trời, nào là đồi hoang, nào là sông Dakla nước chảy ngược dòng, cùng với những thung lũng trải dài sâu rộng. Hai đỉnh núi Ngok-wan, Ngok-xi, còn loang lổ cây rừng cháy đen, đất lở, vết tích của trận đánh năm 1965, do cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam chỉ huy, cùng với Chiến đoàn Dù, đã làm nên chiến tích. Mãi say sưa thưởng ngoạn, trực thăng đã đáp xuống sân bay nhỏ trước cổng Quận đường hồi nào không hay.

Thiếu tá Lò văn Bảo, sinh năm 1934, hơn NV 12 tuổi, xuất thân Khóa 8 Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1954, người Thái trắng, con một Chánh tổng ở Lai châu,. Sau khi tốt nghiệp trung học trường Pháp, đã từng được du học Mỹ, nên nói tiếng Anh rất lưu loát. Trước khi về làm Quận trưởng ông đã nhiều năm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng thuộc Trung Đoàn 42 biệt lập, đồn trú tại Thị trấn Tân Cảnh. Trung Đoàn trưởng là Trung tá Đinh Thế Thoại, người Nùng và hầu hết gần 4 Tiểu Đoàn đều là người Thái, Nùng, Mường thuộc các tỉnh thượng du Bắc Việt.

(Dakto Camp)

Sau biến cố Tết Mậu-Thân 1968, chính quyền quân sự ở trung ương, đã giao thêm chức vụ Chỉ Huy trưởng Lực lượng Nhân Dân Tự Vệ (NDTV) Quận cho Phó Quận trưởng. Xét thấy với nhiệm vụ là cấp trưởng của guồng máy hành chánh Quận, nay thời chiến chức vụ Chi Khu Trưởng kiêm nhiệm Quận trưởng, phải có trách niệm cho sự mất còn của Quận và Quận đường. Thiết nghĩ Thiếu tá Quận trưởng giữ Quận, thì Chuẩn uý Phó Quận, cũng phải cùng với Quận trưởng bảo vệ Quận là hợp lý. Bên cạnh văn phòng Quận và Bộ Chỉ Huy Chi Khu, từ trước năm 1963, thời cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền Tỉnh đã xây thêm một căn nhà gạch, làm hành dinh, để cho cố Tổng Thống có nơi nghỉ qua đêm, khi đến kinh lý Quận. Vợ chồng Thiếu tá đã cư ngụ ở đó, cùng với 2 cháu nhỏ. Trước đây các đàn anh tiền nhiệm đều ở Thị trấn Tân Cảnh, cách Quận đường vài cây số. Thị trấn luôn đông đúc, náo nhiệt. Dân cư ở đây bao gồm gia đình các sĩ quan và quân nhân của Trung đòan 42, và rất đông thường dân buôn bán, cung cấp dịch vụ cho cả Trung đoàn, trên dưới 2500 người. Ở Tân Cảnh có rạp hát, có nhiều quán ăn, giải khát nên các đàn anh thường đến ở đó. Cố đàn anh Nguyễn Khánh, Khoá 8, trước đây đầu năm 1968, đã về nhậm chức Phó Tỉnh trưởng Quảng Nam. Trong buổi ăn tối với vợ chồng Thiếu tá, nhìn thấy có một phòng đối diện với phòng ngủ của Thiếu tá còn trống, NV đề nghị xin cho ở căn phòng này. Thiếu tá đồng ý vì ông nghĩ là NV sẽ có mặt tại chỗ, thay thế ông trong bất kỳ công việc nào cần thiết khi ông vắng mặt. Mỗi thứ bảy, chủ nhật vợ chồng Ông Quận trưởng đều cho NV tháp tùng, đến thăm các gia đình bạn bè vừa là đồng hương ở Bắc Thái, vừa là thuộc cấp cũ. Quý vị có biết không, tập tục của người Thái như sau: khách đến nhà là phải uống rượu cho đến say mèm mới được cho về. Chủ xị thường là các bà Thầy pháp, hôm nào quý bà làm chủ xị, thường có luật uống rượu khác nhau. Mỗi bà ra lịnh mỗi cách, có lần một bà ra lịnh cầm bát bằng tay trái, mà khách vì uống nhiều, tửu nhập ngôn xuất, nên khi đến lượt mình, quên cầm bát qua tay mặt, thì phải chịu phạt 10 bát rượu liên tiếp. NVcũng đã được nếm mùi rượu phạt này, đến độ đến bát thứ 10, thì các mạch máu đều giản ra căng thẳng muốn đứt luôn. Khi vừa về đến nhà, có bao nhiêu chai soda trong tủ lạnh của ông Quận trưởng, NV đều đổ vào họng hết, mặc dù ngoài trời rất lạnh. Có nhiều đêm trăng non trên đường từ Quận đường xuống Tân cảnh qua “eo tử thần”, nơi cố Trung tá Lai văn Chu Trung Đoàn trưởng bị phục kích tử thương năm 1965, thì Thiếu tá cho hai nghĩa quân người Thượng nhảy xuống canh phòng, khi về thì bốc theo. Thiếu tá rất biết đãi người, đi đâu ông cũng ngồi ở ghế tài xế và để NV ngồi ở ghế trưởng xa.

Cuộc sống giữa NV và gia đình Thiếu tá có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Bà Thiếu tá cứ nhắc hoài là có lần cháu trai tên Lôi làm gì sai đó, Thiếu tá định đánh đòn nặng, NV vội chạy đến kịp thời ẵm cháu, chạy lẹ thoát trận lôi đình của ông. Ngày thường các sắc dân Thượng khi vào văn phòng Quận, từ cách xa 10 mét là cúi đầu chào, mời Bót Phó, Bót Quận đi “bắt cái rượu”, vì Lễ Hội truyền thống, nhưng một khi trong tình trạng say xỉn, thì chạy vào cặp hông 2 Bót kéo đi, khỏi có lễ phép gì cả. Ban đêm Ban Cố vấn Mỹ sang mời uống rựợu, vào những ngày Lễ Hội của Mỹ, cho nên NV thường cặp nách “Ông già đi bộ” hoặc bẻ cổ lùn Ngài Nã Phá Luân, ngày ngày say men rượu cần, đêm đêm bia rượu hội ngộ.
Cũng có đôi lần, sau khi thu nhận các nguồn tin tình báo từ Ban 2, Cảnh sát, An ninh Quân đội và ban Cố vấn Mỹ, Bộ Chỉ huy Chi khu kết luận là đich sẽ tấn công vào Quận đường bất cứ lúc nào, thì Thiếu tá liền cho vợ con về Tùng Nghĩa, Đà Lạt trước đó vài ngày. (Tùng Nghĩa là nơi định cư của dân tộc Bắc Thái, và các sắc dân thượng du Bắc Việt, khi di cư vào Miền Nam sau năm 1954). Thiếu tá và Bộ Chỉ huy Chi khu, luôn luôn được đặt trong tình trạng báo động. Khi chỉ còn lại hai người, ông đã tâm sự rất nhiều với NV. ông thích bia Miller, thuốc lá Marlboro, còn NV thì Lucky, rồi thì trao đổi ý kiến về hiện tình đất nước, về việc cán binh Bắc Việt bị xiềng chân vào các súng phòng không, mà Trung tá và NV đã chứng kiến vài hôm trước, trong tháng 10/1969, khi quân Bắc Việt tấn công vào Tổng Konhring. Mỗi khi phi tuần F.4 dội bom vào bọn chúng, tiêu diệt các mũi tiến công, dập tắt hết các khẩu thượng liên, đại liên, B.40 và AK.47, đến khi phi tuần thứ hai vào vùng, thì vẫn còn nghe độc nhất tiếng súng phòng không tác xạ vào các phi tuần F.4 này mà thôi. Nhiều hôm mãi say sưa chuyện trò đến thật khuya, khi ngoài trời Tây Nguyên sương đêm rơi xuống giá lạnh, hai người mới chia tay về phòng.

Đầu năm 1969, ông Bảo được thăng cấp Trung tá. Mặt trận B.3 đã nhiều lần ra lịnh tấn công vào Quận đường. Sau Tết 1969, hai đaị đội chính quy Bắc Việt tấn công vào Quận. Đêm hôm ấy NV về Tỉnh họp, ngày hôm sau trở lại Quận, thì Trung tá cho biết đã bắt được một cán binh người Thừa Thiên, thuộc Quận Quảng Điền ven biển. Người này bị bắt khi tấn công vào Quận, bị chống trả mãnh liệt, không biết lối đào thoát, cùng đường phải nhảy xuống hố phân ẩn núp. Sáng sớm hôm sau một nghĩa quân đi cầu nghe tiếng lạ, soi đèn bấm bắt được. Trung tá nói: “Ông Phó người Huế, nhờ hỏi giùm tôi mấy câu”. Trung uý Trưởng Ban 2 và Chuẩn uý Ban 5, đưa anh cán binh Việt cộng vào, trong bộ quân phục nghĩa quân màu xanh mới, sau khi đã được tắm gội sạch sẽ. NV kéo ghế mời ngồi, tay mở tù lạnh, lấy ra chai rựợu ngọt Lychee trái vãi, quà của chủ trại cưa gỗ nhân dịp Tết Kỷ Dậu, rót vào ly mời uống. Anh ta e dè, NV bèn uống một hớp, rồi đưa cho anh ta uống. NV hỏi “Anh đã được ăn no chưa?” Anh ta bảo là “có”. Mở gói thuốc Lucky thơm phức, mời anh một điếu, bật lửa cho mình, rồi bật lửa cho anh. Anh cho biết quê quán ở Quận Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên, bị bắt đi bộ đội trước Tết Mậu Thân 1968. Đã theo đường mòn Hồ Chí Minh vào Nam, nay thuộc Mặt trận B3, hay là Mật khu Bông Hồng. Trung tá Quận trưởng giao bộ đội VC cho Tiểu đoàn 3, Trung Đoàn 42, dẫn theo hành quân khai thác và chỉ điểm các hầm vũ khí VC cất dấu. Do sơ hở của đơn vị canh phòng, người cán binh VC này đã lăn xuống đồi trốn mất. Sau đó anh này đã dẫn hai Đại đội chính quy Bắc Việt vào tấn công Quận đường Đak-tô lần thứ hai.

Cuộc tấn công vào Quận đường tháng 11 năm 1969

Từ đầu tháng 11/1969, địch quân đã pháo kích vào sân cờ Quận đường nhiều lần. Vào ngày Thứ Hai, lúc toàn Bộ Chi khu, các sĩ quan, binh sĩ và các chi sở hành chánh, đang trong giờ chào Quốc kỳ, thì địch phóng nhiều hỏa tiễn 122 ly vào. Tiếng hú tử thần rít qua đầu, Trung tá Quận trưởng cho lịnh mọi người vào hầm ẩn núp, sau đó là ban hành lịnh giới nghiêm, cho trung đội công vụ kéo dây kẽm gai, chặn hai lối vào Quận đường. Sau nhiều ngày pháo kích bằng hỏa tiển 122 ly, để áp đảo tinh thần quân phòng thủ, ngày Thứ Hai trung tuần tháng 11, tin tức tình báo từ Ban 2, Cảnh sát và đặc biệt là từ Ban Cố vấn Mỹ, do máy dò độ nóng ghi nhận chính xác, VC đang di chuyển về hướng Quận với khoảng hơn 200 người, và có thể tấn công vào lúc 12 giờ khuya. Thiếu tá Culp, Cố vấn Trưởng, đã cùng họp với các sĩ quan Chi Khu, Trung tá Quận trưởng và NV. Vừa họp vừa uống bia. Vài hôm trước đó, theo yêu cầu của Ban Cố vấn, Quận đã quyết định cho đại bác 175 ly từ Ben-Hét (Ben-Hét là Trại Lực lượng biên phòng, nằm cách xa ngã 3 biên giới Việt Miên Lào chừng 6 miles), bắn thí điểm vào các nơi tiên liệu là đường tiến binh và chém vè của chúng. Tiếng nổ 175 ly nghe ù tai nhức óc, ngộp tim. Sau mỗi trái nổ, liền tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ của các chuổi đạn nổ chùm sát thương. Cùng trong thời gian này, bà Trung tá và hai con nhỏ đã được đưa về Tùng nghĩa vài ngày trước đó. Cuộc họp từ 6 giờ chiều đến 10 giờ tối là kết thúc. Tất cả sĩ quan, nghĩa quân các Ban, đều vào vị trí chiến đấu tại các pháo tháp phòng ngự với trung liên Bar, xuống giao thông hào dưới địa đạo phòng thủ. Lực lượng phòng ngự có khoảng một trung đội nghĩa quân người Thượng, cùng với nhân số sáu Ban Chi khu gồm: Sĩ quan, Hạ sĩ quan và binh sĩ Địa phương quân khoảng 20 người. Tổng cọng vừa NQ và ĐPQ trên dưới 60 tay súng. Trung sĩ Lưu, người Quảng Bình, xem lại vị trí khẩu súng cối 4.6, chuẩn bị phản pháo với bản đồ có các tọa độ đã chấm sẵn. Vào thời điểm này chưa có trung đội pháo binh 105 ly trực thuộc cấp Chi khu.

(Dakto Base)

Khi địch pháo 130 ly có đầu đạn nổ chậm, chui qua bao cát rồi mới nổ. Trung tá Quận trưởng cho Trung đội công vụ, làm bao cát phòng thủ ở trong phòng ngủ ông. Ông ta hỏi NV có muốn làm bao cát không? Vì thuộc loại Chuẩn úy nai tơ, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ và vì không cho mình là người quan trọng, thêm tốn công sức của lính, nên NV đã nói “cám ơn, không’’. Bất cứ ai đã qua thời gian thụ huấn quân sự, đều có được thói quen là: đang ngũ mà luôn cảnh giác, cảnh giác này chỉ mất đi, khi ta bị bệnh hoặc đã uống nhiều rượu. Đang nằm thiu thiu trên giường gỗ, bỗng dưng nghe tiếng pháo 82, nổ dồn dập cùng với đại liên, AK 47 áp đảo, có tiếng nổ rớt ngay ngoài sân cờ, cách phòng ngủ khoảng 2,3 mét. Có trái nổ ngay tại văn phòng Quận, NV xem đồng hồ tay đúng 12 giờ đêm, không có cảm giác sợ hải là gì cả. Tháng 4/1968 lúc còn ở Quang Trung, có đêm bị VC pháo kích. Trong ánh sáng hỏa châu, nghe bắn hù dọa cũng không cảm thấy lo âu, thầm bảo: “Mày pháo tao trên 15 phút thì tao mới dậy, nếu không thì tiếp tục ngủ”. Đạn súng cối vẫn tiếp tục nổ, hòa cùng nhiều tiếng đại liên của địch nổ dòn sát phạt xối xả. Và đây rồi tiếng nổ của cây trung liên Bar, ở pháo tháp phòng ngự sau nhà vang lên chát chúa. Khói mù khét lẹt ùa vào phòng khách. Vì đã chuẩn bị nên đã trang phục tác chiến, với giày trận trước khi lên giường, NV đeo vội khẩu P38 ngắn nòng, hối hả bước ra cửa sau .Trong tiếng súng liên thanh của ta và địch, hoà với mùi khói, nghe tiếng la của anh nghĩa quân Thượng cận vệ: ‘’ Ai đó?’’, ‘’Bót Phó đây, sao em?’’. Tiếng trung liên vẫn nổ chát chúa. Tiếng đại liên địch nổ liên hồi. Nhiều tiếng bộc phá nổ ầm dưới hàng kẽm gai phòng thủ quanh Quận. Tiếng AK47 nổ khắp bốn phía.” Nó đánh tới rồi, Bót Quận đâu?” ” Xem kỹ, bắn đi. Bót kêu Bót Quận ngay”. Vài bước vội quay lại. Trong tiếng đạn pháo, tiếng bộc phá, tiếng đại liên nổ dồn dập, khói khét lẹt mù mịt, NV đập cửa phòng Trung tá Quận trưởng thật mạnh, vì mỗi giây chậm trễ là phải trả giá rất đắc. Phòng kín quá, bao cát dày quá, chừng hai phút sau Trung tá bước ra: “Gì vậy ông Phó ?”. ” Dạ nó đánh tới nơi rồi”. Trung tá vội gọi ngay Thiếu tá Culp. Bước ra sân cờ thì hỏa châu đã soi sáng. Chiến trường đã được soi sáng rõ mồn một, nghe tiếng súng cối 4.6 của Trung sĩ Lưu, liên tiếp phản pháo vào các vị trí tấn công của địch. Từ các pháo tháp phòng thủ, tiếng nổ chát chúa của nhiều khẩu trung liên Bar, cùng tiếng AR.15 (sau này thay bằng AR.16), NV theo liền Trung tá. Các sĩ quan Chi khu đã có mặt ở các vị trí phòng thủ, cùng với Trung tá Bảo, Đại úy Bửu Uyên, Chi khu Phó kiêm nhiệm Trưởng ban 3 và Chuẩn úy trưởng khẩu cối 4.6, quyết định chấm tọa độ phản pháo. Thiếu tá Culp, Cố vấn Trưởng, Trung uý Nhảy Dù Furnman, người cùng đi ngủ Ấp với NV, thường xuyên đến các xã ấp xa xôi hẻo lánh nguy hiểm, trong Chương Trình Hành Chánh về Làng của chính quyền, đã có mặt tại chổ. Thiếu tá Cố vấn, sau khi hội ý với Trung tá Bảo, đã gọi về Quân Đoàn. Tiếng súng đại liên M.60 của Ban Cố Vấn, tiếng súng Garant, Carbine, Shotgun của lực lượng Nhân Dân Tự Vệ Xã Toumorong đang tị nạn, nằm sau Quận đường thi nhau nổ, hoà cùng với đủ loại vũ khí của ta và địch, dưới ánh sáng hoả châu, đã tạo nên một cảnh chiến trường sôi động. Súng đạn nổ vang trời, nhiều lằn đạn đan chéo nhau chi chít tạo thành những chuổi dài lửa liên tục nhắm vào cả hai bên ta và địch. Chợt một trái 82 nổ ầm gây khói lửa, nhiều mãnh đạn cùng đất sõi tung tóe lên. Chuẩn uý Kim, Ban NDTV bị thương ở tay trái, được Trung úy trợ y Thiện và Ban Quân Y kịp thời băng bó ngay. Tay mặt vẫn tiếp tục cầm súng. Địch có ý đồ tấn công vào Quận đường và Xã Toumorong cùng một lúc.

(Phi Trường Đak-Tô)

Chừng 20 phút sau, hai chiếc Hỏa Long Spooky nhào xuống. Đánh không đẹp thì thôi!. Hỏa châu thay nhau soi sáng chiến trường. Từ trên hai chiếc trực thăng võ trang, phi công cho hạ sát hàng rào phòng thủ, phóng rockets. Lửa cháy ngùn ngụt. Tiếng cánh quạt nổ lớn làm chủ chiến trường, át hẳn các tiếng súng tấn công của địch. Địch quân chưa kịp phản ứng gì thì đã được nghe nhiều tiếng nổ kinh hồn chính xác khủng khiếp. Từng tên lửa sát thương nhắm vào các đặc công cảm tử, bộc phá nổ tung, hoà cùng với nhiều tiếng nổ của các mìn Claymore chống tấn công, làm banh xác những kẻ xâm lăng mù quáng do bị nhồi sọ. Đồng thời bốn cây Đại liên M.60 từ trên hai chiếc Hỏa long, nhắm đúng, chính xác khạc đạn liên hồi, tạo thành những chuổi dài lửa, viên sau nối tiếp với viên trước mang thần chết đến cho đám địch quân cộng sản. Cứ sau một vòng bắn tên lửa và đại liên thì Hoả Long quay ngay lại, tiếp tục gieo kinh hoàng chết chóc cho hai đại đội chính quy sinh Bắc tử Nam này. Tiếng bộc phá im ngay, tiếng đại liên thưa dần. Sau gần 20 phút làm chủ chiến trường, hai chiếc Hỏa Long rời khỏi trận địa. Một phi tuần F.4 vào vùng, dội bom chính xác vào các vị trí tấn công và đường rút lui của chúng, khoảng 5 giờ sáng, địch rút lui mang theo nhiều tên bị thương và tử thương. Đến 6 giờ sáng, tiếng súng giao tranh đã ngưng bặt, chiến trường đã trở lại im lắng. NV và các Sĩ quan Quận, Ban NDTVệ, Bình định Phát triển rời công sự, đi ra khỏi cổng Quận, cùng với trung đội phòng thủ để lục soát chiến trường. Vì hiếu kỳ và trong trách nhiệm chỉ huy trưởng NDTV Quận, muốn biết tổn thất lực lượng NDTV Toumorong về nhân mạng và vũ khí như thế nào, nên NV đã theo chân các Nghĩa Quân (NQ) và NDTV Xã tỵ nạn, cho lệnh lục soát các bụi cây dọc hai bên đường. Kết quả Trưởng Ấp thuộc Xã tỵ nạn và NQ đã bắt đựợc một cán binh Bắc Việt, đang ẩn núp trong lùm vì không biết đườ̀ng thoát chạy. Trưởng Ấp có vợ vừa bị trúng đạn súng cối chết, ông ta vung dao rừng định chém đầu tên Việt cộng, NV vội đưa tay ngăn cản và bảo: – “Để Bót Quận lo”, trước ánh mắt ngỡ ngàng, sững sốt, đầy nổi kinh hoàng khiếp sợ, pha lẫn sự bàng hoàng ngạc nhiên của cán binh VC, vốn đựơc học tập vào giải phóng các Xã Ấp bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, sao bây giờ lại bị người được giải phóng muốn chém đầu”. Qua thẩm vấn, tên tù binh khai là người Thái Trắng ở Lai Châu, trùng quê với Trung tá Quận trưởng. Quanh đây nồng nặc mùi hôi thối khét lẹt của thây người, do bị rockets của Hỏa Long tác xạ, có thây bầy nhầy chỉ còn gan ruột, nằm vắt trên hàng rào kẽm gai, có thây trong túi quần cụt có vài viên “Hùng Lực”(viên thuốc kích thích chém giết), một ít lương khô của Trung cộng. Lần lượt lục soát cẩn thận các bụi cây quanh vòng đai an ninh Quận, NV đã nhìn thấy nhiều vết máu loang lổ kéo dài trên cỏ, chứng tỏ đơn vị VC tấn công, bọn chúng đã mang theo đồng bọn bị thương nặng khi chúng chém vè. Trời thì quá lạnh, mà sao bọn đặc công này, chỉ với một cái quần cụt mình trần, lại dám liều thân chui vào đặt bộc phá, trên nhiều hàng rào kẽm gai đã được Quận phòng thủ, gàì đặt dày đặc sẵn nhiều mìn Claymore, mìn chống tấn công, thì NV cũng phải bái phục ma lực tuyên truyền của Việt cộng. Giao tù binh cho Ban 5 và Ban 2 Chi Khu giải quyết. Khoảng 8 giờ sáng, cố Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, Tỉnh Trưởng và Đại tá Cố vấn Trưởng Tiếu Khu Kon Tum, đáp trực thăng xuống Quận đường. Trung tá Bảo đã trình một khẩu K.54, cùng hai khẩu CKC súng trường bá đỏ. Nhờ đã chuẩn bị trước, nên khi các toán đặc công cảm tử đặt bộc phá, cùng với chiến thuật tiền pháo hậu xung, đã bị Chi Khu phản pháo chận đứng, với hỏa lực khủng khiếp của Hỏa Long, cùng với sức chống trả mãnh liệt kiên cường của NQ, đã tiêu diệt kịp thời các mũi đặc công, không để cho chúng vượt qua được hàng rào phòng thủ Quận đường. Do nhiều kinh nghiệm chiến trường và tài điều quân của Trung Tá Quận trưởng, hai đại đội chính quy Bắc Việt, đã bị thảm bại, bỏ lại chiến trường nhiều xác chết và vũ khí, một số cán binh bị bắt làm tù binh, một số đông bị tử thương và bị thương, được mang đi chưa được kiểm chứng. Đó là câu trả lời thực tế cho các cán binh sinh Bắc tử Nam, thấm thía về sự tuyên truyền chính trị xảo quyệt, của Đảng Cộng sản Việt Nam qua chiêu bài: Giải phóng Miền Nam.

(Dak-Tô Hill)

Cũng trong ngày này, khoảng 9 giờ sáng, khi mở cửa văn phòng, NV thấy nguyên một quả đạn 82 ly rớt ngay bàn Phó Quận. Trái cối không nổ, mũi nhọn đầu đạn gây một dấu lõm lớn. Một sĩ quan và ba nghĩa quân bị thương nhẹ, không ai bị tử thương. Vài phòng bị hư nát, nhiều mái tôn bị lũng hoặc bị bay mất. Trong trận đụng độ này, Trung sĩ Lưu được tưởng thưởng huy chương và thăng cấp Trung sĩ nhất.
Sau khi di tản khỏi Đak-Tô trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, Trung Tá Bảo đã đảm nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng Tỉnh Phú Bổn. Ước nguyện sau cùng của ông là muốn được làm một Đại tá hồi hưu. Nghe đâu ông và gia đình đã được định cư ở Hoa-Kỳ.
***

Grand Rapids, Michigan, March, 30. 2020

Tôn Thất Hùng

Cựu Đốc Sự K.12
Cựu Trung Uý K.1/68.

Nỗi Đau Buồn Tháng Tư

Tam Bách Đinh Bá Tâm

Ngày 21-4-75, dân Long Khánh trên đường đào thoát cộng sản

Đối với người Việt ở hải ngoại, hay cả người Việt yêu chuộng Tự do trong nước, 30 tháng Tư là ngày đau buồn nhất, kể từ năm 1975 và mãi mãi về sau. Riêng với tôi, một cựu công chức tốt nghiệp trường QGHC Sàigòn, đã từng phục vụ tại một quận nhỏ bé nhưng là một chiến trường thật sôi động, thì ngày tháng đau buồn đáng ghi nhớ bắt đầu từ 20 tháng 4, 1975. Nơi đó quân ta đã anh dũng chống trả với ba sư đoàn Việt Cộng trong gần nửa tháng. Sau đó, chúng tôi cùng với Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo và các quân cán chính tại địa phương đã triệt thoái khỏi quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh, qua mật khu Bình Giã, về Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy.

Sau gần sáu giờ hãi hùng di chuyển dưới đạn pháo của địch bằng xe jeep dân sự của quận, chúng tôi đã về đến Phước Tuy an toàn. Sau này chúng tôi mới biết rằng số quân nhân, sĩ quan đã hy sinh trong trận di tản này khá nhiều, trong đó có Trung tá Tiểu khu phó bị tử trận, Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng bị thương và bị địch bắt … Đoàn người di tản phải dừng lại ở Bà Rịa để kiểm tra. Quân nhân được tái phối trí để lập tuyến phòng thủ thủ đô Sài gòn. Cán bộ, công chức được phép về Sài gòn hay các tỉnh phụ cận…. Khi xe chúng tôi dừng lại ở Thủ Đức để ăn sáng đã nghe tin đồn có một số du kích đêm trước lẻn về tuyên truyền, kêu gọi dân chúng chuẩn bị “đón tiếp quân giải phóng”! Chúng tôi về đến Sài gòn vào buổi trưa. Sau đó tôi lái xe đưa các các nhân viên trong đoàn di tản ra bến ôtô bus để họ đón xe về nhà… Mọi người lưu luyến chia tay để rồi từ đó, bốn mươi năm qua, tôi chưa bao giờ gặp lại họ, những nhân viên đã đồng cam cộng khổ với tôi trong suốt thời gian ở Xuân Lộc, cũng như trên đường di tản đầy hiểm nguy đêm ấy …

* * *

Không khí tại Sài Gòn những ngày hạ tuần tháng Tư thật căng thẳng. Chúng tôi cho đục nền nhà, làm thang gác xuống nhà bố mẹ vợ tầng dưới để tránh pháo kích. Ngoài phố, người dân hối hả tìm đường di tản ra nước ngoài… Một buổi tối, bố mẹ vợ tôi đến thăm, ôm hôn giã từ các cháu nhỏ. Một ông chủ đóng tàu thân thiết với ông nhạc tôi đã hứa cho gia đình bố mẹ vợ tôi cùng đi ! Nhưng hai hôm sau, ông chủ tàu đã thất hứa, lo bôn tẩu trước!

Những ngày sau đó, tôi đi lang thang đến nhà bạn bè, hy vọng gặp vận may để tìm đường di tản. Vô vọng, tôi bước vào rạp Cinê Nguyễn Văn Hảo trên đường Trần Hưng Đạo, xem một phim Pháp. Như thường lệ, trước khi xem phim, khán giả đứng lên nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà. Nhìn lá cờ thân yêu đang phất phới trên màn ảnh lớn trước mắt, bỗng nhiên tôi nhớ đến lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới trong ánh lửa pháo kích của địch sau lưng chúng tôi như vẫy tay giã biệt, khi chúng tôi rút khỏi chiến trường Xuân Lộc mấy ngày trước đó …Hôm nay, chào lá quốc kỳ thân yêu trong một rạp hát ở Sài gòn, tôi có cảm giác mình lại phải di tản một lần nữa, trước khi Cộng Sản vào đây. Nhưng đi đâu, bằng cách nào ? Hai giòng lệ ứa ra, lăn dài xuống đôi má hóp, nhạt nhoà đôi mắt mang kính cận của tôi lúc ấy! Tôi không còn lòng dạ nào xem hết cuốn phim, bèn bước ra khỏi rạp với tâm trạng lo lắng bồn chồn!

Chiều ngày 26-4, tôi đứng trước nhà nghe tin tức, bên cạnh vợ đang bế con gái út mới hai tháng tuổi. Các con khác đã đi học về, đang quây quần chơi với mẹ. Ông Đại úy Hải quân ở cạnh nhà tôi, đậu xe đậu lại nói nhỏ với tôi:

-Tàu chúng tôi rời bến đêm nay. Ông và gia đình có muốn đi với chúng tôi, hãy chuẩn bị sẵn sàng. Khoảng mươi lăm phút nữa, tôi sẽ xuống đây chở ông bà đi ngay…

Thấy tôi do dự, ông ta nói tiếp:

-Bằng mọi cách, mình phải đi thôi! Sĩ quan như tôi, công chức như ông, chúng nó vào đây sẽ giết hết! Tôi di cư từ Bắc vào Nam năm 54, đã từng nếm mùi Cộng Sản rồi ông ạ. Đi thôi, đừng do dự gì cả!

Tôi quay sang vợ đang lo lắng nhìn tôi. Tôi nhìn ba đứa con tuổi từ ba đến năm tuổi đang đứng quanh mẹ chúng, cười nói vô tư. Đứa con gái út mới hai tháng, còn lim dim ngủ trong vòng tay mẹ. Tôi bỗng do dự: đi hay ở?

Tôi quay sang nói với vợ:

-Các con còn bé quá, làm sao chịu nổi sóng gió mà đi. Hơn nữa em mới sinh xong, còn yếu lắm…!

Vợ tôi im lặng trao cô bé út cho bà ngoại, bước lên lầu bỏ quần áo tôi vào chiếc túi xách du lịch. Đoạn đến bên tôi, tháo chiếc nhẫn vàng đeo vào tay tôi, nói nhỏ:

-Anh cứ để mẹ con em ở nhà với bố mẹ. Đừng lo chi cả! Anh cứ đi một mình. Việt Cộng vào đây, anh sẽ bị hiểm nguy như ông Đại úy nói đó!

Tôi nhìn nàng, người vợ đã từng lo lắng chờ đợi tôi gần nửa tháng khi địch quân bao vây quận Xuân Lộc. Người vợ đã có ý tưởng hy sinh cuộc sống chính mình và bốn con thơ để tôi ra đi một mình. Tôi bỗng liên tưởng đến truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng, trong đó người vợ buông mình theo giòng nước lũ sông Hồng, để chồng sống sót, nuôi ba con thơ dại… Giờ đây nỡ nào tôi ra đi một mình, để nàng với bốn đứa con nhỏ ở lại hay sao? Đã ra đi, làm sao có thể trở lại, khi quê hương đất nước bị Cộng sản thống trị. Và rồi vợ chồng sẽ mãi mãi chia lìa; các con sẽ mãi mãi không gặp lại bố…Thế thì tôi ra đi làm gì? Khi ông Đại úy trở lại, hỏi tôi đã chuẩn bị xong chưa để ra đi, tôi im lặng lắc đầu … Ông nhìn tôi, ánh mắt ngạc nhiên lẫn buồn rầu. Đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau…

Sài gòn vào những ngày gần cuối tháng Tư năm ấy, trở nên hoảng loạn. Tin tức chiến sự bi quan từng ngày. Đêm 25 tháng 4, Tổng thống Thiệu lên TV trần tình về tình hình đất nước, đổ lỗi cho người Mỹ không viện trợ đầy đủ cho Việt Nam Cộng Hoà để ngăn chặn làn sóng CS xâm lăng…Sau đó dùng xe hơi riêng, cùng đoàn tùy tùng lên máy bay của Đại sứ Mỹ ra đi… Những đêm kế tiếp, VC từ bên kia sông Sàìgòn pháo kích vào thành phố. Ban ngày người ta đi hôi của tại các nhà giàu đã di tản…

Đến sáng ngày 30 tháng Tư, một người chú của tôi đã chạy trốn Việt Cộng từ Miền Trung, vội chạy đến đến hốt hoảng nói với tôi:

-Cháu ơi! Việt Cọng đã vào đến Hoà Hưng rồi … Liệu tìm đường mà chạy đi thôi!

-Nhưng thưa chú, chạy đi đâu bâu giờ?

Chú cháu nhìn nhau, đau buồn và tuyệt vọng…

Đến 10 giờ rưỡi trưa, nhạc trên đài phát thanh Sài gòn vụt tắt.… Có tiếng của tướng Dương Văn Minh, nhân danh Tổng thống và Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh cho các đơn vị quân đội đầu hàng…Sau đó là tiếng hát, tiếng đàn ghi ta của Trịnh Công Sơn, vang lên ca khúc phản chiến “Nối Vòng Tay Lớn”…Tôi ngồi phịch xuống giường, nhìn trừng trừng vào chiếc Radio vừa phát ra những lời kêu gọi đầu hàng, buồn rầu vô hạn. Hai dòng nước mắt thất vọng và căm tức chảy dài xuống má! Hỡi ôi! Cuộc chiến đấu bảo vệ Tự do của quân dân cán chính Miền Nam đã kết thúc nhanh chóng và tủi nhục như thế này sao?

Trưa hôm ấy, tôi bước ra ngoài để xem quang cảnh náo động ngoài đường. Người ta đổ xô đi làm quen với những “chú bộ đội”, với dép râu nón cối, súng AK kè kè bên hông…Người ta ngắm nhìn họ như những “sinh vật lạ” mà lâu nay chỉ nghe, chứ chưa thấy tận mắt. Người ta hỏi những câu ngô nghê chỉ cốt làm quen với đám “chủ mới”, đầy quyền uy với súng đạn và bạo tàn! Trên đường phố, xe hơi quân sự chạy qua chạy lại, với những “tên cách mạng giờ thứ 25” , với băng đỏ quấn cánh tay, mồm la hét trong những chiếc loa cầm tay, náo động cả khu phố! Có tin đồn về một cảnh sát viên của “chế độ cũ” vừa tự tử ở “ngã tư quốc tế”, không xa nhà chúng tôi…Rồi một sĩ quan tự kết liễi đời mình cạnh bức tượng Thủy Quân Lục Chìến ở cuối đường Lê Lợi, Sài Gòn…

Khi trở về nhà, tôi gặp một người láng giềng trong cư xá công chức gia đình tôi ở từ lâu. Anh này trước đây thỉnh thoảng hỏi thăm tôi mỗi khi tôi từ Quận về phép. Anh chỉ chiếc xe Jeep dân sự của quận Xuân Lộc đậu trước nhà – chiếc xe tôi đậu nơi đó từ ngày di tản từ Xuân Lộc về đây:

-Xe riêng của anh, hay xe của Quận anh làm việc đó?

Tôi trả lời “người bạn tốt” mà tôi quen từ khi anh ta vào ở cư xá này:

-Tôi làm gì có tiền mua xe?…Đó là công xa của quận, mang số ẩn tế, anh thấy đó !

Anh ta “cảnh báo” tôi:

-Anh liệu mà giao nộp sớm cho “mấy ông cách mạng”, kẻo sau này rắc rối lắm đó!

Sau này tôi mới biết “người bạn tốt” mà tôi tưởng lầm bấy lâu nay, lại là tay VC nằm vùng, nhận nhiệm vụ, theo dõi tôi – cũng như những “đối tượng” khác từ lâu! Chẳng bao lâu sau, anh ta lên làm “tổ trưởng dân phố” trong cư xá.

Nghe người bạn lên tiếng “cảnh báo”, tôi sực nhớ những đến giấy tờ, khuôn dấu mang theo từ quận Xuân Lộc. Tôi gói ghém những khuôn dấu của cơ quan hành chánh quận Xuân Lộc, bỏ vào túi, đem đi ném xuống sông Sài gòn …Theo sử sách, trong trận vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị đã vội vã một mình một ngựa, không kịp mang giáp trụ, trốn chạy với đám loạn quân, bỏ lại cả ấn tín…Còn chúng tôi, mặc dù phải rút lui khỏi trận địa Xuân Lộc, chúng tôi vẫn trật tự nghiêm chỉnh, vẫn không để những khuôn dấu quận Xuân Lộc – biểu tượng của nền hành chánh Việt Nam Cộng Hòa – rơi vào tay kẻ địch! Nhìn giòng nước cuồn cuộn chảy, nhận chìm những khuôn dấu đã từng quen thuộc với chúng tôi trong hơn hai năm làm việc tại quận Xuân Lộc, mà lòng buồn vô hạn!

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một buổi chiều mùa đông âm u bên bờ sông Vệ cuối năm 1954. Hôm ấy gia đình chúng tôi đang chờ chiếc đò bên kia sông sang chở khách. Bên kia sông, lá cờ vàng đang phất phới tung bay trong gió đông, gợi trí tò mò lẫn ước mơ của cậu thiếu niên đã sống chín năm trong tăm tối của Việt Minh! Bên kia sông là cuộc sống huy hoàng, là tương lai tươi sáng mà cậu thiếu niên và gia đình đang mong ước, chờ đợi. Hai mươi mốt năm sau, vào buổi chiều cuối tháng 4 năm 1975, tôi ngồi bên bờ sông Sài Gòn, nhìn làn nước đục trôi đi mà nghĩ đến thân phận mình, tương lai và gia đình mình, đến những người bạn “đồng cảnh ngã ngựa” không biết ngày mai những “kẻ thắng cuộc” sẽ ra “đòn thù” thế nào đây?

* * *

Sáng hôm nay, một buổi sáng đầu tháng Tư của Mùa Quốc Nạn, nắng ấm rực rỡ chan hoà vùng đất tỵ nạn miền Nam California. Tôi đi giữa đại lộ Bolsa thênh thang mà nhớ đến những ngày tháng cũ khi chiến trường Việt Nam sôi sục vào thời điểm bốn mươi năm trước. Chiến tranh đã tàn từ lâu, nhưng những ám ảnh về ngày tháng u buồn năm xưa vẫn theo đuổi tôi suốt một quãng thời gian dài gần nửa thế kỷ; suốt một quãng đường dài gần nửa vòng trái đất. Từ trại tập trung Cộng sản ở miền Nam ra miền Bắc Việt Nam.; và rồi mười năm sau, từ một đất nước mất cả độc lập, dân chủ lẫn tự do… tôi đã đến một xứ sở ấm no hạnh phúc, đầy đủ tự do, nhân quyền này… Xứ sở ấy cách xa cách quê hương cũ của tôi đến nửa vòng trái đất, đến một Thái Bình Dương bao la bát ngát . Tôi đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai, với tất cả sự cảm mến chân thành…

Khi tôi đậu xe trước một khu chợ đông đảo khách hàng người Việt, bỗng thấy một người hát rong đang ôm đàn, hát một ca khúc mà đã lâu lắm tôi chưa được nghe. Đó là một thanh niên gốc Việt trẻ tuổi, đứng bên chiếc xe hơi cũ, trên mui có đặt chiếc loa thùng, tay cầm chiếc micro… đang say sưa hát bài Một Mai Giã Từ Vũ Khí của cố nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Tiếng người ca sĩ trẻ đầy xúc cảm, vang vang trong khu đậu xe trống vắng vào buổi sáng tinh sương, giữa lòng phố chính khu Little Sài Gòn. Tôi im lặng đứng nghe, lòng rưng rưng theo tiếng ca trầm bổng nức nở , sâu lắng của anh:

Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn

Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi Ngoài con tim héo em ơi

Xin trả lại đây, bỏ lại đây Thép gai giăng với lũy hào sâu

Lỗ châu mai với những địa lôi

Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ…

Chàng trai trẻ kia, khi “chinh chiến tàn”, có lẽ hãy còn bé lắm. Nhưng bố anh, người chiến sĩ can trường của những ngày cuộc chiến sôi sục trước năm 1975, có lẽ đã nằm xuống khi chiến cuộc chưa tàn! Máu ông đã tuôn ra, với ước mơ về “một ngày chinh chiến tàn”. Để rồi khi ngưng tiếng súng ngoài chiến trận, “đất nước thống nhất”, máu người dân tiếp tục tuôn rơi trước mũi súng đàn áp tàn bạo của “chính quyền cách mạng”! Và hàng triệu người đã tìm mọi cách bỏ nước ra đi, hàng nghìn người đã bỏ xác ngoài biển cả, trong các trại cải tạo của CS…!

Hôm nay, những ngày gần đến tháng Tư đau buồn, tiếng hát của anh gợi đã gợi lại trong tôi tôi vết thương lòng bốn mươi năm về trước… Hãy hát lên đi, hát nữa lên đi hỡi những người trẻ tuổi Việt Nam của thế hệ hôm nay. Để tiếng hát xoá đi nỗi u buồn, đớn đau của những ngày Sài gòn sụp đổ. Để tiếng hát xua đi những tăm tối hiện tại, làm bừng lên chút ánh sáng tươi đẹp cho một thế giới huy hoàng trong tương lai. Nơi đó sẽ không còn độc tài tham lam, không còn gông cùm đấu tố, không còn áp bức bạo tàn…

Tam Bách Đinh Bá Tâm (ĐS 12)

Trăng Rọi Sông Dài

Trần Bạch Thu

Tôi rời Kontum chiều ngày 8 tháng 3 năm 1975 trên chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam cùng với một số viên chức thuộc tỉnh như Ty Xã Hội, Công Chánh, Sở Học Chánh cũng như Trung Tâm Bình Định Phát Triển để dự phiên họp tổng kết chương trình định cư, khẩn hoang lập ấp (KHLA) của địa phương tại Phủ Phó Thủ Tướng. Trong thời gian họp ở Sài Gòn báo chí và đài truyền thanh, truyền hình loan tin Cộng quân tấn công Ban mê Thuột ngày 10 tháng 3 năm 1975 và chỉ ba ngày sau là hoàn toàn thất thủ.
Họp xong ở Phủ Phó Thủ Tướng tôi về trình diện Bộ Nội Vụ vì Hàng Không Việt Nam đã hủy tất cả các chuyến bay về cao nguyên trong đó có Kontum và Pleiku. Văn phòng Phụ tá Đặc Biệt Tổng Trưởng Nội Vụ gọi điện giúp đăng ký chuyến bay quân sự về Pleiku ngày 16 tháng 3 năm 1975. Sáng hôm ấy tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất cùng với Trung Tá Lộc, Quận trưởng Quận Kontum lúc 6 giờ sáng chờ chuyến bay đi Pleiku. Sau gần hai giờ chờ đợi, nhân viên phụ trách chuyến bay thông báo vì lý do an ninh chuyến bay bị hủy bỏ. Kế hoạch Di Tản Chiến Thuật bắt đầu đúng vào ngày nầy.

Chỉ một tuần lễ sau, quân dân hỗn loạn từ cao nguyên đã lần lượt tràn về tới miền duyên hải, mọi người đang cố gắng nhanh chóng đi về Nha Trang, Khánh Hòa vì có tin đồn không biết do đâu là đã có thỏa thuận cắt đất từ vĩ tuyến 13 trở ra sẽ thuộc quyền kiểm soát của Chánh phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Lúc nầy thời sự biến chuyển rất nhanh chóng, không thể tưởng tượng được, bộ đội Bắc Việt tràn tới đâu, dân chúng chạy tránh tới đó, cứ càng xa vào trong Nam càng tốt và cảm thấy an toàn hơn.

Tình hình chiến sự dồn dập và lan nhanh khiến cho mọi người xôn xao bàn tán khắp mọi nơi trong thành phố. Suốt thời gian nầy tôi ở Sài Gòn trong khi các viên chức di tản về tới Sài Gòn càng lúc càng đông nên giới chức ở Bộ cho phép đặt luôn Văn phòng đại diện tỉnh cạnh Bộ để điều hành các công việc thuộc tỉnh và làm công tác tiếp nhận các viên chức di tản từ Kontum về Sài Gòn, chủ yếu là xác minh nhân viên thuộc tỉnh để họ được lãnh tiền và nhận thực phẩm cứu trợ. Mỗi người trên đường di tản về Sài Gòn là môt câu chuyện thương tâm đầy nước mắt. May rủi khôn lường.

Ngày 30 tháng 3 tin Đà Nẵng thất thủ làm rúng động toàn miền Nam nhưng cũng chưa có dấu hiệu gì hoảng hốt vì còn “quân mạnh tướng bền.” Cho đến khi Mặt trận Phan Rang bị tràn ngập ngày 15 tháng 4 và Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị địch bắt sống thì sự hoang mang, dao động lên đến tột độ. Một tuần lễ sau, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức, mọi người bắt đầu tìm mọi cách để di tản. Bắt đầu là các nhân viên làm sở Mỹ và thân nhân có danh sách di tản ở Tòa Đại Sứ Mỹ hay Phi trường Tân Sơn Nhất.
Một số bạn bè thân thiết và người quen đề nghị tôi nên ra đi theo họ. Đến lúc nầy tôi vẫn chưa tin rằng miền Nam bại trận vì ít nhất VNCH cũng còn làm chủ một số tỉnh thuộc quân đoàn 3 và quân đoàn 4 với đầy đủ lực lượng và phương tiện chiến đấu. Về phương diện chính trị các tổ chức và phe phái tại miền Nam qua tin tức từ trại Davis, trụ sở Ủy Ban Liện Hợp Quân Sự bốn bên đã áp lực Tổng Thống Thiệu từ chức thì sẽ có đàm phán về một thể chế chính trị hòa hợp hòa giải cho miền Nam. Sau khi Phó Tổng Thống Hương lên thay thì lại có tin là chỉ có Đại tướng Dương Văn Minh mới có đàm phán. Đến đây thì tình hình gần như nguy ngập. Tướng Nguyễn Cao Kỳ hô hào tại xứ đạo Tân Sa Châu kêu gọi tử thủ không di tản ra nước ngoài “không có mắm tôm mà ăn” nhưng lại không có lực lượng. Tướng Nguyễn văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 và một số viên chức cũng như đảng phái dự tính một cuộc đảo chánh.

Đến khi Đại tướng Dương văn Minh nhận quyền từ Tổng Thống Trần văn Hương trong phiên họp khoáng đại lưỡng viện quốc hội cũng còn hiệu triệu quân nhân các cấp hãy giữ vững tay súng. Nội các Vũ văn Mẫu đang còn sắp xếp nhân sự, ra tuyên cáo yêu cầu người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam và thông tin là sắp có giải pháp hòa bình thì các sư đoàn Bắc Việt đã vây kín Sài Gòn.

Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975 ba anh em tôi ra bến Bạch Đằng ăn sáng và bàn thảo chuyện xuống tàu di tản, đứa em kế là Hải quân cơ khí tại Hải quân công xưởng cho biết tình hình rất nguy ngập không thể nào chần chừ được nữa, mọi người đang chen nhau xuống tàu di tản càng lúc càng đông. Cho đến lúc đó, tôi vẫn không có ý niệm ra đi sống ở nước ngoài, lại càng không thể di tản, tránh đi một thời gian rồi trở về khi tình hình tạm lắng nên tôi quyết định không đi và thuyết phục các em là tình hình tuy xấu nhưng so với hồi tết Mậu Thân cũng chưa đến hồi tuyệt vọng. Vả lại dân chúng thì được, sau khi tình hình ổn định có quay về cũng không sao chứ quân nhân, công chức thì không được. Phần hy vọng rằng có thể có giải pháp hòa hợp hòa giải trên vùng đất còn lại nếu có cắt đất phân chia vùng lãnh thổ đôi bên. Đứa em thứ hai là Quân cảnh nên đồng ý là dĩ nhiên. Ăn xong ngồi uống chưa hết ly cà phê sữa đá, đứa em kế đã đứng lên đội kết-pi, sửa lại cho ngay ngắn rồi nói: “Thôi anh về nói với ba má em đi.”

Nhìn theo bóng quân phục màu xanh nước biển thu nhỏ dần sau cổng trại, hai anh em tôi không nói được lời nào, cũng không buồn đứng lên đưa tiễn, chỉ với tay lấy điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ, bật lửa mồi thuốc và rời quán.

Đêm hôm ấy hai anh em qua Thủ Thiêm ngủ ở nhà người quen gần bến đò. Suốt đêm tàu đò qua lại đưa người vội vã di tản ra các tàu lớn. Những ngọn đèn dầu lấp lánh trên sông như bầy đom đóm. Xa xa ánh trăng chiếu loang loáng trên mặt nước lung linh rọi dài một vùng sương phủ mênh mông. Lặng thinh buồn rười rượi chờ sáng.

Sài Gòn thất thủ tôi ra trình diện học tập cải tạo theo diện ngụy quyền tại trường Nữ Trung học Trưng Vương đúng với nội dung thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn ghi rõ trại viên phải chuẩn bị quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân và mang theo tiền để đóng tiền ăn trong một tháng. Khi nghe thông báo trên đài phát thanh cũng như trên báo “Sài Gòn giải phóng” về điều kiện và thời gian học tập cải tạo một tháng, các viên chức chế độ cũ hiện đang cư ngụ trong thành phố ai nấy đều đang hồi hộp chờ đợi sự thể ra sao, nay nghe được tin nầy mọi người rất hân hoan lo thu xếp để đến nơi trình diện đúng hạn.

Tôi về Mỹ Tho nói với mọi người về thông cáo trên, ai cũng có vẻ nghi ngờ vì số sĩ quan và viên chức trình diện ở Mỹ Tho đã bị nhốt hết vào trong khám đường rồi và nghe đâu đang chuẩn bị đưa vào trại Vườn Đào (Mỹ Phước Tây) để lao động, chớ có nghe học hành cải tạo gì đâu?

Lên Sài Gòn đúng ngày tôi trình diện ban đầu ở trường Gia Long, không ngờ mọi người đã đến rất đông từ sáng sớm nên đến phiên tôi, địa điểm trường Gia Long đã hết chỗ, cán binh cộng sản hướng dẫn sang trường Trưng Vương trình diện.

Khi đến nơi người đông như kiến, xếp hàng đôi dài dọc theo đường trước cổng trường. Lâu lâu chừng hai mươi phút, cán binh mở cổng cho từng tốp người vào độ năm phút thì ngăn lại và chờ, cứ thế cho đến xế trưa, số người được vào bên trong không biết là bao nhiêu, nhưng theo suy đoán có lẽ cũng sắp hết chỗ chứa. Quả thật khi đến lượt tôi vừa vào lọt bên trong thì nghe bên ngoài nhiều loạt súng nổ vì số người chen nhau tràn lên phía trước xô ngã cổng rào khi nghe cán binh thông báo đợt nầy là đợt cuối, những ai còn ở lại bên ngoài về nhà chờ lệnh mới.

Lạ thật, khi vào đến bên trong, xếp hàng đứng trước một dãy bàn, mỗi bàn có ba cán binh, nam có nữ có, còn rất trẻ, dáng điệu ở trong quê mới ra, ăn mặc đồ bà ba đen, trời nóng mà quấn khăn rằn, đội mũ tai bèo, hình như đọc chữ không được nên hỏi đi hỏi lại nhiều lần mặc dù đã trình giấy đăng ký rõ ràng và chỉ có một người viết danh sách nên mức độ tiếp nhận rất chậm. Sau khi đã ghi được vào danh sách, mọi người túa vào trong các phòng học, lo trải chỗ nằm chen chúc trên sàn gạch bông xen kẻ giữa các dãy bàn ghế còn nguyên tại chỗ, không được di dời đi nơi khác, lệnh cán binh đưa ra mọi người phải chấp hành, không được đi lại linh tinh. Hàng ngày có hai chuyến xe chở cơm nước tới, thấy có ghi bảng hiệu Nhà hàng Đồng Khánh.

Được ba ngày, tới ngày thứ tư, thình lình nửa đêm cán binh đến từng phòng tắt đèn, rọn đèn pin vào ra lệnh im lặng, khẩn trương tập họp dưới sân trường. Tất cả lặng câm trong bóng tối, cán binh cộng sản rọi đèn pin trên mảnh giấy nhỏ, đọc tên một số ít người tách riêng ra, trong số đó tôi biết có người là nhân viên Ngân hàng quốc gia.

Sau đó tất cả mọi người đều lên xe đò chở khách trên hai mươi chiếc di chuyển ra khỏi thành phố. Gió lạnh thổi phần phật trên những tấm bạt che kín cửa sổ, hòa lẫn với tiếng máy xe nổ đều đều. Mọi người cùng đưa mắt nhìn lơ đễnh về phía trước, không mường tượng được gì và lặng im bao trùm lên khoảng không gian bít bùng tối mờ mờ trong xe, nghe chừng như đang đi về nơi vô định.

Đến gần bốn giờ sáng, trời còn tối om, đoàn xe rẽ vào khu vực gồm nhiều dãy nhà bỏ trống. Một số người nhận ra ngay là làng Cô Nhi Long Thành do ông Tư Sự xây dựng trước đây, giờ đã bỏ hoang từ nhiều năm nay. Nhờ ánh sáng của mấy chục chiếc xe đậu xuôi ngược rọi chung quanh khu vực vắng vẻ mà đoàn người mới bước xuống xe nhanh chóng và xếp hàng trên những bãi đất trống, đến khi có lệnh của cán binh cộng sản từng tốp khoảng gần hai trăm người mới lần lượt túa vào trong những căn nhà trống trơn chỉ có tường chung quanh và vách ngăn thành ba, bốn buồng mà không có cửa. Mọi người tự do kiếm chỗ ổn định hành lý và tụ tập nhau thành từng khu gồm những người quen biết hoặc thân thiết nhau từ trước khi trình diện cải tạo.

Chờ đến sáng rõ, không thấy cán binh cộng sản ở đâu mọi người mới bắt đầu ra ngoài các bãi đất trống để quan sát. Ngoài những dãy nhà trống lợp tôn xi-măng còn lại toàn khu vực rộng lớn hoang vu chỉ mọc đầy cỏ dại cao gần nửa người, không có hàng rào chung quanh. Không có dấu hiệu có người sinh sống, không có nước. Gần đến xế chiều mới có một xe bồn loại nhỏ chở nước tới, cả ngàn người xếp hàng tới tối để nhận được một xô nước vì xe bồn cứ hết nước lại đi lấy và mọi người cứ xếp hàng chờ.

Ngày hôm sau mới có xe chở cơm tới với cá khô. Gần cả tháng trời như vậy, cán binh cộng sản mới điều động mọi người tự xây cất khu nhà bếp, căn-tin và ổn định phân chia thành tổ, đội trong từng nhà. Sau đó sửa chữa hội trường dã chiến, lợp tôn, đóng từng thanh gỗ ngang làm thành ghế ngồi hai bên trên nền đất.

Ban đầu, mỗi tuần cả trại lên hội trường nghe cán binh cộng sản thuyết giảng vài ngày, tối về sinh hoạt, kiểm điểm hoặc thu hoạch và thường thì đêm nào cũng có ca hát các bài ca cách mạng do các nhạc sĩ miền Bắc sáng tác trong thời kỳ chiến tranh, dần dần về sau là các bài ca mới do một số trại viên sáng tác. Thỉnh thoảng cũng có một vài cán bộ cao cấp vào trại thuyết giảng. Tôi còn nhớ có một lần cán bộ thuyết giảng là nhà văn Hoài Thanh với đề tài thơ văn Bác Hồ, điều làm tôi nhớ mãi không phải là nội dung của bài thuyết giảng mà là hình ảnh cứ chừng năm đến mười phút lại có một cán binh đến rót bia để sẵn trên bục cho diễn giả vừa ngụm bia vừa nói về văn thơ của Bác Hồ say sưa đến sùi bọt mà không biết là bọt mép hay bọt bia.

Gần nửa năm, chương trình học tập gồm 11 bài như Đế quốc Mỹ là kẻ thù số một; Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của Đế quốc Mỹ; Tình hình mới, nhiệm vụ mới. v…v… Trong thời gian học tập cũng có một vài đợt được trả tự do, cán binh cộng sản tung tin qua các Nhà Trưởng là chương trình học tập đã xong khiến mọi người ai nấy cũng đều hy vọng là sẽ được ra trại sớm. Sau đó cán binh cộng sản, một số chuyển sang mặc áo vàng và một số khác được thay thế bằng công an.

Trại bắt đầu tổ chức thành tổ đội lao động và bắt đầu xây tường rào kiên cố chung quanh trại và đồng thời sửa chữa các căn nhà trống trước đây thành các buồng giam có cửa. Các đội sinh hoạt theo tiếng kẻng báo giờ và chủ yếu là lao động ngày hai buổi theo chế độ, nội qui của trại giam từ đó. Không có chế độ thăm nuôi, chỉ được nhận quà của gia đình hằng tháng 5 kg theo địa chỉ hộp thư 15NV (“mười năm anh về.”) Cấm tiết lộ địa điểm, nơi giam giữ khi gởi thơ về cho gia đình xin quà.

Cải tạo tại Long Thành được một năm cho đến một buổi chiều sau khi cơm nước xong xuôi có kẻng tập họp bất thường, mọi người rất lo lắng về số phận của mình vì trước đó thỉnh thoảng cũng có tập họp như vậy, tôi còn nhớ có một buổi chiều trời chạng vạng cán binh cộng sản đi xe jeep tới trại và áp tải bốn người về Quảng Ngãi mà trong đó tôi có quen biết một người. Lần nầy cán bộ trại đọc danh sánh hơi dài hơn 250 người, sau đó được cách ly và cán bộ cho biết là sẽ di chuyển đến một nơi có điều kiện học tập, lao động tốt hơn.

Nhưng thật sự lại là một chuyến đi kinh hoàng hơn mấy lần trước, những người có tên trong danh sách bị còng tay lên xe tải chở xuống bến Tân Cảng, nửa đêm đem nhốt xuống hầm tàu Sông Hương mấy ngày đêm chở ra miền Bắc giam ở trại Phú Sơn, Bắc Thái. Khi Trung quốc tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979 thì được đưa về trại Ba Sao, Hà Nam Ninh. Đến năm 1982 lại bị còng tay đẩy lên xe lửa ở ga Phủ Lý xuôi Nam về trại Z30D, Hàm Tân.

Lúc ở trại Long Thành còn hy vọng được về trong vài ba tháng, đến giữa năm khi có chánh sách mười điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam công bố cải tạo từ một đến ba năm cũng còn hy vọng. Nhưng khi xuống tàu ra miền Bắc thì hết hy vọng, nhất là khi gặp lại các quân nhân bị bắt từ hồi Tết Mậu Thân năm 1968 cho đến nay vẫn còn giam rải rác ở trong các trại. Kinh hoàng hơn nữa khi biết được rằng một số quân nhân, viên chức từ thời 1954 vẫn còn bị giam giữ và số khác được thả ra nhưng bị chỉ định vùng cư trú vĩnh viễn ở các tỉnh miền Thượng du, Bắc Việt.

Lao động cải tạo đói rét trên miền Bắc đến năm thứ ba coi như đã kiệt sức, sống chết gần kề, không có chế độ thăm nuôi, thậm chí người thân còn chưa biết rõ là bị giam cầm ở đâu. Bệnh tật không thuốc men, mỗi sáng sau tiếng kẻng báo thức ra sân điểm danh, sạp nào còn phủ mùng thì tổ trưởng tạp dịch vào thu dọn đưa người không chịu dậy điểm danh âm thầm ra đồi đá bên kia suối. Có hôm một lượt có đến hai, ba người như thế thì may mắn hơn được bó chiếu đặt trên xe cải tiến và có nhiều người đi theo sau vì đồi đá bazan năm người đào một huyệt từ sáng đến chiều chỉ sâu được chừng một mét. Huyệt được phủ đá vụn, bằng phẳng, không ghi dấu. Tổ trường tạp dịch trước khi xuống đồi thường hay ngớ ngẫn đứng trước mộ không biết cầu nguyện gì mà không thấy làm dấu thánh giá hay chấp tay xá chỉ nghe lẩm nhẩm: “Người yêu người sống để yêu nhau” (Thơ Tố Hữu).

Người chết đã thế còn người sống ra sao? Đến muối mà còn phải pha nước màu làm bằng gạo rang cháy khét và mỗi bữa ăn chỉ được phát ba muỗng thì nói chi đến cơm gạo, chỉ bo bo và sắn lát làm chuẩn, mỗi người một chén sắt. Như thế cũng còn sống được miễn là đừng có nhận tin buồn gia đình tan nát ở bên ngoài vì có khi nhận được tin như thế lại lo buồn mãi là sẽ ra đồi đá sớm hơn.

Thư từ trại qui định chừng đôi ba tháng mới được viết một lá thư gởi về cho gia đình không được ghi địa chỉ nơi gởi mà chỉ ghi mã số giống như hồi ở trại Long Thành là 15NV và ít khi nhận được thư hồi âm. Thư qua kiểm duyệt của cán bộ trại giam, nếu không đúng mẫu thì bị kiểm điểm vừa không được gởi đi mà còn bị kỷ luật và phạt không được gởi thư lần tới.

Một số tù nhân, trước kia khi di cư vào Nam hồi năm 1954 còn thân nhân ở lại miền Bắc nay đã trở thành cán bộ là được thăm nuôi cũng chỉ có vài ba ký đường, kẹo bánh và thuốc lào, một số khác được bảo lãnh ra khỏi trại, chính nhờ số anh em nầy mà một số anh em thân tình mới gởi được thư “chui” nhờ đem ra Hà Nội gởi về cho gia đình. Tôi cũng gởi được một lá thư về cho gia đình với nội dung thực sự là không biết được ngày về và nói với mẹ rằng con sẽ cố gắng vượt qua mọi khó khăn, may ra nếu còn sống con sẽ trở về với gia đình.

Năm năm sau mẹ tôi ra Bắc lần đầu tiên thăm nuôi. Từ Cai Lậy lên Sài Gòn ngủ qua đêm, hôm sau theo đường xe lửa mất mấy hôm mới ra đến ga Phủ Lý, Nam Định rồi thuê xe trâu cùng với vài người nữa cũng đi thăm nuôi cùng vào trại Ba Sao.

Đường vào trại ngoằn ngoèo, quanh co, hai bên vách núi đá vôi lởm chởm, nhô ra nhiều hình thù trông rất là kỳ quái. Được non chừng mười hai cây số thì xuống xe bên đường lộ đá, sau đó thuê người gánh quà đi dọc theo đường đất chừng non cây số thì đến khu nhà thăm nuôi nghỉ qua đêm, hôm sau mới được gặp thân nhân. Trại Ba Sao có ba phân trại A, B và C. Tôi ở phân trại C là phân trại trước tiên, vào thêm độ năm cây số nữa là phân trại A và cuối cùng nằm sâu trong vách núi là phân trại B.

Thời gian gặp mặt ngắn ngủi quá, tôi có hỏi về mọi chuyện, nhưng mẹ nói nhà mình khổ quá, cũng không biết cô Trâm ra sao nữa, mẹ nói thỉnh thoảng hai đứa em gái tôi làm ở tổ hợp bánh kẹo tại thị trấn đi Sài Gòn mua hàng cho tổ hợp thỉnh thoảng có ghé nhà anh Suy vẫn còn ở trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật nhưng cũng không có tin tức gì nhiều về cô Trâm ngoài Kontum. “Nhưng chắc cũng khổ như nhà mình.” Mẹ tôi nói trong nghẹn ngào.

Trên đoạn đường từ căn nhà tranh vách đất làm nơi thăm nuôi về đến cổng lán trại tôi khóc mù mịt, không thấy đường thấy xá gì cả cho đến khi anh bạn tạp dịch thuộc đội nhà bếp nhắc nhở là nên bình tỉnh thì cán bộ kiểm tra quà thăm nuôi sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Tôi cố gắng mím môi quẹt nước mắt cho thật khô, nhưng đến khi cán bộ dỡ ra xem, kiểm tra từng món quà mà mẹ tôi đem từ Nam ra Bắc thăm nuôi thì tự nhiên nước mắt tôi ứa ra không cầm lại được nữa.

May mắn lắm, tôi là người cuối cùng, hơn nữa đã gần đến giờ đóng cửa trại nên cán bộ không nói gì, quay đi và ra lệnh khẩn trương mang quà vào trại. Nhanh chóng anh bạn giúp tôi chuyển quà vào trại đầy đủ và an toàn.

Kể từ đó hằng năm mẹ tôi dù khó khăn thế mấy cũng lần lượt dẫn các em tôi ra trại Ba Sao thăm nuôi cho gặp mặt anh vì sợ bị giam lâu quá tôi sẽ chết mất trong tù. Em út tôi năm đó mới học lớp 6, nhà nghèo, cha bị bệnh, mẹ buôn bán hàng rong, ba anh trai đi cải tạo mấy năm chưa về, chị lớn đang học trường Luật thì phải về quê đi làm hợp tác xã bánh kẹo ở thị trấn để được lãnh tem phiếu. Trong hoàn cảnh khó khăn vô cùng đó em tôi vẫn đi học và học rất giỏi. Những mong là khi tôi về sẽ được khen ngợi. Lúc bấy giờ ai cũng nghĩ rằng cải tạo đôi ba tháng hoặc cùng lắm là một hoặc hai năm thôi vì đã có chính sách được công bố rõ ràng. Mãi đến gần năm thứ ba, gia đình mới biết là tôi đã được chuyển ra miền Bắc ban đầu ở trại Phú Sơn, Bắc Thái sau chuyển về trại Ba Sao, Nam Hà.
Hy vọng còn lại, không mong gì được về sớm, là làm sao có tiền để đi thăm nuôi gặp mặt. Em còn nhỏ, nhà nghèo nên biết lo, thường hay năn nỉ xin mẹ đi chợ khi nào có heo thừa vú, bán rẻ thì mua về nuôi, nhớ là mua heo nái. Người còn không đủ ăn lấy gì mà nuôi heo mà lại là heo nái nữa mới khó. Mẹ tôi nói hằng ngày sau giờ học, em tôi thường đi vòng khắp xóm xin chuối cây đã chặt buồng về xắc trộn ít cám cho heo ăn. Đợt đầu được bầy ít con, đem bán lấy tiền mua cám nhiều hơn nuôi đợt hai. Trời không phụ, nuôi được vài lứa heo được khá tiền mẹ bảo con gái lớn nên sửa soạn chút đỉnh, may mặc quần áo cho tươm tất. Em chẳng nói gì. Một buổi tối, em nói với má là con đã để dành đủ tiền, má lo xin phép và mua đồ đi thăm nuôi anh Hai, lâu quá rồi má. Mẹ tôi khóc hết nước mắt.

Nhờ có thăm nuôi mà hai đứa em gái tôi liên lạc với anh Suy thường hơn và mẹ tôi cho biết rằng cô Trâm, vị hôn thê tương lai của tôi, hồi tháng 3 năm 1975 cùng với gia đình di tản ban đầu thuê xe đi từ Kontum đến Phú Bổn, sau đó xe hư và bị kẹt đường nên mọi người phải đi bộ mấy ngày mới tới bờ sông Ba, lúc còn đang ở bên nầy bờ chưa qua sông thì chiến trận khốc liệt xảy ra, bộ đội Bắc Việt nã trọng pháo vào đoàn người di tản dân quân hổn loạn, thương vong vô số kể. Em cùng với gia đình chạy lạc vào trong rừng, đói khát tưởng đâu đã bỏ mạng, may nhờ có người Thượng quen với gia đình trước đây giúp đỡ dẫn ngược đường về nguyên quán an toàn và hiện nay cô Trâm vẫn còn ở Kontum, có sạp mua bán ngoài chợ để phụ giúp mẹ nuôi ba đang cải tạo và các em.

Đến khi được chuyển trại về Hàm Tân, tình hình tương đối dễ thở, ăn uống được cải thiện tốt hơn nhờ trồng trọt thêm. Mẹ tôi đi thăm nuôi thường hơn, hằng tháng đều có gởi thơ cho cô Trâm biết, lúc đầu cô có gởi quà về nhà tôi để tập trung cho mẹ đem đi, sau đó cô Trâm xin địa chỉ để gởi trực tiếp về địa chỉ trại và lần nào ngoài đường tán, chuối khô bao giờ cũng có vài ba chai dầu gió. Tôi trở thành đại lý dầu gió ở trại Z30D. Vui mừng nhất là nhận được thư em vẫn chờ anh. Bấy giờ đã gần mười năm./.

Trần Bạch Thu (ĐS 17)

Xuân Trên Núi Hoàng Liên

Nguyễn Nhơn

Những mùa xuân tù đày trên đất Bắc

Đầu Đông năm 76, hai ngàn tù cải tạo Miền Nam lênh đênh trên chiếc tàu Hồng Hà trên đường ra Bắc. Đổ bộ lên Bãi Cháy, Hải Phòng.Đoàn tù chia thành hai nhóm. Một hướng về Cao Bằng – Lạng Sơn tiến phát. Một quẹo trái thẳng về Hoàng Liên Sơn. Sau một ngày và gần một đêm rong ruổi, đoàn tù nhóm tôi đặt chân xuống “Trại Cải Tạo Trung Ương Số 1″, Lào Cai lúc 3 giờ sáng. Đường vào các phòng giam chật hẹp, đèn đóm lập lòe, chốc chốc hiện ra khung cửa hẹp, trông giống hệt cảnh Địa ngục A Tỳ, vẽ trên vách các ngôi chùa cổ Miền Nam.

Mùa Đông năm đó thời tiết thật là khắc nghiệt, đó là lời của bọn cai tù nhận định như vậy. Ban ngày còn được 5-7 độ C, ban đêm dưới 0 độ. Đội 11 chúng tôi khi đó chưa được phân công chẻ tăm mành xuất khẩu nên được xua đi, xa cách trại 5-3 cây số, cuốc đất trồng mì (sắn). Theo “kỹ thuật thâm canh tăng vụ xã nghĩa hiện đại” thì … hốc mì phải vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc, rồi bỏ phân xanh xuống, tức là quơ lá cây rừng bỏ xuống đầy hốc, lấp đất lại, ủ năm ba bửa mới bỏ hom mì xuống. Trong Nam, chỉ cần cuốc một cuốc, bỏ hom mì xuống, lấy chân gạt đất lắp lại là xong. Còn ở đây, đồi núi toàn sỏi đá, không làm như trên thì hom mì không làm sao bắt rễ nổi. Cho nên phải làm như vậy chớ chẳng phải kỹ thuật xã nghĩa cái mụ nội gì! Đội 11 triển khai đội hình, tức là dàn hàng một vòng quanh ngọn đồi trọc, vì trước đó tù hình sự đã phát xong lùm bụi rồi, bắt đầu cuốc dần lên đỉnh. Sức tôi lúc đó cầm cuốc còn không vững, lại thêm trời lạnh như cắt, tay chưn run lập cập, dẫu cho có dùng hết “tinh thần cách miệng tiến công”, ra sức cố cù lừ cuốc xuống thì chỉ thấy sỏi đá văng tứ tung mà lưỡi cuốc không ăn xuống được bao nhiêu! Tên cai tù trẻ nhìn tôi, lắc đầu ngán ngẩm, bèn bảo tôi chạy đi gom chà, đốt một đống lửa to cho nó ngồi sưởi ấm. Nghỉ giữa buổi, chúng cho phép anh em xúm quanh đống lửa, sưởi ấm một lúc. Nhìn anh em mặt mày tái xanh, tái xám, ngồi ủ rủ giống như một lũ u hồn, oan khuất. Lại thêm gió giật từng cơn, đã lạnh càng thêm giá buốt, tôi cám cảnh sanh tình, đặt tên cho ngọn đồi đó là “Đỉnh Gió Hú” cho nó văn chương, thơ mộng. Chiều xuống, sương mù giăng mắc, gió rét căm căm, bọn tù lầm lủi bước. Về đến trại, trời đã tối mịt mùng. Nuốt vội một chén đá duy nhất củ mì băm mà nơi đây gọi là “sắn dui” là cai tù đã lùa vào phòng giam, khóa lại. Ai nấy lật đật giăng mùng. Bao nhiêu mền chiếu đều đem ra quấn vào người. Riêng tôi, lấy hết mền chiếu trải phía dưới, quấn quanh người tấm nệm mỏng của trại tù, ngồi dựa vách run rẩy, chống lạnh cho đến khi mệt mỏi, thiếp đi. Phòng giam chật hẹp, chứa 50 nhân mạng mà lúc nầy vắng lặng như nhà mồ vì không ai đủ sức cựa quậy, đi lại. Thuở nhỏ, ở Miền Nam ấm áp quanh năm nên nghe ông già, bà cả ví von “lạnh thấu xương, lạnh nứt da, nứt thịt hoặc lạnh trong xương lạnh ra” đều không hiểu nổi. Lúc này tuổi ngoài 40 mới hiểu được thế nào là cái lạnh trên núi rừng Việt Bắc.

Cho nên một buổi sáng tàn Đông, nhằm ngày Chúa Nhật, cai tù mở cửa trễ. Đang ngồi thiêm thiếp, bất đồ anh bạn nằm bên cạnh mở tung cửa sổ ra. Ngoài song cửa hoa rừng nở rộ một màu trắng xóa khắp núi đồi, báo hiệu mùa Xuân đến. Chỉ trong một thoáng, tôi cảm thấy trong lòng bừng nở một sức sống mới: Sự HỒI SINH của Mùa Xuân. Cho nên sau nầy, khi đọc Thiền Luận của Suziki, dẫn bài “Hài cú” của một thi sĩ Nhật Bản, nhìn một đóa hoa đơn côi bên vệ đường, cảm tác nên, để dẩn giải về nguyên lý “Chẳng phải một, chẳng phải hai” của Thiền Đạo, tôi cảm nhận được liền. Cũng tương tự, khi đọc bài Xuân Thiền cuả Trúc Lâm Trần Nhân Tôn:

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không
Xuân về hoa nở, rộn trong lòng
Đến nay hiểu được điều không sắc
Xuân đến, giường Thiền, ngắm rụng hồng

Hoặc giả hai câu trứ danh:

Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước, MỘT CÀNH MAI

Tết năm đó, trên núi rừng Hoàng Liên, chúng tôi có một điều vui nhỏ, mỗi người được một cặp bánh chưng nhân đậu, có một lát thịt mở đàng hoàng, tuy nhỏ và mỏng. Đáng ghi nhớ là một sự kiện chấn động: Đó là tin hai người tù cải tạo Miền Nam toan vượt ngục, bị bắt lại. Ngày mồng ba tết năm đó, toàn phân trại K1 tập hợp tại Hội trường để nghe viên Chúa ngục xỉ mắng và đe dọa về vụ nầy. Về sau, biết được hai người anh em dũng cảm nầy là: Thiếu Tá TQLC Tôn Thất Thiện Nhơn và một Trung Tá HQ dường như tên là Phát.

Đó là cái Tết đầu tiên trên đầu phía Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn. Về sau, khi từ phòng kỷ luật ra, anh Nhơn được bố trí về Đội 11 chẻ tăm mành của chúng tôi. Lúc nầy đã sang Hè, trời nóng như thiêu, như đốt. Cột kèo bằng tre nứa, giữa trưa nổ đom đóp.Trong một buổi họp đội do tên quản giáo chủ trì, anh T3 Nhơn liền cho nổ bom, long trời, lở đất, chấn động cả toàn trại. Chẳng là vừa khi khai họp, một tên “ăng ten” hèn nhát đứng lên tố cáo, “Nhờ ơn Bác đảng nuôi cho ăn học, nhà cao, cửa rộng, áo quần lành lặn, mà có người còn phát ngôn phản động… “. Tên nầy chưa kịp chỉ danh ai thì anh T3 Nhơn đã hùng hổ đứng vụt lên, bất kể cai tù dọa nạt, hô lớn như vầy: ” Đồ bợ đít, ngồi xuống. Tao chẳng những không biết ơn mà tao thù, tao oán. Bởi vì bác đảng mà thân tao tù tội, gia đình tan nát, đói khát, rách rưới tả tơi. Còn nhà cao, cửa rộng hả? Coi kìa! cái phòng giam chật hẹp, nóng như thiêu đó giống như Hỏa ngục A tỳ. Đồ bợ đít hỗn xược! Câm miệng, không thôi tao dọng vỡ mồm”. Trước tình cảnh lỡ khóc, lỡ cười, tên cai ngục bèn đứng dậy … dong thẳng một lèo … vì không có võ trang bảo vệ.

Mùa Xuân năm Kỷ Mùi 78 kế tiếp là một cái Tết buồn. Đêm 29 Tết, bác Hồ Đắc Trung cựu Dân Biểu và Tỉnh Trưởng Tây Ninh bị đau ruột trầm trọng. Trại chở đi Bệnh Viện Lào Cai cấp cứu, mãi không thấy về, không biết thân xác vùi dập nơi đâu! Đó là cái chết đầu tiên của người tù cải tạo Miền Nam trên núi rừng Hoàng Liên. Lại thêm năm đó, trại cạn láng rồi nên mỗi thằng tù chỉ được phát cho một cặp bánh chưng mỏng lét, ruột toàn khoai lang. Đến nổi bọn cai ngục mắc cở, chống chế, “Thôi mấy anh ăn đỡ cái Tết xoàng ở đây để năm tới về nhà ăn Tết vui hơn”.

Mà quả có thế thật, vì cuối tháng sáu năm đó, toàn trại, trừ hình sự và các anh Biệt Kích Miền Nam bị giam cầm ở đây từ trước, được lịnh chuẩn bị di chuyển. Có điều … KHÔNG phải về NAM mà là về Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, về phía hữu ngạn sông Hồng. Trại nầy nổi danh là “MỒ CHÔN TÙ CẢI TẠO MIỀN NAM”! Vốn nó là trại cải tạo địa phương cải sang. Nhà cửa lụp xụp, lợp toàn bằng lá cói, lương thực dự trữ không có. Cho nên chỉ sau đó một tháng, xãy ra trận “dịch chết đói” mà họ gọi văn hoa là “suy dinh dưởng”. Có trên một trăm anh em tù cải tạo Miền Nam, rải rác khắp 5 phân trại, nhất là phân trại K1, K2, ngã gục, vùi thây khắp các đồi trồng khoai mì.

Mùa Xuân năm Canh Thân 79, vì suốt năm dài không nhận được chút ít tiếp tế nào của gia đình từ trong Nam gởi ra, nên sức dự trữ trong cơ thể cạn rồi, ai nấy đều phờ phạc, lửng lơ như xác chết chưa chôn. Tuy nhiên, tôi có một kỷ niệm cuối cùng với Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Bình Dương. Tết năm đó, họ để cho tù đi lại các khu, thăm hỏi nhau. Khu tôi ở cách khu ĐT Của chỉ một bức tường cao. Tôi qua đó tìm thăm Ông. Thấy tôi, ông bước lại bá cổ, mừng rở. Tôi dang ra nhìn Ông đùa, “Coi bộ còn khá lắm”. Ông vừa chửi thề, vừa kéo lưng quần ra, “Coi nè, lưng quần tao hụt cả tấc vầy! Được, được cái nỗi gì!” Lúc nầy quả thật Ông Tỉnh Trưởng đã ốm yếu quá rồi. Tôi chỉ đùa cho Ông vui vậy thôi. Mùa Đông năm ấy, Ông bị phổi có nước. Mặc dầu anh em ở Bệnh xá, cũng là tù cải tạo, tận tình giúp đở, nhưng mà Ông yếu quá, quỵ xuống vĩnh viển.

Ngày chôn Ông, tôi đang cuốc đất bên vệ đường. Chống cuốc, đứng nhìn anh em đội Cải Lương quảy chiếc hòm dã chiến, đầu cao đầu thấp, lắt lẻo bước đi, trông thật thảm thương. Đàng sau chiếc hòm đong đưa đó, không có một ai thương khóc tiễn đưa. Tôi đứng đó, thầm khóc tiễn Ông mà cũng khóc cho thân phận khốn khổ của chính mình. Nói rằng khóc thầm là bởi vì, nếu chảy nước mắt mà bọn cai tù hay ăng ten nhìn thấy thì vừa bị chửi, vừa bị làm kiểm điểm về tội “không yên tâm cải tạo”.

Hồi đó, mùa Đông năm nào hay nói cho đúng là bắt đầu từ đầu tháng 9 tức là mới đầu Thu là tôi bắt đầu ôm bụng, rên rỉ cho đến hết Đông qua Xuân. Cho nên kể từ khi ĐT Của thượng đồi chè, tức là chôn bên cạnh đồi trồng trà, anh em thường kháo nhau, “không biết mùa Đông năm nay Phó Nhơn có qua khỏi không hay là lên đồi chè làm Phó cho Ông Của?”. Tôi nghe thấy được, liền dẫy ra, “Ổng có kêu thì kêu thằng Vinh đó! Nó là Phó của ổng chớ can hệ gì tới tao.”

Tuy nói đùa như vậy mà suýt tí nữa thì tôi đã theo Ông Của thật. Giữa tháng 12 năm 80, tôi đau một trận, thập tử, nhất sinh. Không phải ví von mà thật sự là như vậy. Đêm đó, khoảng 10 giờ, tôi bắt đầu lên cơn đau. Đến nửa đêm, chịu không nổi, la hét dữ dội, kêu lính gác, đòi cho đi Bệnh xá. Tên nầy lém lỉnh, dở trò hoãn binh, bảo chờ đi kêu cai ngục mở khóa cửa. Tôi chỉ biết lăn lộn, rít lên từng cơn. Gần sáng, tôi chịu hết nổi, làm liều, bước lại cửa sổ, thò tay qua song sắt, kêu toáng lên, xin cho một mủi Atropine. Thằng lính gác có biết trô pin, trô péc cái gì, nạt lại bảo chờ một chốc là mở khóa. Tới sáng, lả người nên khi cửa phòng giam được mở, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy anh Mai, Đội phó Đội Rau Xanh, quấn mền, bồng đi. Đến Bệnh Xá, anh vừa đặt xuống là tôi bất tỉnh nhân sự. Từ đó về sau, tôi không biết gì nữa.Tỉnh lại thì đã nửa đêm, lại bắt đầu rên rỉ. Anh Lang cũng là tù cải tạo, được cử làm y tá trực Bệnh Xá, nghe thấy, bước lại nhỏ nhẹ bảo, “Cả Bệnh Xá chắt chiu mãi mới có được 5 ống Atropine. Từ sáng đến giờ, thấy anh đau đớn quá, không cầm lòng được, đã chích cho anh hết rồi. Bây giờ, dẫu còn thuốc cũng không dám chích cho anh nũa. Thôi, ráng ẩn nhẫn cho qua cơn.” Tôi dật dờ, khi tỉnh, khi mê như vậy trải qua 4 ngày, đêm. Sáng ngày thứ năm, thấy tôi có vẽ tỉnh táo, anh Lang cầm một ống thuốc đưa ra trước mặt tôi, không rõ là thứ thuốc gì, miệng nói, “Thuốc nầy khá mạnh, anh liệu sức kham nổi không, tôi chích cho.” Tôi cùng đường rồi, đánh liều, đưa tay ra. Quả nhiên, mủi kim chích chưa kịp rút ra, tôi cảm thấy như có ai cầm búa tạ đập mạnh vào ngực. Vừa tức thở, vừa nghe khí huyết nhộn nhạo, dâng lên, dâng lên. Sức sống từ mười đầu ngón tay, ngón chân thoát ra khỏi thân thể. Tôi kêu lên, “Anh Lang ơi! Tôi mệt quá!” mà nghe văng vẳng như tiếng của ai đó chớ không phải tiếng của mình. Tôi mơ hồ nghe thấy anh bảo, “Nằm xuống, nằm xuống.” Nếu tôi nghe lời anh, nằm xuống, có lẽ đã đi luôn rồi! May sao, tôi chỉ chống hai tay ra sau cho vững, nủa nằm, nửa ngồi, cố ngáp ngáp thở. Đợt thứ nhứt vừa hạ xuống, đợt nhộn nhạo thứ hai lại bùng lên. Có điều lạ lùng là lúc nầy tôi không cảm thấy đau đớn gì. Trí óc vẫn sáng suốt. Nhìn ra bên ngoài, buổi sáng mùa Đông mà lại có ánh nắng vàng le lói. Đồi núi dường như nhảy múa, khi gần khi xa. Tôi thầm than, “Cả đời không làm gì ác, sao đành phải vùi thây nơi rừng núi xứ lạ, quê người?” Rồi cố gắng hít thở. Bỗng nhiên, tất cả đều lắng xuống, thân tâm cảm thấy êm ả lạ thường. Đến nỗi khi về lại giường, nằm xuống đi vào giấc ngủ cô miên, êm đềm như chưa từng thấy.

Hồi đó, tôi chưa đọc Kinh Phật nên không lý giải được hiện tượng kể trên. Về sau, trong những năm cày cuốc trên Khu Kinh Tế Mới Bảo Lộc, tôi lần mò đọc Kinh Luận mới vỡ lẽ. Nếu hồi đó tôi hiểu được lẽ “Tùy Thuận Duyên Giác”, yên lặng nằm xuống, có lẽ đã dứt nghiệp từ khi ấy. Nhưng vì không hiểu biết, tôi lại cưỡng cầu, lại còn dấy lên “một niệm” oan khuất nên lại tái sinh. Nói cho rõ thì như vầy: Đạo Phật giải thích về Nghiệp bằng hình ảnh một mủi tên, ví như thân mạng. Nghiệp lực là sức mạnh phóng mủi tên thân mạng lao đi. Nghiệp dứt, mủi tên hết đà rơi xuống, thân mạng cũng dứt theo. Lúc đó, tôi đâu hiểu lý nầy nên mới cưỡng cầu, dấy lên một niệm oan khuất, tạo ra một Nghiệp Lực mới, đẩy mủi tên thân mạng tiếp tục duyên nghiệp mới.

Trên đây là những MÙA XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN, bởi vì nói là Tân Lập, Vĩnh Phú, kỳ thật nơi đó vẫn là một thung lũng hẹp nằm giữa rặng Hoàng Liên trên Đất Bắc

Xuân năm nay là bắt đầu năm thứ năm, sống trên đất Mỹ. Bốn Mùa Xuân qua đều không cảm thấy gì là Tết. Hội Tết ở đây, dẫu cho tổ chức khéo léo cách mấy cũng không thể tạo nên “không khí” của Ngày Tết nơi Quê Nhà. Con lân múa trong Hội Chợ Mỹ không thể nào sinh động như con cù giỡn pháo trên đường phố quê tôi. Con cù râu bạc đó làm thế nào sánh được với con cù râu bạc của Hội Chùa Bà, xứ THỦ, Bình Dương.

Tìm đâu thấy cành mai vàng rực rở của Ngày Tết ở Quê Nhà!? Tìm đâu thấy cảnh trẻ em mặc quần áo Tết sặc sỡ, vui đùa trên hè phố, thỉnh thoảng đốt trái pháo chuột nổ tì tạch!? Cho nên ngày Tết, cứ nằm nhà, ngâm Kiều, giải khuây:

Ngày Xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Hoặc giả, xót thân 15 năm lưu lạc phong trần thì ngâm Kiều vịnh:

Tấm lòng nhi nữ thương mà trách
Chẳng trách chi Nàng, trách Hóa công

Nguyễn Nhơn (ĐS 6)
Cuối Đông 1994

 

 

Mùa Xuân Rực Lửa

Để tưởng niệm quân dân cán chính đã bỏ mình khi  di tản khỏi mặt trận Xuân Lộc cùng Sư Đoàn 18 BB (đêm 20-4-1075 ), sau 12 ngày bị vây hãm. 

Đinh Bá Tâm

Hàng năm vào đầu Xuân, người Việt tỵ nạn Cộng Sản vùng Little Sài gòn, thành phố Westminster, lại tưng bừng tổ chức các buổi Hội chợ Tết –  với tiếng pháo đì đùng rộn rã, với chợ hoa muôn hồng nghìn tía, với những Đại hội tân niên của các hội Ái hữu, hội Đồng hương… Gặp nhau trong những ngày hội ấy, người Việt tỵ nạn có dịp ôn lại những kỷ niệm xưa, ai còn ai mất; nhớ lại mùa xuân xưa, mùa xuân cuối cùng của Miền Nam nước Việt    tự do no ấm. Để rồi sau đó là đói khổ, là đày dọa hận thù… khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi.

Đối với Tân – đã trải qua một mùa xuân rực lửa trên chiến tuyến Xuân Lộc trong suốt mười hai ngày đêm, mùa xuân 1975 đã để lại một dấu ấn sâu đậm mỗi khi xuân về trên miền đất Tự do ở hải ngoại. Anh nhớ lại mùa xuân đó trong nỗi ám ảnh kinh hoàng, những nuối tiếc khôn nguôi, chen lẫn niềm kính phục đối với những quân cán chính đã dựng một bức tường hy sinh vô bờ bến để ngăn cơn hồng thủy bạo tàn Cộng Sản!  Họ đã tham dự một trận đánh lịch sử cuối cùng trước khi Miền Nam bị sụp đổ vào 30 tháng 4 mùa xuân năm ấy!

Hơn bốn mươi năm sau, anh gặp lại những con người dũng cảm đã thoát khỏi bàn tay tử thần trong đêm rút lui 20 tháng tư năm 1975, vào buổi họp mặt mừng xuân tại một nhà hàng lớn vùng Little Sài gòn. Khi anh bước vào hội trường, đã thấy đông đảo những bạn đồng liêu từng làm việc cơ quan chính quyền tại tỉnh, tại các quận thuộc tỉnh Long Khánh; các cựu sĩ quan tiểu khu, chi khu Xuân Lộc; các cựu sĩ quan thuộc Sư đoàn 18 ngày xưa. Ngoài ra, anh cũng thấy nhiều khuôn mặt quen thân của các đồng hương hai quận Xuân Lộc, Định quán, nơi anh đã từng phục vụ hơn năm năm ở đó.

Anh đến ngồi cùng bàn với người cựu sĩ quan từng làm việc tại toà Hành chánh tỉnh, đại úy Mai. Chưa đến giờ khai mạc, nhưng hội trường đã đông nghẹt, xôn xao tiếng cười nói, tiếng chào hỏi; rộn ràng những bàn tay nắm chặt, những khuôn mặt tươi vui của các chiến hữu đã từng sống chết bên nhau trên chiến trường đẫm máu Xuân Lộc năm xưa… Cạnh sân khấu, một đám người đang vây quanh một người đàn ông cao niên, dáng cương nghị, đầu ngẩn cao, đôi mắt rực sáng sau cặp kính trắng. Anh quay sang hỏi đại úy Mai :

-Vị nào đang đứng nói chuyện kìa, trông quen quá, ông biết không?

Người bạn đồng nghiệp cũ-cũng là bạn tù thân thiết trong những năm gian khổ trong trại tù “cải tạo” Thanh Hoá – nhìn anh ngạc nhiên:

-Tướng Lê Minh Đảo đó, ông không nhớ sao?

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, chỉ huy mặt trận Xuân Lộc

Anh ngắm nhìn vị cựu tướng lãnh nổi danh đã chỉ huy Sư đoàn 18 cùng các đơn vị địa phương và tăng phái, chống trả mãnh liệt ba sư đoàn VC trong suốt gần nửa tháng trời.  Để rồi sau đó tuân lệnh cấp trên, ông đã chỉ huy một cuộc rút lui chiến thuật đúng theo kế hoạch, với hàng ngũ trật tự, bao gồm cả quân, dân, cán, chính Xuân lộc, tỉnh Long khánh . Trong 17 năm bị giam cầm tại các trại tù đất Bắc, ông luôn hướng về Miền Nam, nhớ người Mẹ đang ngóng chờ mà thời gian dài vẫn “cứ trôi qua cho bạc mái đầu”, nhớ mãi lời Mẹ nắm tay dặn dò trước ngày từ biệt : “Nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối, và thương yêu, và tự do sẽ còn mãi nhé con!” Đó là lời ca trong nhạc phẩm hùng tráng, thiết tha và cảm động “Nhớ Mẹ” do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Đỗ Trọng Huề đồng soạn trong thời gian bị biệt giam trong khu F ở trại tù  Hà Tây Miền Bắc.

Khi Tân và Mai trở lại bàn mình, người cựu đại úy giới thiệu một nữ đồng hương đang ngồi nhìn anh, hỏi:

 -Đây là cô Linh, nữ sinh trường trung học Long Khánh năm xưa …

Cô gái mỉm cười mau mắn chào Tân:

-Ông còn nhớ em không? Chắc ông quên ? Ông chỉ gặp em một hai lần hồi còn nhỏ.   Hơn bốn mươi năm rồi, còn gì!

Tân hỏi lại cô gái:

-Về phần cô, còn nhớ tôi không?

Cô gái mỉm cười hóm hỉnh:

-Dạ nhớ chứ! Em còn nhớ cả biệt anh của ông nữa kìa! Để em nói nhỏ cho ông nghe…

Cô đứng lên, tự nhiên và bạo dạn, ghé vào tai anh:

-Hồi đó người ta lén gọi ông là “Ông Phó sợ lạnh” ! Chắc ông không biết đâu!

Tân nhìn cô gái hỏi:

-Quả thật tôi không biết…Nhưng vì sao tôi có biệt danh đó?

Người thiếu phụ trẻ nhíu mày như để nhớ về quá khứ:

– Em nhớ hình như tối hôm đó ông tới nhà thăm ba mẹ em. Anh tài xế lái xe quận nhờ em nấu một nồi nước nóng để ông tắm. Anh ta nói là ông sợ lạnh nên không thể tắm nước lạnh được…

Cô nhìn Tân thắc mắc:

-Em vẫn không hiểu: vì sao trong cảnh chiến tranh nóng bỏng như thế mà ông lại sợ lạnh?

Tân cười nói đùa:

-Có lẽ lúc đó tôi “lạnh cẳng “ vì sợ chết đó cô ạ!

Những kỷ niệm xưa qua mẩu chuyện nho nhỏ về tình thân thiết giữa người dân với viên chức chính quyền vào thời điểm chiến tranh đang rực lửa…khiến anh không làm sao quên được cuộc chiến tại Xuân lộc, mùa Xuân  năm 1975.

                                                                                            *   *    *

Quận Xuân Lộc là nhiệm sở thứ ba của Tân trong bảy năm công vụ của một  đời công chức ngắn ngủi, sau hai quận Lộc Ninh và Định Quán. Trước cuộc chiến tháng 4 năm 1975, trong ba năm phục vụ tại đây, quận Xuân Lộc đã cho anh cảm giác êm đềm, yên ổn của một thị trấn, dù bé nhỏ nhưng có nếp sống  không khác biệt với đô thành Sài gòn là bao! Về mặt quân sự, Xuân Lộc là vị trí chiến lược quan trọng, vì đó là ngã ba của hai quốc lộ 1 và 19 giao nhau. Đây cũng là cửa ngõ của thủ đô Sàigòn từ Miền Trung vào, qua ngã ba Dầu Giây. Ngoài ra, Xuân Lộc cũng nằm trên đường giao liên của địch, giữa chiến khu C và D, với mật khu Mây Tào, Xuyên Mộc của Phước Tuy. Do đó, về mặt chiến lược, mặt trận Xuân Lộc có thể ví như một Điện Biên Phủ thứ hai ở thời điểm 1975.

Tình hình an ninh tại Xuân Lộc bắt đầu căng thẳng sau khi Định Quán thất thủ ngày 17-3-1975. Thế rồi vào lúc 5 giờ sáng ngày 9-4, khi một ngày mới bắt đầu, dân chúng dọn hàng ra chợ, các tín đồ Thiên Chúa Giáo đi lễ sớm tại các nhà thờ,  bất thình lình VC nã hàng ngàn quả pháo đủ loại vào thành phố, đa số rớt vào chợ, nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Trận pháo kích kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ với hơn 300 trái đạn rót xuống liên tục không ngớt.

Sau bốn ngày chịu đựng cuộc chiến ác liệt, dân chúng tại thị xã Xuân Lộc bắt đầu thiếu thốn lương thực. Vô số đồng bào từ các xã quanh thị trấn chạy về tỵ nạn tại ấp Tân Phong , gần chi khu Xuân Lộc. Nhận được công điện kêu cứu của Quận, một phái đoàn đại diện Hội đồng Tỉnh đến tiếp tế thực phẩm cho đồng bào chiến nạn. Sau đó Bộ Xã Hội cung cấp thêm hai tấn gạo và lương khô. Để thực hiện việc cấp phát, Phó quận đã huy động các Trưởng chi, cán bộ Xây dựng nông thôn  tại Quận tham gia công tác. Anh cho tháo mui chiếc xe Jeep của quận để dễ dàng chở gạo. Đồng thời lập thủ tục cấp phát lưu động nhanh chóng cho đồng bào chiến nạn ngay tại xe.  Việc cấp phát  thực hiện chưa đến một tiếng đồng hồ lại bị địch pháo kích, cán bộ lẫn dân chúng bị thương, toán cấp phát lại di chuyển đến địa điểm mới…

Trong đoàn người xếp hàng chờ lãnh khẩu phần lương thực hôm ấy, anh nhận thấy nhiều khuôn mặt thân quen: các sĩ quan hồi hưu đã  từng phục vụ tại tiểu khu Long khánh;  các thầy giáo, cô giáo , các học sinh, trong đó một cô nữ  sinh lớp 12 trường trung học Long khánh mà anh đã gặp trong lần đến chơi nhà một người quen. Cô nữ sinh tên Linh ấy có dáng mảnh mai- có lẽ do thiếu thốn lương thực trong mấy ngày qua-  vẫn  nhí nhảnh, vui tươi. Sau khi lãnh phần gạo trợ cấp cho gia đình, cô tình nguyện phụ gíúp việc cấp phát gạo, mặc dù cô cũng biết đây là công tác khá nguy hiểm, bị lãnh đạn pháo kích của địch một cách dễ dàng!

Chiều hôm ấy, sau khi tạm xong công tác,  cô Linh ngỏ lời mời “ông Phó ghé qua nhà em uống nước nghỉ mệt …”.  Anh nhận lời và theo cô gái  về nhà tại ấp Tân phong gần đó. Anh muốn đến nhà để cám ơn gia đình cô đã có người con gái gan dạ và có tinh thần thiện nguyện hăng say như vậy! Người nhà của cô mời anh ở lại dùng “bữa cơm đạm bạc”, nhưng anh từ chối vì trời sắp tối, trên đường về Chi khu sẽ gặp nguy hiểm. Anh chỉ xin được tắm cho khoẻ người trước khi trở về. Anh nói nhỏ với người tài xế quận rằng, anh cảm thấy muốn bịnh, nên nhờ người nhà cô gái nấu cho một nồi nước sôi để tắm! Không biết người lái xe trẻ tuổi, có phải muốn có “câu chuyện làm quà” nên đã nói điều gì với người nữ sinh xinh đẹp ấy hay không , mà bốn mươi năm sau, cô vẫn còn nhớ biệt danh “ông Phó sợ lạnh”?

                                                                                        *   *   *

Một tuần sau ngày chiến cuộc bùng nổ, phái đoàn báo chí Việt nam và ngoại quốc đến thăm chiến trường Xuâ Lộc. Sau phần thuyết trình của các giới chức quân sự và hành chánh tỉnh Long Khánh, Phó quận được giao nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn thăm viếng thị xã. Họ đã chứng kiến cảnh nhà thờ Xuân Lộc bị pháo kích, nhà cửa dân chúng bị sập đổ, chợ búa bị thiêu rụi do địch quân nã trọng pháo bừa bãi vào khu dân cư. Họ cũng được nghe trình bày về dự án tái thiết thị trấn Xuân Lộc sau khi địch quân bị đẩy lui khỏi thành phố và các xã chung quanh.  Tuy nhiên, hôm ấy các ký giả trong phái đoàn tỏ ra không tin tưởng vào báo cáo của thuyết trình viên. Cuối buổi họp, một nhà báo Việt nam đến tâm sự với Phó quận, giọng nghiêm trọng:

– Tôi đã theo chân các đơn vị quân ta rút lui từ Miền Trung về… Sàigòn sắp mất đến nơi rồi ông ạ! Ông cứ tin tôi đi… Khi nào thấy các đơn vị sửa soạn lên đường, các quân xa lắp “rờ mọoc” kéo đi thì ông hãy nhanh chân theo họ, kẻo trễ…

Phái đoàn báo chí lên trực thăng rời Xuân Lộc, rời chiến trường đang nghi ngút khói lửa, giữa tiếng ì ầm của đại pháo, của xe tăng đang giao chiến nhau, giữa âm thanh cuồng nộ của bom đạn …Tất cả đã để lại trong lòng anh bao phân vân lo lắng, bao thắc mắc ưu phiền. Tất cả xoay quanh ý tưởng: “Đi hay Ở ” ?! Anh tự hỏi lòng: mình có thể viện cớ xin đi công tác ở Sài gòn, bỏ mặc người dân tỵ nạn Xuân Lộc, bỏ mặc phẩm vật trong kho không ai chỉ huy công tác cứu trợ  mà ra khỏi nơi đây để bảo toàn sinh mạng chăng?  Tuy nhiên tinh thần trách nhiệm, niềm tự hào của một Cán bộ Hành chánh có cho phép mình trốn chạy khỏi chiến trường như một kẻ “đào ngũ trong thời chiến” hay không?…

Ngày hôm sau,  khi  ra sân bay dã chiến tại Tân Phong  để gởi  người bà con bị bệnh, theo chuyến trực thăng tải thương về Sàigòn, anh thấy rất nhiều thương binh, tử sĩ được đưa vội vã lên trực thăng, máu tươi loang đầy sàn máy bay! Anh tự nhủ: Những chiến binh hào hùng này có bao giờ cân nhắc, lựa chọn giữa  “chiến đấu hay trốn chạy khỏi chiến trường” không?  Anh lên xe trở về văn phòng Quận, với quyết tâm: phải ở lại chiến trường Xuân Lộc!

                                                                                               *  *  *

Thế rồi lệnh rút bỏ Xuân Lộc bất ngờ được thông báo trong cuộc họp tại Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 18 vào trưa 20-4-1975, trong khi các đơn vị tại mặt trận Xuân Lộc vẫn còn giữ vững vị trí chiến đấu. Khi phê bình cuộc rút lui khỏi Xuân Lộc, sử gia John Bowman đã viết trong “The World Almanac – Vietnam War” như sau:  “Cuộc rút lui chiến thuật bỏ ngõ Xuân Lộc cho VC vào chiếm thị trấn  ngày 20-4-1975 đã  khởi đầu cho việc thất thủ Saigon và Miền Nam Việt nam…”

Cuộc rút lui bắt đầu từ chiều ngày 20-4, khi trời vừa tối.  Tất cả các lực lượng tại đây, theo thứ tự di chuyển theo Liên tỉnh lộ 2, phát xuất từ Tân Phong, Long Giao, băng qua mật khu Bình Giã của VC,  đến Đức Thành, Long Lễ, Bà Rịa , với 3 cánh quân của Sư đoàn 18 BB, Tiểu khu Long Khánh và ĐPQ, Lữ đoàn 1 Dù và Tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Sau đó là các đơn vị hành chánh Tỉnh, Quận; Cảnh Sát sát Tỉnh , Quận….

Theo đúng chương trình, đến 12 giờ đêm Tiểu khu Long Khánh và Chi khu Xuân Lộc mới bắt đầu di chuyển. Thiếu tá Quận trưởng, Phó quận cùng các Sỹ quan Chi khu, các Trưởng Chi Quận Xuân Lộc di chuyển trên hai xe với vũ khí cá nhân … Đoàn xe vừa ra khỏi cổng đã nghe tiếng B40 bắn vào Chi khu ào ạt,.. Trên Liên Tỉnh lộ 2, đồng bào lũ lượt gồng gánh, bế bồng nhau, theo chân đoàn quân cán chính di tản. Cả một quanh cảnh bi hùng diễn ra trong đêm tối. Một dòng quân xa, chen lẫn bộ binh, dân chúng …đã lặng lẽ âm thầm đi dưới ánh sao đêm! Không một ánh đèn, không một đóm lửa thuốc lá, không một tiếng động ồn ào hỗn loạn! Trong quanh cảnh âm u quạnh quẽ đó, chỉ nghe tiếng rì rầm của quân xa, tiếng cót két của xe tăng M48 hộ tống đoàn di tản.

Thỉnh thoảng chỉ thấy ánh lửa pháo kích của địch theo sát đoàn di tản… Trung tá Lê Quang Định, Tiểu khu phó Tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương vì đạn B40 của Cộng quân. Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng bị địch bắt sống… Tại nhiều khúc quanh ở Cẩm Mỹ, người bộ hành di tản lạc lối, rơi xuống hố bên đường…Người tài xế xe Quận, một Nghĩa quân biệt phái, vừa căng mắt lái xe trong đêm tối, vừa lẩm nhẩm cầu nguyện…

Đoàn di tản đến ranh giới tỉnh Phước Tuy lúc trời hừng sáng. Vừa thấy lá cờ vàng phất phới trên nóc đồn Nghĩa quân Bà Rịa, mọi người đều vui mừng đến tuôn tràn nước mắt!  Những chiếc nón sắt tung lên trời, những tiếng reo hò mừng vui vang lên trong buổi sớm của vùng đất an toàn, sau một đêm dài căng thẳng , đầy mùi tử khí!

Tân về đến Sài gòn vào buổi chiều hôm ấy. Vợ và các con ôm chầm lấy anh, mừng mừng tủi tủi. Mẹ anh nhẹ nhàng trách mắng:

– Sao bây giờ con mới về? Vợ con ngày nào cũng dò hỏi tin tức, lên tận căn cứ quân sự Long Bình để tìm con! Con muốn làm anh hùng hay sao mà còn ở lại?  May mà Trời Phật thương cho con an lành trở về đó con ạ!…

Anh cúi đầu thưa với Mẹ: con chẳng muốn làm anh hùng ! Nhưng làm sao con rời bỏ đồng bào chiến nạn để chạy lấy  một mình? Vì họ cần có con…

                                                                                      *   *   *

Đã bốn mươi năm trôi qua, kể từ đêm di tản khỏi Xuân Lộc, dòng đời vẫn lạnh lùng trôi như nước chảy dưới cầu. Nhưng trải qua bao tang thương biến đổi cuộc đời, Tân vẫn không quên được trận đánh hào hùng tại mặt trận Xuân Lộc năm xưa. Đó là trận đánh cuối cùng, kết thúc một trang sử oanh liệt của Miền Nam nước Việt.

Đêm nay Tân viết những dòng hồi ức này, đã bốn mươi ba năm trôi qua, sau ngày Quân đội VNCH rút khỏi mặt trận Xuân Lộc, dẫn đến sự sụp đổ Miền Nam nước Việt, khiến chúng ta phải đi tỵ nạn ở một đất nước xa xôi bên kia Thái Bình Dương.  Nơi đây không còn bom rơi đạn nổ, không còn đấu tố hận thù, không còn ngục tù đày đọa!

Hằng năm đến ngày 4 tháng 7, người dân Mỹ đốt pháo bông ăn mừng Lễ Độc Lập của đất nước Hoa kỳ, kỷ niệm ngày họ đã đứng lên dành chính quyền từ tay người Anh, xây dựng một Hợp chủng quốc đầy Tự Do, Nhân Ái và Hùng Cường…Cứ mỗi khi nhìn những chùm pháo bông rực sáng trên bầu trời miền đất Tự do này, Tân lại liên tưởng đến ánh hỏa châu chập chờn, le lói trên đường di tản khỏi mặt trận Xuân Lộc năm xưa. Anh như còn thấy lại lá cờ vàng lẻ loi phất phới trong đêm tối,  trên chiến trường Xuân Lộc còn bốc khói,  như buồn bã chia ly, như quyến luyến vẫy gọi, khi đoàn di tản rời bỏ nơi ấy. Và sáng hôm sau, 21-4-1975, anh lại thấy lá cờ vàng thân yêu xuất hiện dưới ánh bình minh, trên nóc lô cốt đồn Nghĩa quân ở Bà Rịa,  khi đoàn quân dân cán chính di tản trên Liên tỉnh lộ 2 . Nơi đó họ đã tìm lại Sinh Lộ, sau một đêm dài vượt qua Tử Lộ!

Tam Bách Đinh Bá Tâm (ĐS 12)

Little Saigon 20-4-2018

Ở Hiền Gặp Lành

Bửu Uyển

Từ lúc còn học Trung học, tôi đã thích nghề dạy học, thích được tiếp xúc, gần gũi với các em học sinh. Nhưng số phận lại không cho tôi đậu vào trường Sư Phạm, mà lại đậu vào trường Quốc Gia Hành Chánh.

            Sự  yêu thích nghề dạy học cứ theo  đuổi tôi , ngay cả khi tôi đã là một viên chức hành chánh.Năm 1967, tôi được bổ nhiệm làm Phó Quận Trưởng quận Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên. Sự yêu thích được dạy học đã thúc đẩy tôi làm đơn gởi đến Ty Giáo Dục tỉnh Thừa Thiên, sau khi được sự chấp thuận của Trung Tá Quận Trưởng.  Ty Giáo Dục Thừa Thiên đã đồng hóa văn bằng Tốt Nghiệp Quốc Gia Hành Chánh của tôi với văn bằng Cử Nhân. Và họ sắp xếp cho tôi dạy Công Dân Giáo Dục lớp Đệ Tứ và Quốc Văn lớp Đệ Ngũ tại trường Trung Học Phú Lộc. Tôi thỏa mãn với ước nguyện của mình là được sống và sinh hoạt với các em học sinh tươi trẻ . Tôi chăm chỉ giảng dạy và rất thương mến các em. Số học sinh của tôi vào khoảng 5, 6 chục em, cả nam lẫn nữ. Trong số các nam sinh lớp Đệ Tứ, tôi mến em Liêm nhất. Em thông minh, tánh tình hiền hòa, các bạn trong lớp ai cũng mến em.

            Một hôm, khi đi quan sát ở ấp Hòa Mậu, thuộc xã Lộc Trì, tình cờ tôi gặp em Liêm. Em sống chung với cha mẹ nơi đó và là đứa con duy nhất của gia đình. Liêm vui vẻ mời tôi ghé thăm gia đình em. Đây là một gia đình quá nghèo, nhà cửa rách nát , xiêu vẹo. Cha mẹ em trồng khoai  sắn quanh nhà , và chỉ  đi làm thuê, làm mướn cho những gia đình khá giả trong làng, chứ không có công việc làm  ổn định.  Tôi thành thật nói với Ông Sửu, cha của cháu Liêm: ” Thưa bác, nếu bây giờ bác có chút ít tiền, bác làm gì để  cải thiện cuộc sống của gia đình và nhất là giúp cho em Liêm được tiếp tục ăn học?” Ông Sửu trầm ngâm một chút , rồi nói : ” Thưa thầy, nếu tôi có ít tiền, tôi sẽ mua lại 2 sào ruộng ở gần nhà đây để canh tác, có thể sống được. Hai sào ruộng đó đã bị bỏ hoang từ mấy năm nay…” Sau đó, tôi đã nhờ ông Xã Trưởng liên lạc với chủ ruộng, mua lại phần đất ấy , rồi giao cho gia đình ông Sửu canh tác.

            Từ khi có hai sào ruộng để cày cấy, gia đình ông Sửu bắt đầu có cuộc sống tương đối đầy đủ, không còn thiếu thốn như trước nữa.

            Vào một ngày Chúa Nhật, vợ chồng tôi đi thăm một trại chăn nuôi heo và gà của Thầy Tứ ở Nam Giao. Thấy những con heo, giống Durock, da màu vàng, vừa lạ mắt vừa dễ thương. Tôi bèn nghĩ đến gia đình em Liêm, nên mua 2 con heo con, một cái, một đực, mang biếu gia đình ông Sửu. Ông Bà mừng rỡ và chăm sóc kỹ lưỡng lắm , nên heo chóng lớn.  Chỉ chín, mười tháng sau, ông Sửu khoe là heo đã gần 100kí.  Ông Sửu gầy giống cho heo đẻ. Lứa đầu tiên, heo đẻ được 7 con. Trong làng chưa ai có giống heo này, nên nhiều người hỏi mua, ông không bán. Nhưng sau thấy được giá, ông bán bớt 5 con, còn để lại 2 con tiếp tục nuôi gầy giống. Riêng con heo đực, bà con trong làng xin phối giống, ông cũng thu được khá nhiều tiền.

            Trong những ngày gần Tết Đinh Mùi, khi vào lớp học, tôi thấy nhiều em học sinh đã mặc áo quần mới. Nhưng em Liêm vẫn mặc áo quần bình thường như mọi ngày.

            Nhân dịp cuối tuần, vợ chồng chúng tôi qua chợ Đông Ba mua cho Liêm một bộ áo quần mới,   áo “sơ mi” trắng, quần dài màu xanh đậm. Hôm sau, tôi đem bộ áo quần mới  này tặng cho Liêm. Em mặc vừa vặn, nét mặt vui mừng , hớn hở. Ông Sửu cảm động nói : ” Cháu Liêm năm nay đã 15 tuổi, đây là lần đầu tiên cháu có một bộ áo quần mới nhân dịp Tết sắp đến, không biết nói gì cho hết  để cám ơn ông bà Phó

            Mấy tháng sau, vào một buổi trưa, ông Sửu đến tìm tôi ở quận, mặt mày buồn bã, ngơ ngác. Ông nhìn trước, nhìn sau, thấy không có ai, ông ghé sát vào tai  tôi và xúc động nói : “Ông Phó ơi , thằng Liêm bị “giải phóng’ bắt đi mất rồi, họ nói họ chiêu mộ thằng Liêm làm du kích chứ không có ý làm hại gì nó đâu !” Tôi sững sờ, thương cháu Liêm, và thương ông Sửu quá vì ông chỉ có một đứa con mà thôi. Tôi miễn cưỡng an ủi ông Sửu: “Bác yên lòng, bác sống thật thà, chất phác, chắc Trời sẽ thương đến cháu Liêm mà phù hộ cho cháu

            Khoảng năm 1968, 1969 và 1970, chính phủ giúp cho các xã, ấp trùng tu, tái thiết lại những cơ sở dân dụng công cộng như đê điều, cầu cống, đường sá, đình làng v.v. Dân chúng xã Lộc Tụ ( Quận Phú Lộc) đã lập dự án,xin trùng tu lại đình làng của xã,do đã bị hư hại nặng nề vì chiến tranh. Đơn xin của dân chúng xã Lộc Tụ đã được Hội Đồng Bình Định Và Phát Triển tỉnh Thừa Thiên chấp thuận, được Cơ Quan Viện Trợ Mỹ ( USAID) tài trợ.

            Với ngân khoản được cấp, và với quyết tâm xây dựng lại quê hương của dân chúng, đình làng xã Lộc Tụ đã được tái thìết, đẹp đẻ, uy nghi. Hội Đồng Xã quyết định tổ chức Lễ Khánh Thành đình làng mới một cách long trọng , với sự chủ tọa của Trung Tá Quận Trưởng. Nhưng Trung Tá Quận Trưởng  đã ủy nhiệm tôi thay mặt cho ông trong buổi Lễ Khánh Thành đó.

            Đến ngày, giờ đã được ấn định, tôi đi đến đình làng Thừa Lưu để làm nhiệm vụ. Đình làng nằm cách quốc lộ khoảng 500 mét. Khi xe của tôi dừng lại ở đầu con đường mòn dẫn vào đình làng, tôi thấy nhiều người đứng ở đó. Tôi nghĩ là họ đứng đón tôi như những lần trước. Nhưng khi tôi vừa bước xuống xe, thì hai vị bô lão đến nắm tay tôi và nghiêm nghị nói : “Ông Phó quay về quận ngay đi, ông không nên vào đây!”

            Nhìn vẻ mặt bồn chồn, lo lắng của mọi người chung quanh, tôi hiểu, họ không muốn tôi đi vào đình làng. Hình như có vấn đề gì đó không tốt lành sẽ xảy đến cho tôi, nếu tôi đi vào đó.

            Tôi vội vã lên xe quay về quận. Khi đến trụ sở xã Lộc Tụ,tôi vào văn phòng xã, sử dụng máy truyền tin của xã, liên lạc với Trung Tá Quận Trưởng, báo cáo sự việc vừa xảy ra.

            Với kinh nghiệm, Trung Tá hiểu ngay có một sự việc gì đó không bình thường, có thể xảy ra ở đình làng. Ông lập tức điều động 2 trung đội địa phương quân cơ hữu của quận, một tiểu đội Cảnh sát Dã Chiến, phối hợp với một trung đội Nghĩa Quân của xã, mở cuộc hành quân bao vây khu vực đình làng Thừa Lưu. Lực lượng hành quânđã mau chóng bắt được 2 tên du kích và 3 kẻ lạ mặt tình nghi. An Ninh Quân Đội đã lấy khẩu cung và khai thác ngay 2 tên du kích . Kết quả được biết :  Chúng âm mưu ám sát ngươì sẽ đến chủ tọa, cắt băng khánh thành đình làng, bằng cách bố trí 2 khẩu thượng liên, một khẩu đặt trên cây đa, một khẩu đặt trên nóc đình làng.  Cả 2 khẩu thượng liên đó đều chĩa mũi vào vị trí vị chủ tọa sẽ đứng cắt băng khánh thành. Mật lệnh khai hỏa là một hồi chiêng trống từ đình làng vang lên. Trường hợp âm mưu này được thực hiện , thì vị chủ tọa cắt băng khánh thành không thể nào thoát chết được. Nếu tôi không được cảm tình của dân chúng ở đây, họ sẽ không cảnh giác, và ngăn cản tôi đâu, có lẽ ngày đó tôi đã chết ở đình làng Thừa Lưu rồi.

            Ngày 30 tháng 8 năm 1970, toàn quốc tổ chức bầu cử bán phần Thượng Viện. Cuối ngày , tôi có nhiệm vụ áp tải tất cả thùng phiếu của Quận Phú Lộc về Tòa Hành Chánh tỉnh để kiểm phiếu. Đoàn xe chở thùng phiếu gồm nhiều chiếc, một xe bọc thép ( chạy bằng bánh cao su) dẫn đầu, kế đến là một xe GMC chở thùng phiếu, sau đó là 2 xe GMC chở Nghĩa Quân theo hộ tống. Khi đoàn xe đến một khoảng đồng trống gần xã Lộc Điền ( truồi) thì bị VC phục kích. Chúng bắn cháy chiếc xe bọc thép dẫn đầu, nhưng bị các nghĩa quân phản ứng dữ dội, chúng phải rút lui, không kịp phá chiếc xe chở thùng phiếu. Tôi hoảng sợ, nhảy ra khỏi xe, rồi lăn xuống một cái rãnh cạn bên đường. Tôi nghĩ rằng càng xa chiếc xe chở thùng phiếu , thì càng an toàn, nên tôi bò vào những bụi rậm gần đó. Quá lo sợ, trời lại tối nên tôi không nhận ra được phương hướng nào nữa. Tôi cứ cắm đầu, cắm cổ bò. Khi tôi bò đến một khoảng đất có nhiều bụi gai, thì một tiếng nói vang lên, tuy nhỏ nhưng rõ ràng : ” Ông Phó !  ông Phó ! dừng lại ngay, ông đi về hướng đó là chết, chúng nó bố trí dầy đặc ở đó. ” Phản ứng tự nhiên, tôi dừng lại, nhìn quanh xem  ai đã nói với tôi câu đó. Nhưng tôi rụng rời  kinh hải khi một du kích xuất hiện, tay lăm lăm khẩu súng AK47.Anh ta lôi tôi xuống một hố cá nhân gần đó, rồi lễ phép nói : “Thưa thầy, em là Liêm đây, thầy đừng sợ, thầy cứ nằm dưới hố cá nhân này , ém đến sáng, khi nào có lính quận đến, rồi hãy ra. Em đi đây.” Anh ta biến mất sau những bụi rậm.

             Đang nằm dưới hố, bỗng tay tôi chạm vào một con vật gì lạnh ngắt. Tôi rùng mình sợ hãi, vì nghĩ rằng đó là một con rắn. Trong hoàn cảnh nầy mà bị rắn độc cắn., thì vô phương cứu chữa. Nhờ một chút ánh sáng le lói của mãnh trăng hạ tuần từ trên cao rọi xuống, tôi thấy đó là một con nhái chứ không phải con rắn. Tôi bắt con nhái , rồi nhẹ nhàng thả nó lên miệng hố. Tôi thì thầm với nó : ” Nhái ơi, tau cứu mầy đấy nhé ! đi về nhà đi, kẻo cha mẹ mầy trông !”

            Tôi chợt nghĩ số phận của tôi, rồi sẽ ra sao đây. Tôi nhắm mắt lại và lâm râm cầu nguyện : ” Lạy Chúa, , lạy Mẹ. con xinphú thác mạng sống của con trong tay Chúa, trong tay Mẹ. Xin Chúa, xin Đức Mẹ che chở, phù hộ cho con !” Tự nhiên tôi thấy bớt sợ hãi, và trong đầu óc tôi, bắt đầu nhen nhóm chút hy vọng.

            Tôi nằm im dưới hố, nhưng câu nói của chú du kích mà tôi không nhìn rõ mặt, cứ văng vẳng bên tai tôi: “Thưa ông Phó, em là Liêm đây, thầy đừng sợ!”. Liêm là ai trong hàng ngũ địch quân mà lại cứu tôi. Đầu óc tôi rối loạn . Quá mệt mõi, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết.

            Tôi giật mình thức giấc, mơ hồ nghe như có tiếng bước chân đi trên lá khô. Nhìn qua kẽ lá ngụy trang trên miệng hố, tôi thấy Đại Úy Thuật, Chi Khu Phó, mặc đồ trận, tay cầm khẩu M16, dẫn đầu một toán lính, đi hàng ngang, đang tiến về phía tôi. Tôi mừng rỡ, la thật lớn : “Đại Úy Thuật, tôi  đây !” Đại Úy Thuật dừng lại , đứng im một lát rồi hô lớn : “Ai đó! lập lại đi !..” Tôi dùng hết sức mình, kêu lớn : ” Đại úy Thuật, tôi đây, Phó Uyển đây !” Đại úy Thuật và một nghĩa quân đến kéo tôi từ dưới hố lên. Tôi không đi được, nên một anh nghĩa quân phải cõng tôì đi về hướng quốc lộ.

             Đại Úy Thuật đã báo cáo  sự việc với Trung Tá Quận trưởng, nên khi chúng tôi vừa ra đến quốc lộ, đã thấy Trung Tá Quận Trưởng đứng đón tôi ở đó. Ông ôm chầm lấy tôi và cảm động nói : “Chúc mừng ông Phó, tôi cứ nghĩ là ông Phó đã bị tụi nó bắt đi rồi !”

            Trung Tá Quận trưởng cho xe đưa tôi lên nhà tôi ở Huế ngay. Bước vào nhà, tôi quá xúc động, ôm nhà tôi vào lòng, và chỉ nói được một tiếng “Em” khi nghĩ lại những sự việc đã xảy ra đêm hôm qua.

            Ngay khi ấy, nhiều xe hơi dừng lại trước nhà tôi. Đại Tá Tỉnh Trưởng, Ông Phó Tỉnh Trưởng, nhiều vị Trưởng Ty và vài nhân viên tháp tùng Đại Tá, đến thăm tôi. Đại Tá thân mật nắm tay tôi và nói : ” Chúc mừng ông Phó, thấy ông Phó trở về bình an, tôi mừng lắm ! Tối hôm qua, khi nhận được tin chẳng lành, tôi đã điện thoại cho Cha Trinh ở Giáo Xứ Phú Cam, nhờ Cha dâng một Thánh Lễ, xin bình an cho ông Phó . Thật bất ngờ, sáng nay nghe tin ông Phó an toàn trở về, tôi vui mừng lắm !”

            Mọi ngươì đến bắt tay chúc mừng tôi.  Thì ra việc tôi mất tích đêm hôm qua, đã gây xúc động  cho các giới chức tỉnh Thừa Thiên. Nay thấy tôi bình an trở về, ai cũng vui mừng. Nhưng không một ai biết lý do nào đã giúp tôi an toàn trở về.

            Khi những vị khách đã ra về, nhà tôi đến bên tôi, ngạc nhiên hỏi : ” Anh, có chuyện gì vậy ?” Tôi vỗ vỗ vào vai nhà tôi và nói :”Anh sẽ kể cho em nghe , chuyện dài dòng lắm !”

            Năm 1971, tôi được thuyên chuyển đi làm Phó Quận Hương Thủy. Cuối năm 1972, tôi được điều động ra làm Phó Tỉnh Trưởng Quảng Trị. Tháng 12 năm 1973, tôi lại được đổi vô làm việc ở tỉnh Phong Dinh ( Cần Thơ) cho đến ngày mất nước. Tôi đi tù cải tạo cho đến 1982 mới được cho về.

            Gia đình tôi đi dịnh cư ở Mỹ theo diện HO từ tháng 11/1992.

            Năm 2008, được tin bà mẹ nuôi của tôi đau nặng. Bà đang ở Vỹ Dạ, Huế. Năm ấy bà đã gần 100 tuổi. Vợ chồng chúng tôi vội vã về thăm bà. Ngoài thuốc men đầy đủ, mỗi ngày nhà tôi nấu cháo, hầm súp cho bà thời. Thật vui mừng, vì chỉ mấy ngày sau, bệnh tình của bà mẹ nuôi của tôi đã thuyên giảm, ăn uống bình thường, nói cười vui vẻ.

            Một hôm, chúng tôi nhận được điện thoại của chị Cam Đường, bạn học cùng lớp với nhà tôi , mời chúng tôi xuống Cầu Hai chơi, nhân dịp làng tổ chức cúng vị Thần Hoàng của làng. Chị ấy cho biết là vui lắm, ở xa về mà gặp dịp nầy là hên lắm đó ! Chúng tôi nhận lời mời của chị Cam Đường ngay, và hứa sẽ xuống Cầu Hai đúng ngày, giờ. Chúng tôi thuê một xe nhỏ để đi. Nhà tôi còn rủ thêm 2 người bạn nữa, cùng đi với chúng tôi.

            Đã được báo trước, nên khi xe vừa đến chợ Cầu Hai , đã thấy chị Cam Đường đứng đón chúng tôi. Chị ấy dẫn chúng tôi đến đình làng Đông Lưu ( Cầu Hai). Hôm nay là một ngày hội lớn của làng. Cờ đuôi nheo được treo khắp nơi. Dân làng hớn hở, tấp nập tụ tập ở đình làng.

            Chúng tôi vào ngồi ở hàng ghế cuối cùng của Giang Đại Sãnh. Trước mặt chúng tôi là một bàn thờ lớn, hoa quả, hương đèn rực rỡ; một con heo quay vàng rộm, đặt trên một cái bàn ở trước bàn thờ. Vừa ngồi yên chỗ, một hồi chuông,  trống bát nhã vang lên rộn rã, báo hiệu giờ hành lễ sắp đến. Một vị bô lão, mặc áo rộng xanh, đầu đội khăn đóng, bước ra nói với bà con tham dự lễ Chạp đang ngồi trong đại sãnh:” Thưa quí vị quan khách, thưa quí bà con, hôm nay chúng ta tụ họp nơi đây để cử hành lễ ” Chạp”, kính ngày húy kỵ Ngài khai canh  của vùng đất mà chúng ta đang sống. Với lòng thành kính và biết ơn, chúng ta sẽ cử hành những nghi lễ cổ truyền mà ông cha chúng ta đã truyền lại cho con cháu, để dâng lên Ngài khai canh. Trước khi cử hành các nghi lễ, chúng tôi xin giới thiệu một số quan khách đã đến tham dự ngày giỗ “Chạp” hôm nay. Chúng tôi xin giới thiệu Ông Phó Chủ Tịch Huyện Phú  Lộc, chúng tôi xin giới thiệu Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã Lộc Trì, chúng  tôi xin giới thiệu vị Đại diện Mặt Trận Tổ Quốc huyện Phú Lộc, chúng tôi xin giới thiệu đồng chí Lê Văn Liêm, Chỉ huy quân sự xã Lộc Trì..”

            Vừa nghe vị bô lão xướng tên Lê Văn Liêm, tôi sững sờ tự hỏi : ” Đây có phải là em Liêm, học trò của tôi ngày trước không ?”. Vừa vui mừng, vừa phân vân, tôi đi đến trước mặt người đàn ông vừa đứng dậy chào bà con khi được xướng tên là Lê Văn Liêm. Đứng trước mặt anh ấy, dù đã 41 năm trôi qua, tôi vẫn nhận ra ngay đây là em Liêm , người học trò của tôi ngày xưa, mà tôi thương mến. Tôi cảm động nói với Liêm : “Em Liêm, em có nhận ra tôi không ? Tôi là thầy Uyển đây” Chàng thanh niên sau một khoảnh khắc ngơ ngác, đã ôm chầm lấy tôi: “Ông Phó , ông Phó..”Liêm nghẹn ngào, không nói thêm gì được nữa, hai hàng nước mắt chảy dài xuống má..

            Liêm quên mình đang đứng giữa đình làng, và có nhiều người hiện diện nơi đây, anh quay xuống hàng ghế kế cận và vui mừng gọi lớn : “Ba ! ông Phó đây nè!”

Một cụ già mặc áo dài đen, bịt khăn đóng, đứng bật dậy, chạy đến ôm chầm lấy tôi. Ông cảm động thì thầm bên tai tôi: ” Ông Phó, ông còn sống, tạ ơn trời đất” Đôi mắt ông đỏ hoe..

            Liêm nói với vị bô lão điều khiển chương trình: ” Thưa bác Hương Cả, tình cờ hôm nay, chúng tôi gặp lại một người bà con thân thiết của gia đình, đã thất lạc gần 50 năm nay. Xin bác cho phép gia đình chúng tôi về nhà trong chốc lát, chúng tôi sẽ trở lại ngay.”

            Liêm và ông Sửu kéo tay tôi ra ngoài. Ông bà Sửu cứ nắm chặt tay tôi, như sợ tôi biến đi mất ( ?)

            Nhà của ông bà Sửu bây giờ là một căn nhà gạch, lợp toles, không còn là một căn nhà lá lụp xụp như xưa nữa. Bước vào nhà, chúng tôi vừa ngồi xuống ghế, bỗng  ông bà Sửu và Liêm quì xuống trước mặt chúng tôi, rồi cùng cúi gập người , lạy 3 lạy, trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Tôi đỡ ông bà Sửu đứng dậy, và cảm động nói : “Hai bác làm gì vậy? Sao lại dành cho chúng tôi sự tôn kính quá to lớn như vậy ? Chúng tôi có công lao gì để xứng đáng nhận đại lễ này ?”. Ông Sửu nói ngay:”3 lạy nầy cũng chưa xứng đáng với công ơn mà ông Phó đã dành cho gia đình tôi” Ông chỉ ra đám ruộng ngoài xa, xanh mướt, mới trổ đòng đòng. Ông chỉ vào đàn heo đông đúc ở cuối vườn, ông chỉ vào căn nhà…và nói : ” Tất cả cũa cãi  nầy là của ông Phó đã cho gia đình tôi .”

            Tôi thân mật cầm tay ông Sửu và nói : ” Bác Sửu ơi, 2 sào ruộng và mấy con heo , có đáng gì so với ân huệ to lớn mà cháu Liêm đã dành cho tôi !”. Liêm vội ngắt lời tôi:” Thưa thầy, chuyện xảy ra đêm hôm ấy, không một ai hay biết. Vậy em xin thầy hãy quên chuyện ấy đi, em cám ơn thầy!” Ông Sửu không biết chuyện gì, chỉ trố mắt nhìn tôi và Liêm. Rồi ông nói tiếp : ” Năm 1971 nghe ông Phó đổi lên quận  Hương Thủy,chúng tôi có lên đó tìm ông Phó. Nhưng ở quận Hương Thủy cho biết ông Phó đã đổi ra Quảng Trị. Chúng tôi lại ra Quảng Trị, mong gặp được ông Phó , nhưng lúc đó, ông Phó đã đổi vô tỉnh Phong Dinh-Cần Thơ, tận trong Nam…cho đến 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi không hề biết tin tức gì về ông Phó nữa! Từ đó, chúng tôi chỉ sống với kỷ niệm, với lòng biết ơn và thương nhớ ông Phó. Chúng tôi cứ nghĩ là ông Phó đã chết, nên cha con chúng tôi thiết lập một bàn thờ, để thờ ông Phó. Trên bàn thờ không có ảnh, không có bài vị, chỉ có hai chữ “Ông Phó” do cháu Liêm viết lên một tấm bìa cứng. Tuy đơn sơ như thế, nhưng mỗi ngày, vợ chồng, cha con chúng tôi đều thắp nhang lên bàn thờ để tưởng nhớ đến ông Phó.”

            Bà Sửu tiếp lời ông Sửu: “Thưa ông Phó, ngày hôm nay được gặp lại ân nhân của gia đình chúng tôi, chúng tôi sẽ bắt gà, bắt vịt nuôi trong nhà để làm một bữa cơm thiết đãi ông bà Phó và các vị cùng đi. Ngày hạnh phúc hôm nay, chúng tôi đã trông chờ gần 50 năm rồi đó“.

            Nhưng một người bạn của nhà tôi, chị Như Quê nhắc nhỡ: “Anh chị Uyển ơi, chúng ta đã hẹn với các bạn ở Huế, trưa nay tụi mình sẽ dùng cơm với các bạn, mà bây giờ đã hơn 11 giờ rồi. Chúng ta nên xin phép hai bác Sửu, đi lên Huế kẽo các bạn chờ.”

            Tôi đành phải cáo lỗi với ông bà Sửu và cháu Liêm. Ông Sửu buồn buồn nói với chúng tôi : ” Gặp lại ông bà , chúng tôi vui mừng khôn xiết, mà ông bà đã vội ra đi, biết khi nào mới gặp lại ông bà.” Tôi an ủi ông bà Sửu: “Vì chúng tôi đã hẹn trước với các bạn, chúng tôi phải có mặt ở Huế trưa nay. Chúng tôi sẽ về thăm hai bác và cháu Liêm.” Ông bà Sửu và cháu Liêm , bùi ngùi từ biệt chúng tôi..Khi mọi người đã lên xe, chúng tôi vẫn thấy gia đình ông Sửu buồn bã nhìn theo.

            Chiếc xe con chở chúng tôi đã chạy đều trên quốc lộ, hướng về Huế. Bỗng chị Hồ Thị Hão, một người bạn của nhà tôi, nói với mọi người trên xe : ” Hôm nay, chúng tôi tình cờ biết được câu chuyện của anh Uyển và gia đình ông Sửu.Câu chuyện làm chúng tôi ngạc nhiên và xúc động lắm, nhất là đoạn kết, lại rất có hậu, làm chúng tôi nhớ đến vài câu ca dao, tục ngữ của quê hương mình, thật hay, thật đúng , như câu : “Trồng cây ngọt thì được ăn trái ngọt” hoặc câu : ” Gieo nhân nào thì gặt quả ấy” hay câu: ” Ở hiền thì gặp lành“…Xin chúc mừng anh chị Uyển !

Bửu Uyển

 (Tháng 1-2018)

Năm Tuất Nói Chuyện Chó

Phạm Thành Châu

Năm ngoái là năm Dậu, tôi viết chuyện con gà. Năm nay là năm Tuất, tôi kể chuyện về con chó. Chuyện tào lao, không văn chương, triết lý gì cả. Đọc cho vui trong mấy ngày Tết, để mấy người già (như tôi) quên chuyện mình đã già thêm một tuổi. Đang “Sống qua ngày, chờ qua đời!”

Có cô gái Mỹ đi du lịch Việt Nam, bị chó rượt, cô đâm đầu chạy miệng kêu cứu “Heo! Heo!” (Help! Help!: Cứu tôi với!) Ông già ngồi trước hiên nói với bà vợ già “Nó không thấy con chó bao giờ nên gọi con chó là con heo!” Việt Nam mình cũng có thời kỳ chẳng thấy con chó bao giờ. Đó là thời “Toàn quốc kháng chiến”, chống thực dân Pháp, (1945-1954) trong vùng kháng chiến, người dân không được nuôi chó vì ban đêm, du kích đi, chó sủa, sẽ lộ hành tung. Phải diệt chó. Chó bị bắt làm thịt hết sạch nên ban đêm im lặng như tờ. Sau 1954, chia cắt đất nước, dân Hà Nội, từ năm 1954 đến năm 1983, gần ba mươi năm, không hề thấy “dung nhan” con chó ngoài đường như thế nào? Tôi biết bạn không tin nên xin đăng vài đoạn báo, trong một bài nói về việc cấm nuôi chó ở Hà Nội để chứng minh. Vị nào, trên 70 tuổi, ở Hà Nội ắt còn nhớ ở ngoài Bắc, sau hiệp định Geneve 1954, lúc đó, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội là y sĩ Trần Duy Hưng, đã ra một văn bản cấm triệt để việc nuôi chó. Có nhiều lý do để cấm nuôi chó hồi ấy, nhưng có một lý do mạnh nhất, đó là nuôi chó tốn kém, trong khi đất nước còn gặp vô vàn khó khăn… Để triệt hạ chó, người ta tổ chức các đội bắt và đập chết chó. Cũng có qui định cho phép nuôi chó, nhưng xin được cái giấy phép nuôi chó còn khó hơn xin nhập hộ khẩu. Người nuôi chó phải đến Sở Nội Vụ (Sở Công An) với xác nhận của phường, quận để xin giấy phép nuôi chó, rồi phải làm “Hợp đồng nuôi chó”. Mỗi người chỉ nuôi được một con chó. Chó đẻ con, phải nộp chó con cho công an. Giấy phép có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào. Qui định thì như vậy nhưng chẳng ai được cấp giấy phép nuôi chó bao giờ, Nhiều người thích chó quá nên nuôi chui. Nuôi chó trong phòng kín, bịt rọ mõm. Nhưng rồi cũng có lúc gặp đại hoạ. Như ông Quyết ở đường Bà Triệu, chuyên nghề bán thuốc lào. Ông nuôi giấu hai con chó trong nhà suốt mấy năm. Vậy mà chẳng biết sơ sểnh thế nào, hai con chó chạy được ra ngoài. Cả phố chạy ra xem, người đi đường cũng ngừng lại xem, để biết “dung nhan mùa hạ con chó” như thế nào? Cảnh náo loạn, kẹt đường từ đường Bà Triệu đến đường Đại Cồ Việt. Thế là công an đến bắt hai con chó, truy tìm chủ nhân. Ông Quyết bị tù. Ra tù, ông lại lén lút nuôi chó. Người thứ nhì nuôi chó gặp nạn là ông Xuân ở Bạch Mai. Ít người nuôi hai con chó, vì hai chữ “khuyển” thành chữ “khốc”, không phải khóc mà là “khốc hại” Ông Xuân nuôi hai con chó nên mới ra nông nỗi. Hai con chó đẻ ra một bầy chó tám con. Có người đi mét công an. Công an ập vào, xét nhà. Công an kết tội ông là tư bản. Ông Xuân bị tịch thu chó, tịch thu cả nhà cửa, tài sản. Ông chỉ kịp ôm một con chó, chạy thoát về khu Tân Mai, tiếp tục nuôi chó. Có ông Sinh Gà, cũng mê nuôi chó. Ông có đến bốn con Bẹt Giê (berger). Công an xét nhà thì ông ôm chó trốn vào tủ. Lúc đó, chó chỉ kêu lên một tiếng là ông đi tù. Sau gần ba mươi năm, 1983, Hội Đồng Thành Phố Hà Nội nới lỏng việc cấm chó. Thế là mấy ông nuôi chó chui giàu to. Họ bán chó con với giá trên trời. Muốn lấy giống (nhảy đực) phải trả đến một chỉ vàng. Nhưng sau đó, chó nhập từ Thái Lan, mỗi lần cả nghìn con, chẳng ai nuôi chơi nữa. Họ đến các tiệm thịt chó nhậu cầy tơ. Phong trào ăn thịt chó phát triển khắp nơi. Sau đó, Thái Lan cấm xuất chó qua Việt Nam vì hội Bảo Vệ Súc Vật thế giới la ó nên Việt Nam thiếu chó để xơi, các cậu kẹt tiền có sáng kiến đi bắt trộm chó bán cho các quán thịt chó. Rồi người bắt chó trộm bị đánh đến chết, xe máy bị đốt. Thời Pháp thuộc thì có nạn đánh chó trộm đêm giao thừa. Số là, đêm giao thừa, người ta đốt pháo, chó sợ, chạy trốn ngoài đồng. Những người nghèo khó thường ra đồng rình đập chó dem về làm thịt ăn tết. Trai tráng trong làng cũng ra đồng, nhưng để rình đánh những người đánh chó trộm. Cảnh người đánh chó trộm tàn bạo cũng giống như thời nay, người ta đánh, có khi đến chết những người bắt trộm chó đem bán. Tôi xin trích mấy dòng về chuyện đánh chó của Tô Hoài trong tập truyện “Chuyện Cũ Hà Nội”… Chú Cát kể “Mọi năm, cứ đi giao thừa về tao lại cộp một con chó chạy sợ pháo, cũng là thêm thắt cho cái Tết. Nhưng mà bây giờ, thời buổi khó khăn. Vô phúc mà gặp đứa đi rình nó choảng vỡ đầu thằng đánh chó trộm. Năm nào, làng ta đã lôi một người Yên Thái, một người Kẻ Cáo về đầu xóm trói đánh gần chết đấy. Thế nào chúng nó cũng thù, tao sợ (tr. 359 tập 1).

Chuyện chó ở Việt Nam còn dài, dài qua đến xứ Mỹ. Sau 1975, người Việt bỏ xứ đi tìm tự do. Có ông kia vượt biển đến đảo. Hội thiện Tin Lành bảo lãnh ông ta qua Mỹ, đưa đến tạm trú trong một căn nhà bỏ trống. Sợ ông ta buồn vì sống một mình, hội đem đến một con chó cho ông ta có bạn. Trình độ Anh ngữ của ông ta (cũng cỡ tôi) không khá lắm. Ông ta chỉ biết nói có ba tiếng: OK, Good và Thank you!. Nhà thờ giao con chó cho ông ta và nói gì đó, ông ta trả lời “OK. Thank you!” Tuần sau, nhà thờ đến, không thấy con chó đâu, hỏi, ông ta không hiểu mới ra dấu và kêu “gâu, gâu!”, ông ta cười “Good. Thank you!” Nhà thờ phải ra dấu cả buổi, ông ta mới hiểu và trả lời “OK. chap, chap con chó. Ngon lắm! Good. Thank you!” (ông ta làm thịt con chó và xơi nó rồi!) Trước 1954, miền Nam VN, ít người ăn thịt chó. Năm 1954, chia cắt đất nước, gần một triệu người miền Bắc di cư vào Nam tìm tự do. Người Bắc ăn thịt chó nên ngã ba Ông Tạ, nơi người Bắc định cư, mới có bán thịt chó. Thời đó, về ban đêm, chó chạy rông đầy đường. Chúng cắn lộn giành chó cái, kêu sủa om sòm. Người nào muốn ăn thịt chó thì lấy cái lon kim loại rộng cỡ gang tay, một đầu kín, đầu kia, cắt giống như cái hom bắt cá. Bỏ thức ăn vào lon, chó đun dầu vô thì mắc kẹt trong đó, không thấy đường, cứ loay hoay tới lui, như múa lân, người bắt chó chỉ việc đến ôm, đem về làm thịt.

Nước ngoài gần Việt Nam nhất là Hàn Quốc, ăn thịt chó còn ác liệt hơn chúng ta nữa. Hàn quốc có hơn sáu nghìn (6.000) cửa hàng thịt chó. Mỗi năm xơi hơn một triệu con chó. Công nghiệp nuôi chó thịt phát đạt không ngừng. 92% đàn ông và 68% phụ nữ Hàn Quốc xơi thịt chó. Họ cho rằng thịt chó ngon nhất thiên hạ. Thế vận hội Seoul 1988, chính phủ phải yêu cầu các cửa hàng thịt chó tạm thời đóng cửa hoặc dời vô hẻm để tránh cho du khách kinh sợ. Năm 2002 giải túc cầu thế giới (Wold Cup), chính phủ Hàn Quốc cũng lại yêu cầu tương tự, nghĩa là các tiệm mộc tồn phải biến mất trên mặt tiền các đường phố. Ăn thịt chó thì chó “chơi” lại. Đại khái như thế nầy: Bà bạn thân của cựu tổng thống Đại Hàn Park Geun-hye có con chó, nhờ bạn trai coi sóc giùm để mình đi du lịch. Khi về, thấy con chó cưng của mình buồn bả, ốm o sao đó, sót ruột, bèn mắng chửi người bạn trai. Anh ta tức mình, âm thầm tìm kiếm, gom góp hồ sơ của hai bà (tổng thống và bà bạn) đưa ra ánh sáng. Thế là, như bạn biết, tổng thống Park Gueun-hye bị đưa ra tòa, cách chức và đi tù. Nguyên nhân cũng vì con chó. Chưa hết. Khi rời dinh tổng thống, bà bỏ lại chín (9) con chó của mình ở lại dinh (không đem theo) Thế là Hội BảoVệ Súc Vật và báo chí làm rùm beng lên. Kinh chưa? Chó có thể làm một tổng thống bay ghế!

Người Việt hải ngoại có câu “Chó sủa mặc chó, đoàn lữ hành cứ đi” để chỉ mấy ông bà lên mặt thầy đời, không bao giờ đi bầu nhưng cộng đồng làm gì cũng lên mặt chê bai, ra vẻ ta đây trí thức (“chồn lùi”, chữ của ông Chu Tử) gây chia rẽ, xáo trộn trong cộng đồng. Câu “Những con chó, chủ cho ăn, lại quay lại cắn tay chủ” để chỉ những người “Ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản” Trước 1975 hưởng bỗng lộc của chính phủ Quốc Gia, vinh thân phì gia, nhỡn nhơ, an toàn trong thành phố, trong khi bao chiến sĩ phải hi sinh ngoài chiến tuyến để bảo vệ họ, sau 1975, chạy ra nước ngoài rồi quay về VN liếm gót giày kẻ thù. Tiêu biểu như Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ (bọn xướng ca vô loài thì không kể xiết). Có một chuyện oái ăm về cộng đồng người Việt hải ngoại. Ở một tiểu bang miền đông bắc Hoa Kỳ . Đồng bào bầu ra một ban đại diện cộng đồng. Ông chủ tịch, trước đó, vỗ ngực, ta đây “chống cộng cùng mình” khi được bầu ra thì đổi hiến chương cộng đồng người Việt tiểu bang từ “Chống cộng” ra “không cộng sản” Nhiều người biết lý do, tôi thì không hiểu cái ông “Nguyễn Cao Kỳ tái sinh” nầy trở cờ từ lúc nào?!

Âu Mỹ cũng có món ăn “chó nóng” (hot dog), không phải vũ khí (chó lửa) nhưng cũng không phải làm bằng thịt chó. Lịch sử tên của món ăn Hotdog hơi dài dòng. Dân Mỹ cũng có “tứ khoái” như chúng ta nhưng không phải “ăn, ngủ…” mà thanh tao, công khai hơn nhiều. Đó là Baseball, Hotdog, Apple Pie và Chevrolet. Hotdog là món thịt bằm, nắn thành hình trụ, giống cái lạc xường kẹp vào bánh mì nhỏ, cầm ăn. Hotdog có tên nguyên thủy là Frankfuter, là món xúc xích sản xuất tại thành phố Frankfurt, nước Đức. Người Đức qua Mỹ, mang theo món Frankfuter, bày bán ở New York vào khoảng năm1860. Người Mỹ gọi món ăn này là Dachshund sausage. (Dachshunt là tên một loài chó nhỏ của Đức), về sau gọi là Dog sausage. Món nầy thường được những người bán dạo trong các sân bóng chày (baseball) Người ta giữ nóng trong các lò hấp nên được gọi là Hotdog.

Bạn có bao giờ “cưỡi chó” đi du lịch chưa? Có Greyhound (tên một loài chó), nhưng không phải chó mà là tên của một hãng xe bus đường trường. Tôi chưa đi bao giờ nhưng có thể an toàn hơn là tự lái xe đi. Thật lâu mới thấy báo đăng Greyhound gây tai nạn nhưng tôi thì cứ đụng xe hoài, hãng bảo hiểm nhờ tôi mà giàu thêm chút đỉnh.

Người xứ nào nuôi chó nhiều nhất? Người Mỹ. Theo thống kê (không biết năm nào?) 36% gia đình Mỹ nuôi khoảng 68 triệu con, gấp ba lần người Nga, 25 triệu con (hạng nhì). Chi phí nuôi chó ở Mỹ mỗi năm hết 34 tỷ 400 triệu USD, lớn hơn ngân sách quốc gia của nhiều nước trên thế giới, trung bình 1,266 USD mỗi con một năm (Làm bài toán chia sẽ thấy sai, nhưng tôi chỉ chép tài liệu và để nguyên). Đi đâu xa, phải thuê người trông nom chó. Tiểu bang Virginia, có Olde Town Pet Resort thuộc Fairfax county giữ chó, mỗi ngày 230 USD, là giá biểu cách nay khá lâu, bây giờ phải trả nhiều hơn.

Người Âu Mỹ thương yêu chó nhưng rất độc ác. Họ thiến các con chó đực. Bạn thử nhìn dưới đuôi mấy cậu chó sẽ thấy “trụi lủi!” giống hệt các quan thái giám trong cung các vua chúa. Xưa nay, chiến tranh xảy ra vì tranh giành. Các con chó đực cắn nhau cũng vì giành chó cái. Bị thiến rồi, làm ăn gì được đâu mà giành! Giành để làm gì? Bạn đã từng thấy. Gặp anh chó đực, chị chó cái chạy đến, đuôi lúc lắc, tai vểnh lên, đưa cái bàn tọa ra trước mũi chàng “mời anh xơi kẻo nguội!” nhưng chàng phe lờ! Thế nên chó đực Âu Mỹ hiền khô. Chúng gặp nhau, dù xa lạ, vẫn “Vẫy đuôi, vẫy đuôi chào nhau” Không phải chúng vui. Có gì vui đâu? Mặt cậu nào cũng nghiêm và buồn! Chào nhau “Hi!” chỉ vì lịch sự Âu Mỹ thôi.

Trong tập truyện “Nghìn Lẻ Một Đêm” (tôi xạo), kể chuyện về cây đèn thần Aladin. Một cô dẫn chó đi chơi bãi biển, thấy cây đèn thần trong bụi cây, bèn cầm lên, mân mê, sờ mó, thần đèn hiện ra “Ta cho ngươi một điều ước” Cô ta mừng quýnh “Em yêu con chó của em nhiều lắm, đi đâu em cũng dẫn theo, ngủ cũng ngủ chung. Xin thần biến con chó của em thành một chàng trai cao lớn, đẹp mê hồn và nhất là rất sung sức” Thần đèn nháy mắt với cậu chó và cười “OK.! Có ngay! Bum!’ Và cậu chó biến thành một anh chàng đẹp trai, khỏe mạnh. Cô gái mừng quá, lôi anh chàng chạy về khách sạn, đóng cửa lại. Tình hình diễn biến đến hồi gay cấn, cô nàng hào hển “Làm việc. Lẹ lên!” Anh chàng thở dài “Lúc anh là con chó, em thiến anh. Còn gì nữa đâu mà đòi với muốn!” Nàng đành thở dài hát tiếp “Thôi hết rồi, thôi hết rồi!” Nhưng đừng tưởng các cậu chó đó không biết suy nghĩ. Trước khi bị thiến, nhiều con chó yêu cầu nhân viên thú y ghi trên tấm lắc đeo ở cổ một câu “Hận người đen bạc”. Nỗi điên lên, chúng sẽ cắn người. Chúng cắn chân người lớn, cắn chết trẻ con. Có cặp vợ chồng, có con sơ sinh, cho ngủ riêng, nửa đêm, con chó nuôi trong nhà lôi đứa bé xuống, cắn chơi, đến nát đứa bé, máu me khắp nhà. Trời cứu! Bị chó cắn nhiều nhất là mấy ông bà đưa thư. Có ông đưa thư bị chó rượt, hoảng hồn, chạy băng qua đường, bị xe tung. Ông ta đưa chủ con chó đó ra tòa. Trong năm 2016, trên nước Mỹ, có đến 6,700 người đưa thư bị chó cắn. Nhiều nhất là Los Angeles (CA) 80 vụ, Houston (TX) 62 vụ, Cleveland (OH) 60 vụ.

Bạn có biết giống chó nào dữ nhất không? Bẹt giê? (German shepherd) Chưa phải. Đứng đầu là Dachshund, mình dài như mình ngựa, tiếp đến Chihuahua (bé tí mà thấy người lạ là sủa nhặng lên) rồi Jack Russell terrier, Akita, Australian cattle dog, Pit bull (cau có, bặm trợn) Beagle cuối cùng mới đến German shepherd. Chó dữ là chó thấy người lạ là sủa, gầm gừ nhe răng. Chó tấn công cắn người nhiều nhất là giống Pit bull. Mỗi năm, ở Mỹ có khoảng 12 người bị chó cắn chết, nhiều nhất là trẻ em. Thống kê quên kể đến giống chó Tây Tạng. Dân du mục miền tây bắc nước Tàu (Tây Tạng, Mông Cổ) thường nuôi giống chó nầy để chăn dê, cừu, trâu lùn. Thấy ngưòi lạ là chó tấn công ngay. Nó không cắn mà “táp” sứt thịt.

Con chó cao nhất thế giới có tên là George Khổng Lồ, giống Great Dane. Cao 1.09 mét nặng 111 kg. Chú George nầy xơi mỗi tháng 50 lí lô thức ăn. Ông David Nasser, chủ của chú chó George kể rằng. Trong một chuyến bay đến Chicago, phải mua cho chú George ba chỗ (ghế) để chú được thoải mái. Hành khách trên chuyến bay xúm lại ngắm nhìn rồi chụp hình chú George. Mất trật tự quá! Thế là phi hành đoàn phải mở đèn “Ngồi xuống. Thắt dây an toàn!”.

Giống chó nào đẹp nhất? Tôi chịu thua. Vì xem những cuộc thi chó đẹp trên TV, (Westminster Kennel Dog Show 2017) tôi thấy nhiều con chó quá sức đẹp, đẹp mê hồn không được giải thưởng mà những con tầm thường lại đứng nhất! Hóa ra họ chấm điểm thi chó cũng giống dân nhậu Việt Nam ta bình bầu chất lượng sản phẩm chó (nhất bạch, nhì vàng, tam khoan, tứ đốm!) Người dẫn chương trình giới thiệu nhiều con chó đắt giá. Có con giá đến 50,000 USD. Trong cuộc thi, tôi không thấy “chó trụi lông”. Có lẽ, cũng giống như thi hoa hậu người. Ngoài việc mặc đồ lót để xem “body” thí sinh còn phải mặc áo quần đẹp để chấm điểm thời trang. Chó trụi lông thì lấy gì mà chấm điểm trang phục? Trong lăng mộ các vua Ai Cập Pharao, hình vẽ các con chó đều không lông. Chó không lông thì có loại Dugo Argentino ở Argentina, loại Dalmatien ở Anh. Người Mỹ cũng như người Việt, tin dị đoan, không nuôi chó không lông. No hair! Xui tận mạng! Chó cạo sạch lông thì có đấy. Ở Ngã Ba Ông Tạ, Sài Gòn, chó cạo sạch lông, thui vàng ươm, thơm phức. Không chỉ bán thịt chó, hiện nay, vùng ngã ba Ông Tạ còn có chó kiểng, chó quí hiếm. Nhiều tiệm cà phê có nuôi chó kiểng để khách yêu chó đến uống cà phê và vuốt ve các cô, chú chó (thật) hiền lành, dễ thương (sau đó qua tiệm thịt chó bên cạnh, nhậu).

Có một chuyện lạ và thú vị. Tôi đọc trong “Hậu Chuyện Kể Năm 2000” của Vũ Thư Hiên (tôi không quảng cáo sách của ông ta) có đoạn “Cũng phải kể một tối ở Berlin, chúng tôi đi chơi, về nhà Hòa, em gái Hiên, tại một chung cư. Ngay chân cầu thang, gặp một ông già người Đức, dắt theo một con chó to lớn. Trông thấy chúng tôi, nó sủa, miệng há, răng trắng nhởn, nhả ra từng tiếng sủa và đớp từng miếng không khí. Người Đức từng trên rất nhanh dắt con chó bước lên. Chúng tôi lên thang. Cửa buồng Hòa đã mở. Hòa đang ngồi chờ chúng tôi. Hiên hỏi “Sao em biết bọn anh về mà mở cửa sẵn?” Hòa vô tư nhất đời “Nghe tiếng chó sủa là em biết. Con chó này chỉ sủa người Việt Nam mình thôi. Không sủa người Đức” (p 458, 459) Tôi đoán chừng như thế nầy: Người mình thường nói. Ai ăn thịt chó, ra đường, chó sủa vì có mùi chó trên người. Hoặc bọn chó trên thế giới đã được cảnh báo nhau trên “mạng” (internet) rằng “Thấy người Việt phải đề phòng. Có thể họ bắt mình để ăn thịt hoặc bắt mình đem bán cho các tiệm nhậu thịt chó” Chó Âu Mỹ văn minh lắm. Con nào cũng có computer trong phòng và Iphone lận trong người. Chúng cũng email, message… với nhau hằng ngày. Dân chơi chó quí hiếm phải là người giàu có. Họ ở biệt thự, thuê người săn sóc chó. Mấy ông bà thường dẫn chó ra đường (ỉa bậy) để khoe chó, tưởng chó của mình đẹp nhất. Thử đưa đi thi chó đẹp xem sao? Mới vòng loại thôi là đã bị ra rìa rồi.

Tôi không thích chó. Không tắm, nó hôi rình. Lông chó khắp nơi. Vậy chứ nhiều người thương chó, xem như con. Xưng là “dad”, “mom” với chó. Cha mẹ thì tống vô nhà già, chó thì cưng. Tắm chó hằng ngày, hốt cứt chó, ngủ với chó, (36% ngủ với chó), chó bịnh thì quýnh lên, mất ăn mất ngủ. Có bà triệu phú, trước khi chết để di chúc cho “cậu chó” của bà năm triệu USD, giao cho nhà thờ chăm sóc, có luật sư theo dõi việc thi hành. Nhà thờ gặp xui. Số là thực đơn cho cậu chó có món thịt bò mềm. Người nuôi chó tiếc tiền, mua bạc nhạng, bầy nhầy về nấu cho cậu xơi. Cậu chó tủi thân, bỏ ăn. Vừa lúc luật sư đến, thấy “thân chủ” buồn rầu, trầm cảm, bèn tìm hiểu, phát hiện nội vụ. Vậy là nhà thờ mất quyền chăm sóc, mất luôn mấy triệu bạc! Công ty bảo hiểm chó, mèo Petplan đặt câu hỏi cho 1105 chủ chó mèo rằng. Nếu phải đi đến một hoang đảo không có người thì giữa chó mèo và bạn tình hoặc người phối ngẫu (chồng, vợ), chọn chó mèo hay người? Kết quả. Có đến 2/3 người chọn đem chó hoặc mèo theo. Bồ bịch, chồng, vợ đem theo chỉ thêm mất ngũ. Chó thả rông ngoài đường thường đuổi cắn người. Người ta gọi cảnh sát. Cảnh sát đến, nó tấn công luôn cảnh sát, cảnh sát rút chó lửa ra, phơ chó điên. Trung bình, mỗi năm cảnh sát Mỹ bắn chết 10,000 con chó. Ông Adrin Nazarian, dân biểu ở Cali. đưa ra dự luật buộc cảnh sát phải qua một khóa huấn luyện tìm hiểu tâm lý và hành động của chó.

Truyện “Cậu Chó” của Trần Đức Lai kể. Có bà thượng thư ngoại tình, sinh ra một cậu, mình mọc đầy lông, không biết nói, suốt ngày chỉ ăn và đòi “chơi”. Không cho cậu làm chuyện đó, cậu tru lên ỏm tỏi. Bà thượng thư phải mướn đến hai cô baby sitters, thay phiên nhau phục vụ mà cậu cứ tru liên tục khiến hai cô “Mệt muốn chết!” Ông nào muốn làm “Cậu Chó? Đưa tay lên!”.

Đố bạn. Có loài chó nào không có răng? Một bà Nam kỳ đến chơi nhà một bà người Huế. Mới đẩy cổng, một con chó xồ ra, bà ta thụt lùi. Bà bạn Huế bước ra, trấn an bạn “Cứ vô nhà đi. Hắn không cắn mô. Không răng mô” (Không sao đâu) Bà Nam kỳ lắc đầu “Hàm răng trắng nhỡn, ngó thấy ghê mà nói không răng!”

Bây giờ qua chuyện chó chết, người chết vì chó ở xứ Mỹ. Nhiều lắm! Cô Sara McBurnett lái xe trên xa lộ ở San José, cọ quẹt sao đó với xe của một cậu. Hai người ngừng xe, xuống đôi co. Lúc đó cô Sara đang bồng con chó cưng (tên là) Leo trên tay. Chàng kia thấy gai mắt, giật con chó Leo trên tay cô Sara ném xuống đường rồi lên xe bỏ đi. Xe sau chạy đến cán chết con Leo. Cô Sara đưa vụ việc lên net (internet) hứa sẽ thưởng 5,000 USD cho ai tìm ra người lái xe Ford Explorer (là người ném con chó của cô xuống đường cho xe cán) Thiên hạ góp thêm tiền, lên đến 120,000 USD để khuyến khích những người cần tiền đi tìm thủ phạm. Mười tháng sau Andrew Burnett bị bắt. Tòa xử trong bảy ngày, bồi thẩm đoàn họp trong 40 phút rồi tuyên bố “Andrew Burnett có tội. Ba năm tù” Và Andrew Burnett nổi danh khắp thế giới. Một chuyện chó khác. Vợ chồng (đều là) luật sư. Ông Marjorie Knoller và bà Rubert Noel có hai con chó, mỗi con nặng gần 60 kí lô, tấn công cô DianeWhipple, cắn cô chết. Vợ chồng luật sư, chủ chó, bình thản bước qua xác chết, vô nhà, còn nói “Vì nạn nhân xức nước hoa, chó bực mình, cắn chết ráng chịu”. Ra tòa, mỗi người lãnh 4 năm tù. Một chuyện chó nữa. Thành phố Buffalo. Newyork, chị Naomi lấy anh John được sáu tháng. Chị Naomi suốt ngày cứ ôm chó mà vuốt ve tâm sự, chả chịu làm gì. Một hôm, đi làm về, “mệt thấy mẹ!” mà anh John thấy vợ cứ ôm con chó mà vuốt ve, cơm nước chẳng thấy đâu! Giận quá, anh John giật con chó vất xuống nền nhà. Con chó kêu lên đau đớn. Chị Naomi, lấy súng, tương cho anh chồng John ba phát, chết queo. Một chuyện chó khác, xảy ra ở St. Jame, New York. Ông nhạc sĩ già Bryan Maher, 60 tuổi, đi uống cà phê, có đem theo con chó. Không được dẫn chó vô tiệm nên ông ta để chó trong xe, để máy xe nổ cho có hơi nóng sưởi chó. Con chó loay hoay sao đó ở cần hộp số khiến xe chạy thẳng vô tiệm cà phê. May, không ai việc gì. Mở cửa, chó vẫy đuôi, gâu gâu, ý muốn nói “Tôi biết lái xe rồi!”. Bà chủ tiệm cà phê Patricia McCathy thì thở dài “Thèm cà phê thì nói người ta mang ra. Đây đâu phải tiệm fastfood mà mầy drive through!”

Ở Á châu, giới ăn mày sợ chó và bị chó cắn nhiều nhất. Trong truyện kiếm hiệp Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung, xếp sòng giới ăn mày là Hồng Thất Công, có cây gậy đánh chó “Đả Cẩu Bổng” và truyền cho bọn ăn mày dưới trướng Đả Cẩu Bổng Pháp (cách đánh chó) để phòng thân.

Chó khôn ngoan và trung thành, thường được được huấn luyện để giúp người mù, người bịnh hoạn, tàn tật trong sinh hoạt, đi lại. Ông Stalnaker ở Phoenix, Arizona, có nuôi con chó Buddy. Một hôm ông ta bị lên cơn kinh phong, nằm lăn ra ở nền nhà. Con chó Buddy bấm 911 rồi sủa gâu gâu, cảnh sát đến đưa ông Stalnaker vào bịnh viện cứu chữa, hai ngày sau về nhà. Xem TV tôi thấy có con heo. Bà chủ bị sao đó, nằm lăn dưới nền nhà. Con heo ra đường đứng. Thấy xe nào chạy qua cũng tỏ vẻ muốn chận xe lại. Có anh thanh niên thấy lạ, ngừng xe, bước xuống. Con heo vẫy đuôi đi trước, anh ta theo sau, vô nhà. Thấy thế, bèn gọi xe cấp cứu đến, cứu được bà ta. Một chuyện chó khác. Một bà đem con chó cưng đến tiệm “Dog Beauty Salon” (Thẩm mỹ viện chó) để làm đẹp cho nó. Không hiểu “trim” (cắt tỉa, o bế bộ lông) con chó thế nào mà bị bà ta kiện chủ tiệm ra tòa “Tôi bảo. Cắt ngắn thôi. Salon lại làm trụi lũi, đưa cả da chó ra. Tôi buồn rầu, đau khổ khôn nguôi. Phải bồi thường một triệu đô la cho thiệt hại tinh thần và tình cảm của tôi”. Viện cớ phải tìm hiểu thêm sự việc, luật sư của bị đơn (chủ tiệm salon) xin hoãn vụ xử đến bốn tháng. Tòa đồng ý. Bốn tháng sau, bộ lông con chó mọc lại dài như “thuở ban đầu”. Tòa xử huề.

Nói về lông chó, tôi nhớ, thời trước 1975, ở Sài Gòn, đường Hàm Nghi có chợ chó, bán đủ các thú nhỏ. Chó, mèo, chuột bọ, rắn rết. Mấy ông bà bán chó lấy thuốc nhuộm tóc, nhuộm lông các con chó. Con thì lông vằn vện như con cọp, con thì lốm đốm như con beo. Các chàng lính Mỹ ngạc nhiên và khoái lắm. Mỗi chàng, khi hết nhiệm kỳ viễn chinh hoặc về phép thường ra Hàm Nghi mua một con “chó lai cọp, lai báo” đem về Mỹ để khoe với bạn bè. Không ngờ, sau mấy lần tắm cho chó, thuốc nhuộm phai dần, lòi ra bộ lông của “Ngày xưa Hoàng thị”. Việt Nam mình, phần đông, chẳng ai tắm cho chó, chỉ một lần duy nhất, dội nước sôi để cạo lông chó mà thôi!

Để chấm dứt, tôi xin kể vài chuyện con chó liên quan đến những nhân vật Việt Nam được nhiều người biết. Thời vua Tự Đức nhà Nguyễn có quan Phụ Chánh Đại Thần Tôn thất Thuyết, tính nóng nảy và hung ác. Vua Tự Đức bảo với cận thần “Tôn Thất Thuyết là kẻ ít học không thông việc đời, lại có tật quá nóng nảy nên hay nói càn” Khi giữ chức Tán Tương Quân Vụ, dưới quyền thống đốc Hoàng Kế Viêm, phụ trách quân thứ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh. Ông khó ngủ. Một đêm, có tiếng chó sủa khiến ông mất ngủ. Sáng ra, ông gọi lý trưởng làng đó đến, chém đầu. Thế là ông đến đâu, người ta giết sạch chó đến đó vì không ai muốn bị ông ta chặt đầu. Một lần khác, đóng quân tại nhà viên chánh tổng ở phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, đêm khuya, ông giật mình, mất ngủ vì tiếng khóc của một đứa trẻ nhà bên cạnh. Ông ra lịnh đem đứa trẻ ra chém đầu.

Trong lịch sử Việt Nam có người nóng nảy và hung ác như Tôn Thất Thuyết thì cũng có một người rất thanh liêm, đạo đức như tổng thống Ngô Đình Diệm. Xin kể một chuyện cũng có liên hệ đến chuyện chó. Đó là “Ngã Ba Chuồng Chó”. Sau năm 1954, miền Nam còn yên tĩnh, thái bình. Một lần muốn di hành, xem dân chúng sinh hoạt ra sao về ban đêm, cố tổng thống Ngô Đình Diệm cho tài xế chở mình chạy một vòng Sài Gòn, Chợ Lớn. Rồi xe lăn bánh ra vùng ngoại ô. Xe lang thang đến Ngã Ba Chuồng Chó. Tổng thống ngạc nhiên. Khuya rồi mà ở đó vẫn ồn ào, náo nhiệt? Thình lình một bầy con gái, mắt xanh mỏ đỏ, áo hai dây, quần một ống, chận xe lại “Vô đây đi anh! Đi đâu cũng vậy. Đi em, em cám ơn!” Tài xế phải cho xe vọt qua. Tổng thống ngạc nhiên. Hỏi chuyện gì vậy? Tài xế phải khai thiệt “Ngã Năm Chuồng Chó” nầy là khu ổ điếm. Sáng hôm sau, tổng thống họp nội các, giận dữ, cách chức bộ trưởng Xã Hội, cách chức tỉnh trưởng Gia Định, cách chức quận trưởng Gò Vấp. (Cá nhân tôi trộm nghĩ: Lãnh đạo đất nước trong thời nhiễu nhương mà quá ngay thật, lấy “đức nhân” ra mà ban cho thần dân thì cái họa “phản thần thí chúa” của bọn quân phiệt không thể tránh khỏi)

Bây giờ qua chuyện ông đảng viên Cộng Sản bỏ đảng Hà Sĩ Phu. Năm Bính Tuất (2006), trên tờ An Ninh Thế Giới của Việt Cộng có bài viết của nhà báo (VC) Nguyễn Như Phong, gọi những đảng viên bỏ đảng là những kẻ xấu xa, không bằng con ngựa, con chó là hai con vật trung thành với chủ “Con không chê nhà khó, chó không chê chủ nghèo. Thế mà Hà Sĩ Phu lại thừa lúc đất nước mình còn nghèo để quay lưng lại với cái sự nghèo của đất nước, để đi ôm chân nước ngoài giàu có, mà phản bội đất nước” Ông Hà Sĩ Phu không thèm trả lời, chỉ tung lên mạng (internet) một bài tản mạn về sự trung thành của con chó như sau “Cha ông chúng ta tinh tế lắm: Cái chất đáng yêu nhất của con chó là trung thành với chủ, nhưng các cụ không bao giờ ví “Trung thành như chó” cả. Bởi sự trung thành, ở người, là một phẩm chất cao quí bao hàm cả lương tâm, trí tuệ, và bản lĩnh, khác xa với sự “trung thành” của loài vật, vốn chỉ là quan hệ bản năng đối với người chủ cho nó ăn. Câu ‘ăn cây nào, rào cây ấy’ cũng chỉ là lời khuyên về sự khôn ngoan, về tính thực tế chứ không phải chuẩn mực cho sự trung thành. Chỉ những tính chất phi nhân thì các cụ mới ví với chó ‘đểu như chó’, ‘lật mặt như chó’, ‘ngu như chó’. Đến câu ‘dại như chó’ thì thật lạ! Biết vẫy đuôi mừng chủ, bảo vệ chủ để được ăn thì khôn quá đi chứ, thế mà các cụ lại liệt khuyển ta vào loại dại. Cũng có khi các cụ khuyên nhủ: “Chó khôn không cắn càn”, nhưng các cụ thừa biết đã là chó thì thưởng thức thế nào được lẽ càn khôn…”. Viết về các nhà văn của đảng, nhà văn bỏ đảng Dương Thu Hương xếp loại “50% thích và yên tâm với kiếp ngựa, 30% hiểu nỗi thống khổ của thân trâu ngựa nhưng chỉ cúi đầu cam chịu, 15% máu nóng hơn, đủ dũng khí tốc vó đá vào chuồng lúc nửa đêm, khi chủ và bọn giữ ngựa ngủ say, chỉ còn 5% có tinh thần phản kháng ở nhiều cấp độ” Thực ra họ chỉ là bọn thư lại chứ chẳng phải nhà văn. Ông Hà Sĩ Phu dựa theo ý của ông nhà văn VC Nguyễn Như Phong. Bảo rằng “Đảng viên VC phải trung thành với đảng như những con chó trung thành với chủ” và trích mấy câu thơ của nhà thơ Tường Vân ở Hải Phòng như sau:

Bảo ra đường. Ra đường

Bảo nằm gầm giường. Nằm gầm giường

Bảo sủa. Sủa

Bảo im. Im

Và cứ thế triền miên.

Một đời con chó!

Phạm Thành Châu

Ngày Xuân hồi tưởng âm thanh cũ

Nguyên Trần

Mai vàng rực rỡ chào Xuân

Chờ nghe em nói một lần yêu anh

Cứ mỗi độ xuân về, cây cối đâm chồi nẩy lộc, lá hoa tươi thắm rộn ràng, lòng người như xôn xao mở hội theo sự chuyển mình thiêng liêng của vũ trụ và tiết trời dịu mát, bỏ lại đàng sau một năm dài tất bật nhọc nhằn.
Để hồi tưởng lại những âm thanh cũ nơi quê hương giờ đã nghìn trùng xa cách, bần bút xin đưa quý vị và các bạn trở về một góc trời phiêu lãng qua những bản nhạc xuân một thời đã từng làm hồn ta xao xuyến ngất ngây.
Việt Nam chúng ta ngày xưa ăn Tết rất lâu, do vậy sau ngày 23 tháng Chạp đưa Ông Táo về Trời, các đài phát thanh Pháp Á, Saigon, Quân Đội đã bắt đầu cho phát thanh nhạc xuân suốt cho đến ngày mồng 7 mồng 8. Thôi thì trong hơn hai tuần lễ, chúng ta nghe nhạc xuân mệt nghỉ luôn.
Ngày xuân là ngày vui thú tưng bừng nên những bản nhạc xuân soạn theo nhịp nhanh vui như Valse rất dễ hấp dẫn con người. Chẳng thế mà 2 bản nhạc “Ly Rượu Mừng” của Phạm đình Chương và “Xuân Và Tuổi Trẻ” (bản nhạc duy nhất của nhạc sỹ gốc Minh Hương La Hối mất lúc còn trẻ) đã ăn sâu vào lòng người yêu nhạc.
Thử hỏi có lời chúc nào hàm súc và bình dị hơn là :
“Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi
Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no
Thoát ly đời gian lao nghèo khó…”
Ly rượu mừng(Phạm Đình Chương)

Hình bìa vài bản nhạc xưa

Với La Hối, cả một trời xuân rực rỡ, “ngàn hoa tươi thắm” trở về với lòng người rộn ràng với đất trời bao la :

“Ngày thắm tươi bên đời xuân mới
Lòng đắm say bao nguồn vui sống
Xuân về với ngàn hoa tươi thắm
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng”
Xuân và tuổi trẻ (La Hối)

Nhắc đến nhạc xuân mà không nhắc đến bản “Gái Xuân” của Từ Vũ phổ nhạc từ bài thơ mang cùng tên của Nguyễn Bính là cả một thiếu sót lớn lao. Thơ và nhạc quyện vào nhau thành một tiết tấu bất hủ mà ai nghe qua cũng thấy lòng lâng lâng bàng hoàng. Thực vậy, với điệu Tango Habanera hay cha cha cha lả lướt bay bướm, bài hát như cơn sóng bạt ngàn phủ chụp lấy hồn người bằng những âm thanh bay bổng tuyệt vời :
“Em như cô gái hãy còn xuân
Trong trắng thân chưa lấm bụi trần
Xuân đến hoa mơ hoa mận nở
Gái Xuân giủ lụa trên sông Vân
. . . . .
Lòng xuân lơ đãng má xuân nồng
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng
Đôi 8 xuân đi trên mái tóc
Đêm xuân cô ngủ có buồn không”
Thêm một bản nhạc Xuân phổ từ thơ cũng rất nổi tiếng là bài “Anh Cho Em Mùa Xuân” thơ Kim Tuấn, Nguyễn Hiền phổ nhạc. Cũng điệu Tango đưa chàng và nàng vào cơn đam mê tình ái chất ngất tuyệt vời:
“Anh cho em mùa xuân
Nụ hoa vàng mới nở
Chiều Đông nào nhung nhớ
Đường lao xao lá đầy
Chân bước mòn hè phố
Mắt buồn vin ngọn cây”

Sau những bài luân vũ, Tango sống động, ta hãy nghe Phạm Duy ru hồn người qua điệu Slow dìu dặt nhẹ nhàng trong bản nhạc “Hoa Xuân” đài các êm đềm qua tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh:
“Xuân vừa về trên bãi cỏ non
Gió xuân đưa lá vàng xuôi nguồn
Hoa cười cùng tia nắng vàng son
Lũ ong lên đường cánh tung ròn”

Một trong những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mỗi độ Xuân về là gởi thiệp chúc Tết cho nhau và cầu chúc những điều tốt đẹp nhất trong năm mới. Ý nghĩa đó đã được Lê Dinh và Minh Kỳ diễn đạt qua bài “Cánh thiệp đầu Xuân” với thể điệu Bolero đại chúng và lần đầu tiên trình làng bởi Lệ Thanh:

“Tôi chúc muôn người mọi điều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh lính chiến quay về với gia đình
Tìm vui bên lửa ấm
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên, cho cô gái xuân thì
Ước nguyện mau chóng thành rượu hồng xe duyên

Xuân về có chàng trai hân hoan gởi cho người yêu cả một trời xuân hoa mộng rực rỡ qua bản nhạc “Mùa Xuân Gởi Em”của Lê Dinh và Minh Kỳ :
“Anh chúc em thêm đẹp đôi má hồng
Đón xuân nồng lòng mang bao ước mong
Mong ước rồi mùa xuân tươi thắm mãi
Hoa bướm tung bay vui vầy khắp trời mây.”

Mà chẳng gì cứ người lớn, ngay cả con nít cũng thấy lòng phơi phới nôn nao, xuân tình rạo rực trong tiết xuân. Bởi thế chúng mới bày trò đám cưới giả như trong bản Nhạc “Đám Cưới Đầu Xuân” của Trần Thiện Thanh (nói nhỏ các bạn đây là bản nhạc tủ của bần bút mỗi khi dự tiệc cưới đó, cứ hát đi hát lại hoài nhưng quan khách của những đám cưới khác nhau thì đố ai biết mình chỉ có tẩy sất thôi đâu):
“Rồi một chiều nao em khoe áo mới xanh hơn mây trời
Hai đứa chung vui khi xuân vừa tới thơ ngây cuộc đời
Trò chơi trẻ con em cô dâu mới chưa nghe nặng sầu
Chú rể ngẩn ngơ ra hái hoa cà (mà) làm quà cưới cô dâu”.

Tuổi trẻ, tình yêu và mùa xuân là những yếu tố gắn liền với nhau: tuổi trẻ bừng bừng nhựa sống, tình yêu là lẽ sống con người và mùa xuân tô điểm cuộc đời, ta hãy nghe tâm tình đó qua nhạc khúc “Mùa Xuân Đầu Tiên”của Tuấn Khanh :

“Bao nhiêu thương nhớ gom nhặt đầy anh trở về thăm em
Bao lần ngồi bên em nghe mùa xuân vừa đến
Em ơi! Hoa thắm rơi ngập đường trời nắng xế vương vương
Lòng nhớ tới em luôn khi chiều tàn trên mọi đàng”.

Mùa xuân khởi động cho tình yêu, cho hạnh phúc lứa đôi, cùng một suy tư trên, hai nhạc sỹ Minh Kỳ Lê Dinh đã họp soạn bản nhạc “Hạnh Phúc Đầu Xuân” :
“Thắm thoát là đây 1 mùa xuân mới với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi trên làn má ai đón xuân tươi vừa sang”

Mùa Xuân là mùa của Đất Trời của lòng người với hoa lá cỏ cây rộn rịp hòa chung nhịp thở tình thương. Từ Đông sang Tây ai ai cũng quên ̣đi bao tất bật rộn ràng trong năm cũ để nô nức đón chào Xuân. Chẳng thể mà nhạc sĩ lừng danh người Áo Johann Strauss ̣(tác giả bản nhạc Valse bất hủ The Blue Danube) đã viết nên bản nhạc để đời
“ One day when we were young” cũng qua thể điệu Waltz dồn dập quay cuồng:
One day when we were young
That wonderful morning in May
You told me you loved me
When we were young one day
Sweet songs of spring were sung
And music was never so gay
You told me you loved me
When we were young one day
————————————

Trước đây, nhạc sĩ Phạm Duy có viết lời Việt cho bản nhạc nầy với tựa đề “ Khúc hát thanh xuân” mà hình như Thanh Lan hát đầu tiên:
Ngày ấy khi Xuân ra đời
Một trời bình minh có lũ chim vui
Có lứa đôi, yêu nhau rồi
Hẹn rằng còn mãi không nguôi

Nhạc lắng hương xuân bồi hồi
Như vì tình ai tiếng hát lên ngôi
Nói với nhau, yêu nhau rồi
Một ngày còn mới tươi môi.——–

Theo phong tục Việt Nam thì trong ba ngày Tết, dù bôn ba xuôi ngược khắp nơi, ai ai củng phải thu xếp để về quê họp mặt vui vầy cùng gia đình, bạn hữu. Trong tryền thống thiêng liêng đó, ta có bản nhạc “Xuân Họp Mặt” của Văn Phụng qua thể điệu mambo nhún nhẩ̉y :
“Xuân đã về, xuân vẫn mơ màng trong nắng vàng cất tiếng hát reo vang
Xuân đã về, xuân vẫn huy hoàng trong gió ngàn mừng đón xuân sang”

Họp mặt để chúng ta cùng hân hoan đón “Xuân Đã Về” của Minh Kỳ với thể điệu ballad dồn dập:
“Xuân đã về, xuân đã về! ngàn hoa hé môi cười tươi đón gió mới
Xuân đã về, xuân đã về! ta hát vang lên câu ca chào mừng xuân”.
Đến đây tưởng cũng nên nhắc lại một câu chuyện thương tâm nát lòng là nhạc sĩ Minh Kỳ đã bị bọn cầm thú VC sát hại dã man tại trại tù cải tạo Suối Máu-Biên Hòa vào ngày1/9/1975 như để ăn mừng ngày Quốc Khánh của chúng.
Xuân đến cùng những làn gió hiu hiu nhè nhẹ mà vua Tango Hoàng Trọng đã diễn tả trong “Gió Mùa Xuân Tới” với điệu cha cha cha thôi thúc :
“Gió mùa xuân tới, cánh hồng tươi thắm trong nắng vàng
Muôn bướm tung bay bao sắc tươi khoe cùng trời thắm”.

Nắng xuân trong sáng lung linh, nắng xuân nhẹ nhàng soi bóng em và anh nghiêng nghiêng trên ngàn hoa rực rỡ muôn màu, và tay trong tay chúng ta cùng nhau “Mừng Nắng Xuân Về” của Huỳnh Anh qua thể điệ̀u ballad rộn ràng:
“Nắng xuân về trên muôn hoa
Nắng xuân về trên khắp mọi nhà
Người người vui đón xuân đã về
Một mùa xuân mới chan chứa tình”.

Chúa Xuân bao giờ cũng lộng lẫy huy hoàng cho muôn loài đúng như bài ca “Xuân Muôn Thuở” diễn tả :
“Xuân về non nước huy hoàng trên màu nắng đẹp trên khóm hoa”.

Nàng Xuân yêu kiều đến độ ai ai cũng yêu thương như Nguyễn Hữu Thiết đã viết trong nhạc khúc “Nàng Xuân của tôi” qua thể điệu slow nhẹ nhàng réo rắt :
“Nàng Xuân đến dáng xuân diễm kiều thầm yêu ai đó
Nàng Xuân hởi với tôi hãy cùng cùng hòa tiếng tơ
Tôi đón Xuân với lòng thắm thiết
Tôi đón Xuân với niềm hân hoan
Tôi đón xuân với tình bát ngát
Tôi đón Xuân vô vàn niềm yêu …”
Xuân về với én lượn oanh ca, xuân về với đóa mai, lan, hồng nở đã gợi cho Nhật Bằng viết “Khúc Nhạc Ngày Xuân” với thể điệu pop tưng bừng rộn rịp:
“Ngàn hoa thắm tươi hé môi cười cùng chào đón xuân
Bầy chim tung cánh bay trên muôn cành cùng hát vang”….
Cũng trong nỗi rộn ràng đó, Phạm Đình Chương đã viết nên nhạc khúc “Đón Xuân” với thể điệu swing thật vui tươi sống động mà Như Quỳnh thường hát mỗi khi xuân về tại hải ngoại:
Xuân đã đến rồi gieo rắc ngàn hồn hoa xuống đời
Vui trong bình minh muôn loài chim hót vang mọi nơi
Đem trong tiếng cười muôn kiếp người tình thương đắm đuối
Ánh xuân đem vui với đời”.
Nếu mùa xuân đem đến tin vui rạng rỡ cho đời thì mùa xuân cũng mang những băng khoăn, khắc khoải trong lòng chàng trai vừa chớm biết yêu nhưng không biết rằng người ta có yêu lại mình hay không. Ưu tư đó được Ngọc Bích diễn tả qua bài tango nổi tiếng của thập niên 4, 50, đó là bài “Mộng Chiều Xuân” :
“Mối tình đầu xuân ai thấu chăng
Lòng tha thiết vương theo tiếng đàn
Mơ đời ái ân những ngày phong trần
Sống trong mộng đẹp ngày xuân”.
Mặc cho thăng trầm dâu bể của cuộc đời, xuân lúc nào cũng rực rỡ huy hoàng như bài ca “Xuân Tươi” : “Xuân mang về ngàn ánh nắng mới
Hoa tươi cười cùng nhau reo vui
. . . . . . .
Ớ xuân ! Ý xuân nồng ấm, sắc xuân huy hoàng, dáng xuân yêu kiều”
Sau cơn biến động kinh hoàng 1975, một chàng trai trong phút hốt hoảng bàng hoàng đã bỏ người yêu và quê hương trong một đêm xuân để nàng bơ vơ sầu khổ như Lam Phương đã viết :”Chuyện Buồn Ngày Xuân” :
“Sao anh đành bỏ em để ra đi một mình giữa đêm xuân lạnh lùng,
Chim xa bầy còn thương tổ ấm huống chi người tội lắm anh ơi!”.
Giữa lúc mọi người nô nức đón xuân sang thì có người con gái đan áo mà nhớ nhung người tình cách xa dịu vợi qua nhạc khúc “Đan Áo Mùa Xuân” của Anh Bằng :
“Cứ mỗi lần hoa mai vàng trước ngõ
Là thôi em mong nhớ xuân này chàng có về
Hỏi hoa hoa chẳng nói, hỏi mây mây lặng đứng
Hỏi gió gió ngập ngừng, hỏi nắng nắng ngại ngùng”.
Miền Nam tràn đầy tự do hạnh phúc nên mùa xuân cũng rực rỡ tưng bừng mà Văn Phụng đã ca ngợi qua bản “Xuân Miền Nam” trong thể điệu Cha Cha Cha nóng bỏng mời gọi:
“Miền Nam niềm vui chan chứa đêm mơ hồ
Miền Nam tình xuân sưởi ấm thêm đôi bờ
Giờ đây mùa xuân đang xóa tan mây mờ
Quên đi đau thương sầ̀u nhớ
Vica tung gieo nuồn sống đắp xây tự do
. . .Từ phương xa, đêm nay xuân về duyên dáng
Trên đôi môi nàng trinh nữ thắm nét son. ..”
Tuy nhiên xuân về mà không có người yêu bên cạnh thì thà chết sướng hơn như lời than thở qua bài ca “Nếu Xuân Này Vắng Anh” của Bảo Thu do Trang Mỹ Dung hát đầu tiên:
“Nếu xuân này vắng anh
Như lá khô buồn xa cành
Như giao thừa êm tiếng pháo
Mai úa sắc bên hiên thì đừng đến xuân ơi!”
Và tệ hại hơn nữa là xuân về mà bị đào cho “de” thì thật là cười đau khóc hận, cứ nằm trên gác xếp mà thở thở than than. Tâm trạng não nề này được Thúc Đăng ghi lại trong bản nhạc “Xuân Về Trên Gác Nhỏ” qua tiếng hát cao vút của Thanh Tuyền. Thiệt là đúng hoàn cảnh dở khóc dở cười của những chàng thất tình kinh niên như bần bút đây:
“Đào mai hé nhụy, xuân nay lại về chạnh nhớ bâng khuâng
Một mình bơ vơ nhìn ra phố nhỏ đón xuân thiên hạ tưng bừng
Tình xuân lại đến, nhớ thương lại về
Như nhắc bao u hoài vương vấn trong tôi chưa quên một người
Xuân thuở nào hẹn mùa yêu…”

Có những người lận đận lao đao với những cuộc tình không tới nên cứ mãi đi tìm lại một mùa Xuân của mình:
Tôi đi tìm lại một mùa xuân
Mùa xuân xưa cũ qua mất rồi
Mùa xuân đã rơi vào dĩ vãng
Mà xuân nay vẫn còn dư hương
————————————
(Tôi đi tìm lại một mùa Xuân-Đoàn Nguyên)

Tôi đi tìm lại một mùa Xuân

Chính em mang lại mùa Xuân Xanh

Tôi đã tìm trong giấc mộng lành

Mơ ước cuối đời trong nỗi nhớ

Bóng hình em dáng đẹp thanh thanh./.

Một trong những phong tục của dân tộc ta là xem bói đầu năm. Chả thế mà bài thơ Kim Tuấn đã được nhạc sĩ Lê Kim Khánh phổ nhạc “Thiên Duyên Tiền Định” thể điệu ballad vui nhộn như mùa Xuân, một thời nổi tiếng với Hùng Cường – Mai Lệ Huyền:
“Đầu năm hoa lá xôn xao nở như đón chào
Nhờ anh tiên đoán năm nay duyên nợ thế nào”

Đi lễ đầu năm cũng là một phong tục cổ truyền mà ta vẫn còn giữ, đi lễ để cầu xin may mắn hanh thông, để cầu duyên và để “cạo da đầu -ủa lộn- cầu gia đạo như bản nhạc “Câu Chuyện Đầu Năm” của Hoài An :
“Trên đường đi lễ xuân đầu năm
Qua một năm ruột rối tơ tằm
Năm mới nhiều ước vọng chờ mong
May nhiều rủi ít ngóng trông
Vui cùng pháo đỏ rượu hồng”
Có người đón xuân mà bồi hồi nhớ lại kỷ niệm của những mùa xuân cũ bên người yêu nay đã cách xa. Ta hãy nghe nhạc khúc “Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa” của Châu Kỳ :
“Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa
Một chiều xuân anh đã hẹn hò
Như ướp tình trong cánh hoa mơ
Đưa hương theo làn gió anh nói rằng nên viết thành thơ”.
Giữa lúc người người hân hoan chào đón xuân thì thật thất thương những người chiến sỹ VNCH ở tận các tiền đồn xa xôi heo hút rừng núi cheo leo, ngày đêm canh phòng ngăn giặc, giữ yên bờ cõi để người hậu phương vui Tết yên bình. Với lính thì làm gì có mùa xuân khi quê hương chưa sạch bóng quân thù. Ta hãy nghe hoàn cảnh đó qua bản nhạc “Tôi Chưa Có Mùa Xuân” cũng của Châu Kỳ :
“Đợi hai, ba năm nữa, quê mình thôi khói lửa
Mời xuân đến với tôi. Giờ này còn nổi trôi
Riêng tôi xin từ chối, mà xuân chán gì nơi”.——–
Người lính chiến thân yêu của chúng ta đã bỏ lại sau lưng thành phố những người thương mòn mỏi đợi chờ, những cuộc vui tuổi trẻ, những ước vọng thanh xuân để đón xuân bằng : “Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền”
Phiên Gác Đêm Xuân – Nguyễn văn Đông
Hoặc :
“Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa”
Đồn Vắng Chiều Xuân – Trần Thiện Thanh
Hay chua xót hơn : “Quà xuân anh chẳng có
Gác giặc từng giờ
Đời lính chiến lấy gì gửi về em”.
Phút Giao Mùa – Trần Thiện Thanh

Dù thế, lính vẫn không quên chúc Tết mọi người. Ta hãy nghe “Đầu Xuân Lính Chúc” của Tấn An- Hoài Linh qua thể điệu beguine rock rộn rịp nao nức như không khí ngày Xuân :
“Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình
Ngày mồng 2 chúc cho lứa đôi mình
Và mồng 3 anh chúc đôi mắt em xinh
Má em hồng nét tươi mãi trong lòng anh”.
Để bày tỏ, dù trong muôn một lòng thương mến lính, người hậu phương lúc nào cũng “Vui Xuân Nhớ Ơn Người Chiến Sỹ”, thăm viếng tiền đồn, thư từ quà tặng vào dịp đầu xuân và ngược lại lính rất trân trọng tình hậu phương. Ta hãy nghe lính tâm sự:
“Cám ơn ai khi xuân về vui thật là vui
Không quên người sương gió phương trời
Âu yếm gởi tình đi muôn nơi”.
Cảm Ơn – Trịnh Lâm Ngân
Trong thời chinh chiến, có biết bao bà Mẹ mỏi mắt chờ con trai về để cùng vui đón mùa xuân, nhưng đứa con đã biền biệt bốn phương trời với trọng trách diệt thù giữ yên bờ cõi:
“Mẹ ơi ! Hoa cúc hoa mai nở vàng
Đời con giờ đây đang lênh đênh
Đèo cao gió lộng ngày đêm bạt ngàn
Áo trận sờn vai bạc màu nhìn xuân về lòng buồn mênh mang”.
Mùa Xuân Của Mẹ – Trịnh Lâm Ngân

“Con biết bây giờ Mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngỏ mà tin con vẫn xa ngàn xa”.
Xuân Này Con Không Về – Trịnh Lâm Ngân

Nhưng cũng có lúc hai kẻ yêu nhau cũng tìm ra một mùa Xuân hạnh phúc trên đỉnh yên bình:

Rồi mai, có một lần tôi đưa em,
về trên đỉnh yên bình, hiền hòa
Một mùa xuân lên cao,
hôn lên làn tóc xõa, theo mây trôi, bềnh bồng…
Mùa Xuân trên đỉnh bình yên-Từ Công Phụng
Từ sau biến cố 30 tháng 04 năm 1975, nhiều người Việt Nam vì yêu chuộng tự do phải gạt nước mắt ra đi nhưng lòng luôn hoài vọng về những mùa Xuân yêu thương trên quê hương để rồi ngậm ngùi tự hỏi lòng là :
“Nơi ấy bây giờ còn có mùa Xuân
Có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần”
Em còn nhớ mùa Xuân- Ngô Thụy Miên

Những mùa Xuân tha hương là những mùa Xuân đau buồn u uất của đàn con xa xứ trong giấc hương quan mịt mờ:
“Chiều nay lê bước phiêu du
Thầm nhớ Xuân về làng cũ
Tình quê chan chứa trong lòng
Chua xót thay sầu tư hương”
Xuân tha hương- Phạm Đình Chương

Và sau cùng, trong vòng 5 năm nay, bản nhạc Pháp nổi tiếng “T’As le look Coco” của hai nhạc sĩ Marc Attali và Richard Anderson qua thể điệu techno nao nức sống động với lời và tựa Việt “Xuân yêu thương” của nhạc sĩ Đỗ Đ̀ình Phúc đã trở nên thật phổ biến trong cộng đống Việt Nam hải ngoại:
Xuân đã đến bên em
Ɗáng xuân tuуệt νời
Xuân đã đến bên người,
Xin người hãу cùng em νui xuân.
Mɑng hạnh ρhúc cho đời
Gió xuân tuуệt νời Mɑng sɑу đắm cho người Xin người cùng em νui xuân.
———————————–

Từ nãy giờ, chúng ta cùng nhau trở về với vùng âm thanh kỉ niệm qua những bản nhạc xuân thập niên 5, 60 mà bần bút cố ghi lại theo trí nhớ hẹp bề khổ. Do đó nếu có gì thiếu sót, xin các bạn đánh cho hai chữ đại xá. Chỉ cần biết rằng, cứ mỗi độ xuân về, lòng ta không khỏi bâng khuâng ngậm ngùi nhớ về quê hương với khung trời kỉ niệm mà trong đó những ca khúc Xuân vẫn man man bàng bạc trong tâm tưởng.
Sống ở xứ người tất bật rộn ràng, cuộc đời phù du tạm bợ, do vậy, gợi nhớ về dư hương xưa, hình ảnh cũ qua những bản nhạc xuân một thời để biết đâu từ đó ta có thể tìm lại chính hình bóng mình chập chờn trong dĩ vãng tưởng đã nhạt nhòa và để thấy mình vẫn “còn một chút gì để nhớ để thương”.
Mong rằng bài viết này là một món quà tinh thần nho nhỏ đến với người đọc trong những ngày xuân tha hương. Trong tâm tình đó, xin kính chúc quý vị và các bạn một năm mới an khang thịnh vượng để cùng nhau chào đón một mùa xuân nữa trên xứ người..

Nguyên Trần

-Toronto