Hoa Trang

Với sự đồng ý của nhân vật nữ trong truyện “Nhớ Huế” (trước đây), người viết xin ghi lại đúng các chi tiết trong câu chuyện nầy                                             

Phạm Thành Châu

Tốt nghiệp trường Hành Chánh, hắn về Thừa Thiên, được tỉnh đưa về làm việc  tại các quận thôn quê, lòng vòng hết quận nầy đến quận khác. Quận cuối cùng trước khi hắn lên cao nguyên là Nam Hòa, một quận, địa giới rất rộng, bao gồm một phần dãy Trường Sơn mà dân số chỉ độ sáu nghìn. Quận lỵ là chợ Tuần, quận đường là ngôi nhà nhỏ.

Ngoài tay quận trưởng trên chi khu thỉnh thoảng ghé vào, còn lại chỉ có hắn và vài ba nhân viên, mấy cái bàn ghế, một máy đánh chữ… chẳng khác gì một trụ sở ấp. Quận Nam Hòa cách Huế dăm bảy cây số, quận nghèo không có công xa. Tỉnh cấp cho hắn một chiếc xe gắn máy Honda. Quận Nam Hòa và một phần quận Hương Thủy tập trung hầu hết lăng tẩm, chùa chiền của Huế, cảnh trí u tịch, nên thơ. Lăng Tự Đức, lăng Minh Mạng, lăng Khải Định, lăng Thiệu Trị, chùa Từ Hiếu… Về mùa hè, các cô cậu sinh viên, học sinh tụ tập, sinh hoạt, vui chơi nơi các lăng tẩm, chùa chiền. Đẹp nhất, nên thơ nhất là rừng thông mênh mông, bạt ngàn trên đồi Thiên An. Những buổi sáng cuối tuần hắn thường chạy xe lên các nơi đó, một mình lang thang ngắm cảnh, đến trưa, ghé một quán ăn bên đường cho bữa ăn đơn sơ rồi về Huế xem phim, mua sách báo về nhà trọ nằm đọc, thư giản… Thế rồi, một hôm, hắn lên chùa Từ Hiếu, dựng xe, ngồi khuất sau một gốc cổ thụ, nhìn vơ vẫn cảnh vật chung quanh. Tính hắn thích tĩnh mịch nên với buổi sáng êm ả, vắng vẻ như thế, hắn có thể ngồi hàng giờ, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng chuông chùa vang vọng, ngân nga để mặc cho tâm trí chìm đắm trong hạnh phúc của hư vô. Trong lúc đang mơ màng thì hắn nghe tiếng xôn xao của những cô gái “Xe của ai mà bỏ ri hè?” Tiếng một cô khác “Ai mà bỏ, người ta đi chùa lạy Phật” “Tụi mình trong nớ ra, thấy ai lạ mô?” “Hay là của các thầy để quên ngoài ni. Để tao dẫn ra sau chùa” Biết các cô lầm nên hắn vội đứng dậy, kêu lên “Thưa các chị, xe của em!” Các cô giật mình sợ hãi, nhưng khi thấy hắn, mặt mũi hiền lành ra người có học nên các cô yên tâm “Eng ni (anh nầy) làm chi ngồi đây, rình ăn trộm chuông chùa phải khôn?” “Dạ không, em ngồi chơi” “Chơi với ai?” “Dạ. Em chơi một mình” Tuy cách đối đáp của hắn không được lương thiện, nhưng các cô ỷ đông nên bạo dạn. Các cô nhìn hắn, xì xầm điều gì có vẻ quan trọng, ngạc nhiên lắm “Tao nhớ có thấy hắn ở mô đó?!” “Tao cũng thấy quen quen” Con gái thường e lệ, rụt rè nhưng khi đi chơi chung với nhau, họ trở nên bạo dạn, gặp con trai đi một mình thì xúm nhau ăn hiếp, chọc ghẹo để vui cười với nhau. Một cô, như là đầu đàn, đứng chống nạnh, làm oai với hắn “Eng tên chi?” Hắn làm bộ sợ hãi “Dạ. Em tên Phó Nam Hòa” “Eng ở mô tới đây?” “Dạ. Em từ trong Nam ra đây” Một cô nói “Đứa mô ưng anh chàng ni thì hỏi gốc gác mà về làm dâu. Làm dâu trong nam sướng lắm đó nghe. Mụ mẹ chồng tốt lắm!” Cô vênh mặt “Nghe giọng nói thì biết rồi. Nhưng tôi muốn biết rõ, eng sinh ra từ nơi mô? Khôn phải nơi eng làm việc. Có hiểu khôn?” Hắn nhe răng cười “Em trả lời, nhưng chị đừng đánh em” “Chưa đánh mô. Nói đi!” Hắn làm bộ gãi đầu “Dạ. Thật khó nói tên nơi em được sinh ra! Em được sinh ra từ cùng một chỗ với chị đó!” Các cô ngớ ra rồi bỗng đỏ mặt, đập vai nhau cười rũ rượi. Một cô, trông có duyên, đôi má ửng hồng vì cười nhiều quá, nói với cô đầu đàn “Đáng đời mi chưa, Tiểu Thu? Nghe giọng miền Nam, mi tưởng dễ ăn hiếp. Lù khù vác lu mà chạy đó mi nà!” “Ơ! Cái con Khánh Trang ni! Chưa chi mà đã binh người ta! Mi ưng eng thì ta gả eng cho mi đó. Mi muốn hỏi chi thì hỏi đi, nhưng coi chừng. Miệng lưỡi eng ta không vừa đâu” Cô nầy, trông hiền lành nhưng cũng làm bộ dữ dằn, hỏi hắn “Vợ con để mô mà đi một mình?” Cô lúc nãy lại lên tiếng “Con ni vô duyên, tự nhiên hỏi vợ con người ta” “Lại mi nữa! Tao hỏi cho mi đó mi nà. Nè, tôi cho eng biết, có vợ con rồi thì về ru con, đừng đi ve gái mà chết nghe eng! Có người yêu rồi cũng không được ve gái. Ủa. Ngó chi tui mà mặt mũi khờ đặc ra rứa hè?” “Dạ, Mới thấy chị mà em đã mất hồn, mất vía. Chị đẹp thất kinh luôn!” Cô cười, đôi mắt đen sáng lên, cảm động và hãnh diện, nhưng rồi làm nghiêm “Tôi hỏi răng eng không trả lời? Vợ con mô?” “Dạ. Vợ ở đây” “Eng nói răng? Vợ eng có mặt trong tụi tui hả?” “Dạ. Đúng rồi. Vợ em là cô đẹp nhất trong các chị ở đây” “Tụi ni đứa mô cũng đẹp. Eng chỉ coi. Đứa mô là vợ eng?” Cô  quay hỏi các bạn “Đứa mô là vợ eng ni thì ra mà dắt về. Lấy dây mà cột vô chân giường, đừng thả rong mà có ngày mất chồng” Các cô đồng loạt giơ tay “Chồng của tui!” Cô hỏi hắn “Răng (sao) eng nhiều vợ quá vậy? Mấy ông vua chết sớm vì nhiều vợ quá đó eng nà!” “Em chỉ có một vợ thôi. Các chị ưng em mà giơ tay lên chứ em chỉ có một vợ thôi” “Vợ eng là đứa mô? Chỉ coi!” Các cô cười ngặt nghẽo, chỉ tay vào ngực mình, gật gật đầu “Em nè!” Hắn cũng giả bộ nhìn từng cô để tìm vợ rồi bất ngờ chỉ vào cô Khánh Trang “Dạ. Vợ em đây!” Cô la lên “A” lên rồi bước lùi “Ba mạ ơi! Mới gặp lần đầu bữa ni mà eng tỏ tình bất tử rứa hè?” Hắn trả lời kiểu tiểu thuyết ba xu “Dạ. Gặp em từ muôn kiếp trước” Các cô lại cười nói xôn xao, phá tan cảnh nghiêm trang, tĩnh mịch nơi cửa thiền. Cô đầu đàn, Tiểu Thu, hỏi “Eng có đi học không? Mặt mũi sáng sủa, đẹp trai mà ve gái kiểu rẻ tiền như rứa?” “Dạ. Em có đi học. Thưa mấy chị” “Học trường mô?” “Dạ. Trường Hậu Bổ” “Trường chi mà lạ rứa?” “Mấy chị không biết trường đó đâu. Nhưng em nghỉ học rồi. Em làm công chức sống qua ngày” “Công chức là chức gì?” “Chức đồng tri huyện” “Chức chi mà lạ rứa?” “Là phụ tá cho quan tri huyện. Bây giờ gọi là ông phó quận” Cô ta gật gù “Làm chi cũng được, miễn có tiền nuôi vợ con là tụi nầy gả Khánh Trang cho eng” “Rồi cô hỏi cô kia “Khánh Trang. Mi có ưng eng ni không mi? Không ưng thì nhường eng cho tao” “Răng mi biết tao không ưng mà giành chồng của tao?”  Các cô vỗ tay kêu lên “Làng trên xóm dưới ơi. Ra mà coi! Vợ lớn, vợ bé đánh nhau giành chồng nì!” Đúng là một buổi sáng vui chơi ngoài trời lành mạnh, tươi trẻ, đầy tiếng cười. Cô Tiểu Thu nói với hắn “Cám ơn eng đã đóng với tụi nầy một vở kịch vui. Kịch đã hạ màn rồi. Eng có thể đi chỗ khác cho tụi nầy được tự nhiên” Hắn ngồi lên xe “Dạ, cám ơn mấy chị, cám ơn em Khánh Trang. Tuần sau mấy chị có đến đây không? Cho em gặp. Được không?” “Chưa biết đi chỗ mô. Muốn gặp Khánh Trang thì nói, chơ gặp tụi ni mần chi. Lần sau, đến đây tụi ni tổ chức lễ cưới cho hai ôn mụ (ông bà), là cô dâu Khánh Trang và chú rể eng Phó si tình”.

            Thời còn đi học, hắn cũng có bạn gái, cũng rủ nhau đi coi hát, ăn quà rong, vui đùa, chọc ghẹo nhau nhưng rồi quên đi. Không hiểu sao, khi gặp cô Khánh Trang hắn đâm nhớ cô ta đến ngẩn ngơ. Cô hồn nhiên, vô tư mà làm vẻ người lớn nên trông rất dễ thương. Khi cô cười, phô hàm răng trắng đều, môi hồng, đôi mắt đen nhánh, thông minh, nhìn hắn thân ái, dịu dàng. Hắn cảm nhận được tình cảm cô dành cho hắn. Một buổi sáng thứ bảy, hắn dậy sớm, chạy xe vô chùa Từ Hiếu, không thấy ai, qua lăng Tự Đức cũng không! Hắn chạy vòng lên đồi Thiên An thì thấy các cô đang đuổi nhau, tiếng cười nói, náo nhiệt cả một góc rừng. Thấy hắn lò dò đến, các cô ngưng cười, tò mò đứng nhìn. Cô đầu đàn, Tiểu Thu, chặn hắn lại “Eng kia, đi mô rứa? Chỗ con gái, đến mần chi?” “Bữa trước, chị có hứa cho em gặp Khánh Trang” Cô kêu lên “Khánh Trang mô rồi. Ra mà gặp cái eng bị mi bắt mất hồn, mất vía đây nì” Các cô đẩy Khánh Trang ra đứng trước hắn. Cô đứng yên nhìn hắn, không cười. Mái tóc đen, dài, rủ xuống đồi ngực nhỏ. Quần jean, áo trắng ôm lấy thân hình thon gọn, hài hòa, tinh khiết. Các bạn cô im lặng, như nín thở vì ngạc nhiên. Lần đầu trong đời, các cô được thấy đôi mắt si mê đến ngây dại cuả một anh con trai đang chiêm ngưỡng cô bạn Khánh Trang của họ. Cô Tiểu Thu lên tiếng “Tụi ni làm mai cho hai ôn, mụ (ông, bà). Ôn, mụ nói đi! Anh yêu em, em yêu anh. Chú rể tương lai nói trước” Hắn nói “Cả tuần nay anh mất ngủ” Cô hỏi “Răng rứa? (vì sao?)” “Nhớ em Khánh Trang” “Mất ngủ mấy ngày thì chết?” “Mất ngủ sinh bịnh mới chết” Cô mím môi, nhìn hắn, mặt lạnh tanh “Em biết. Đó là bịnh tương tư. Khi mô anh chết, cho em biết. Em đến khóc đưa tiễn anh ra nghĩa trang buồn” Cả bọn chưng hửng! Một cô kêu lên “Khánh Trang! Răng mi tàn nhẫn với người ta rứa mi?” Không nói một lời, hắn quay lưng, xuống đồi. Có tiếng kêu “Anh Trương Chi ơi là anh Trương Chi!”.

 Hắn tự ái. Giận các cô, giận lây qua Khánh Trang, tuy biết rằng các cô tưởng hắn cũng là sinh viên với nhau vì hắn mới ra trường, tuổi chưa đến ba mươi, nên chọc ghẹo cho vui. Thực ra là lỗi của hắn. Làm công chức mà ăn mặc xuề xòa, đi lang thang, lại tán tỉnh các cô gái, chẳng ra “thể thống chính quyền” gì cả! Hắn cứ tưởng mình còn tự do như thời sinh viên mà không biết rằng, khi đã là công bộc của dân, thay mặt cho chính quyền, dù trong quản hạt nhỏ, cũng phải chửng chạc, nghiêm trang, người dân sẽ nhìn hắn để đánh giá chính quyền. Từ đó, hắn mới để ý đến trang phục, tư cách của mình. Áo quần bỏ giặt ủi, thẳng nếp. Thái độ, cách giao tiếp như người lớn. Hắn không lang thang ngắm cảnh ở các nơi vắng vẻ vào ngày cuối tuần mà đi dạo phố, vào các tiệm sách, xem phim với các bạn. Một buổi sáng chủ nhật, hắn cùng vài người bạn đứng trước rạp Tân Tân chờ xem phim. Hắn bỗng thấy từ cửa Thượng Tứ mấy cô gái, trong đó có cô Khánh Trang, đang đi đến. Vì giận họ, hắn làm như không thấy. Các cô cũng tỉnh bơ đi qua. Đi dược một quãng ngắn, bỗng nhiên cô Khánh Trang đi chậm lại, cô quay nhìn hắn, đưa bàn tay lên, vẫy nhẹ rồi đi nhanh theo các bạn. Cơn giận bỗng tiêu tan. Hắn lại thấy cô Khánh Trang đẹp và hiền lành như trước kia. Hắn đoán chừng, phải có nguyên nhân nào đó khiến cô, trước đây, phải đối xử như vậy. Một lần khác, vào buổi chiều, đang tìm một quyển sách trong nhà sách Ưng Hạ thì cô Khánh Trang vào, đứng bên cạnh. Cô mặc áo dài trắng như nữ sinh trung học. Hắn quay nhìn, cô cười, hắn cũng cười. Cô thì thầm “Em xin lỗi nghe! Bữa đó…” “Anh biết mà. Em đừng bận tâm. Em giả bộ ghét anh. Phải không?” “Sợ tụi bạn. Tụi hắn mà mét ba mạ em thì em chết” “Bữa nào cho anh gặp, được không?” “Sáng thứ bảy, anh lên dòng Thiên An sớm, chờ em phía sau tu viện, không ai thấy, nếu tụi em có đi chơi ở đó thì em sẽ đến với anh, nhưng chỉ vài phút thôi. Tụi hắn nghi ngờ thì nguy cho em” “Anh chỉ cần nhìn thấy em, dù một giây, cũng mừng rồi” Cô ngập ngừng “Em cứ nghĩ đến anh hoài, đến mất ngủ…” “Em mất ngủ từ bao giờ?” “Từ buổi sáng, thấy anh ở chùa Từ Hiếu. Em thấy anh dễ thương. Lúc đó, điều em sợ nhất là anh đã có người yêu, nên em mới hỏi…” Hắn lắc đầu “Anh chưa yêu ai. Cho đến khi gặp em” Hắn cầm một quyển sách, mở ra như chăm chú đọc, nhưng thì thầm với cô “Em đứng cạnh anh. Anh mừng run cả người. Em có thấy tay anh run không?” “Dạ có thấy. Em cũng đang run muốn chết! Thôi. Em về nghe!” “Cho vai anh chạm vai em. Được không?” “Dạ được!… Em về nghe!” Cô bước ra khỏi nhà sách, hắn cũng ra theo, cách cô một quãng ngắn. Thỉnh thoảng cô quay nhìn phía sau, thấy hắn nhưng không tỏ vẻ gì. Hắn như người mộng du, mắt đăm đăm nhìn tà áo dài tha thước, mái tóc dài phủ bờ vai, dáng đi dịu dàng của cô, chân hắn bước bừa tới trước, vấp vào mấy bà bán hàng rong, trán suýt đập vào trụ đèn. Đến cuối đường Trần Hưng Đạo, cô lắc đầu, tỏ ý không muốn hắn đi theo nữa. Rồi cô khuất dạng chỗ ngã rẽ vào đường Phan Bội Châu. Nhờ sáng kiến đó, hễ bọn con gái đi chơi ngoài trời trên đồi Thiên An thì cô Khánh Trang đến với hắn, dù chỉ năm, mười phút. Hai người ngồi bên vách tường đan viện Thiên An, khuất sau những cây thông um tùm, ai có đi ngang cũng không thấy được. Cô thường ngồi tựa đầu vào vai hắn, tay bứt từng cánh lá, thì thầm “Em ước được ngồi mãi bên anh như ri, suốt đời” Hắn nhìn cô, cười “Cứ ngồi mãi cho đến chết. Phải không?” Cô lắc đầu “Chết răng được! (chết sao được) Em với anh thành tượng đá chứ! Tượng đá rêu phong nhưng không tan rã, không chia lìa. Cứ ngồi hoài như ri (như thế nầy)” Hắn kéo cô sát vào lòng, hôn lên trán cô “Em dễ thương quá! Anh sẽ yêu thương, lo lắng cho em suốt đời. Anh có viết chút đỉnh. Anh sẽ viết về chuyện hai đứa mình, sau nầy về già, hai đứa đọc lại, có lẽ vui và cảm động lắm” “Em cũng có làm thơ. Chẳng hay ho gì nên không đề tên thật” “Nữ sĩ của anh bút hiệu gì?” “Gì mà nữ sĩ! Tên Hoa Trang. Nhớ nghe! Chỉ riêng anh biết tên Hoa Trang thôi” “Anh nhớ! Khi gặp riêng, anh gọi em là Hoa Trang. Hoa Trang của riêng anh”

Về sau, hình như các bạn biết chuyện hẹn hò của hai đứa nhưng làm lơ. Nhiều khi cô ngồi hàng giờ với hắn, cho đến trưa, nghe bạn kêu, cô mới vội chạy về. Mùa hè đã đi qua, sinh viên, học sinh lại đến trường, không còn tụ tập đi chơi ngoài trời nữa. Hắn không còn được gặp cô Khánh Trang. Thế nên, mỗi cuối tuần hoặc buổi chiều, hắn lang thang trên các con đường Trần Hưng Đạo, Phan Bội Châu, mong gặp được cô Khánh Trang cho đỡ nhớ. Thỉnh thoảng các cô, trong đó có cô Khánh Trang, đi trên đường Trần Hưng Đạo, nhưng hai bên vẫn tảng lờ, như không thấy gì. Nhưng hắn biết và chờ đợi, cô Khánh Trang sẽ đi chậm lại, quay nhìn hắn và tặng hắn một nụ cười. Kể ra như thế cũng đủ cho hắn vui hưởng cuộc đời, nhưng có một lần, gặp nhau, thay vì đi thẳng, các cô chận hắn giữa đường, cô Tiểu Thu nói “Chia buồn với anh nghe, Khánh Trang sắp lên xe hoa rồi. Đừng gặp Khánh Trang nữa nghe!” “Thì trước giờ tôi cũng chỉ nhìn thôi!” “Tụi ni không muốn làm khó, nhưng anh nói chuyện với Khánh Trang là tụi ni bị vạ lây” Trong lúc đó, cô Khánh Trang xây lưng lại với hắn, yên lặng chờ các bạn rồi đi tiếp. Từ đó, hắn không còn thấy Khánh Trang đi ngoài phố với chúng bạn nữa. Các bạn cô cũng làm như không có hắn trên đời nầy.

 Hắn thấy chán nản và buồn. Càng nhớ cô Khánh Trang hắn càng quyết định rời Huế vì mọi nơi, đường phố, lăng tẫm, chùa chiền… nơi nào cũng hiển hiện hình bóng Khánh Trang. Hắn làm đơn xin đổi lên Cao Nguyên và chờ được thuyên chuyển.

 Thừa Thiên, Huế năm nào cũng có bão lụt. Người ta thường bảo nhau “Ông (Trời) tha nhưng Bà (Thủy, lũ) không tha, làm cho một trận hăm ba tháng mười” Nghĩa là phải chờ cho đến hết ngày hăm ba tháng mười âm lịch mới biết chắc năm đó hết bão lụt. Vì đôi khi ở Huế trời tạnh ráo, nhưng trên Trường Sơn mưa lớn, vậy là nước lũ tràn xuống. Phần thượng nguồn của sông Hương, sông Bồ, nước chảy giữa những vách đá dựng đứng nên dồn xuống đồng bằng rất nhanh và mãnh liệt. Ở thôn quê, nửa đêm nghe nước réo ngoài sông, giật mình mở cửa, nước đã vào đến nhà!

 Năm đó bão lụt lớn, ngoài đường nhiều cây cổ thụ đổ ngổn ngang. Quận Nam Hòa, nơi hắn làm việc, thật là bi thảm. Nhà cửa bị gió giật, mái, vách bay tứ tán. Bà con bơ vơ, co ro trong mưa lạnh. Đa số đồng bào là người tỵ nạn Cộng Sản. Họ ở trong các mái tôn (tôle) do chính phủ cấp, ngày ngày đi làm mướn hoặc khai khẩn các rẻo đất mà dân địa phương bỏ hoang để trồng khoai, sắn, bắp sống qua ngày. Trước kia họ cũng có ruộng vườn ở các thung lũng phì nhiêu trong dãy Trường Sơn  nhưng bị Việt Cộng về bắt đi bộ đội, dân công, đóng thuế, ủng hộ đủ thứ, lại thêm súng đạn hai bên bắn nhau, chịu không thấu, họ chạy về vùng Quốc Gia để đươc bảo vệ, giúp đỡ. Họ sống thật nghèo khổ, thiếu thốn. Từ ngày về làm phó quận Nam Hòa, hắn thường đến các hội thiện để xin cứu trợ. Hội Thánh Tin Lành, cơ quan Caritas (Công giáo), Hội Hồng Thập Tự Huế, Tổng Hội Sinh Viên Huế… thường đến các ấp phân phát thực phẩm, khám bệnh, phát thuốc, đắp đường, sửa nhà cho đồng bào. Ngay cả khi không có bão lụt, hắn vẫn đi vận động các hội đoàn đến các ấp chữa bịnh, tặng quà cho đồng bào nghèo.

Buổi chiều, sau một trận bão, đi làm về, hắn ghé hội Hồng Thập Tự. Anh Nghiên, chủ tịch hội đã chờ sẵn. Cả hai đồng ý sẽ đến các ấp bị nặng nhất trước tiên. Theo chương trình ngày mai, hội sẽ lên làng Đình Môn. Đây là nơi xa nhất, hẻo lánh nhất, nằm cạnh lăng Gia Long.

 Sáng hôm đó, xe của hội Hồng Thập Tự đổ hội viên trước văn phòng quận, rồi đi đò máy ngược lên nguồn hữu sông Hương. Đến trưa thì mưa bắt đầu nặng hạt, nước dâng lên. Hắn vội thuê đò máy lên rước đoàn cứu trợ về, vì nếu còn nấn ná, nước chảy xiết, không có ghe đò nào dám lên đón cả. Vì xuôi giòng nên lúc về rất nhanh. Trời u ám, lất phất mưa và gió lạnh. Các hội viên co ro trong áo mưa, chỉ mong chóng về lại Huế nhưng xe của hội đã quay về rồi, đúng hẹn, chiều mới lên đón đoàn. Anh Nghiên, trưởng đoàn, đề nghị đi bộ lên lăng Khải Định tránh gió. Lăng xây tựa vào một ngọn đồi, kiến trúc toàn đá thanh và cẩm thạch, theo kiểu lai căng nửa Âu, nửa Á. Hắn ra chợ Tuần mua bánh mì và đường cho các bạn đỡ lòng. Một bạn khác lấy xe gắn máy của hắn chạy về Huế gọi xe lên đón đoàn. Tuổi trẻ thật hồn nhiên, các đoàn viên vừa ăn vừa ca hát. Hắn và anh Nghiên cùng vài bạn ngồi ở góc lăng chuyện trò. Trong lúc các bạn đang ăn uống, cười đùa, hắn đứng lên xin được có mấy lời cùng đoàn cứu trợ. “Nhân tiện đây tôi xin thưa với anh trưởng đoàn và các anh chị hội viên hội Hồng Thập Tự Thừa Thiên, Huế. Trong thời gian qua hội đã dành nhiều ưu tiên cho quận Nam Hòa. Chính quyền cũng như đồng bào không bao giờ quên tấm lòng vàng của các bạn. Mong các bạn tiếp tục giúp đỡ đồng bào Nam Hòa. Ít lâu nữa, ông phó quận mới đến thay, tôi sẽ giới thiệu ông ta với các bạn” Mọi người ngạc nhiên “Ủa, chớ eng đi mô?” “Tôi xin lên Cao Nguyên. Ở hoài một chỗ cũng chán…” “Có phải vì thất tình người đẹp nên bỏ Huế mà đi chớ chi?” “Cứ coi như vậy, cho có vẻ lãng mạn. Người đẹp lên xe hoa rồi! Nhắc lại thêm buồn” Có người hỏi “Người yêu là em nào? Cho biết tên được không?” “Tôi cũng định hỏi xem có ai biết gì về cô ta không. Cô tên Khánh Trang” “Ở đây cũng có Khánh Trang. Khánh Trang mô rồi? Đứng lên cho ông phó coi có đúng là người đã bắt hồn, bắt vía ông ta không?” Trong đám đông, một cô đứng lên. Hắn kinh ngạc khi thấy đó là cô Khánh Trang. Hóa ra những cô đi chơi trên đồi Thiên An đều có mặt trong đoàn cứu trợ. Hắn không biết cô Khánh Trang có mặt trong đoàn. Vì người nào cũng mặc áo mưa, trùm đầu, khó thấy rõ mặt, vả lại hắn chẳng quan tâm đến ai cả. Ngay buổi sáng, lúc đoàn cứu trợ đến quận, cô Khánh Trang đã thấy hắn, mừng rỡ nhưng không dám đến gặp, vì ba mạ cô đã cấm cô liên lạc với hắn. Khi cô Khánh Trang đứng lên, hắn sửng sờ “Em ở đây mà anh tìm khắp nơi!” Hai người đứng nhìn nhau. Các bạn im lặng, mắt không rời ánh mắt si dại của đôi tình nhân. Hắn bước tới, cô Khánh Trang đưa hai tay ra, chờ đợi. Hắn ôm cô vào lòng, nhắm mắt lại. Cô tựa đầu trên vai hắn. Cô khóc. Lúc đầu, cô mím môi tự kìm chế nhưng rồi cô khóc oà, khóc nức nở. Hắn vỗ nhẹ lưng cô, thì thầm “Cám ơn em. Em Hoa Trang của anh. Lâu quá, không gặp em. Anh nhớ em quá mà không biết tìm em ở đâu?” Cô nghẹn ngào “Anh ở đây, thỉnh thoảng em còn hi vọng được nhìn thấy anh. Bây giờ, anh bỏ em, anh đi. Nhớ anh, em biết tìm anh ở đâu!”  Nhiều cô bạn ứa nước mắt khóc theo với cô.                                          Bỗng có tiếng kêu “Xe lên đón đoàn đến rồi!” Mọi người đứng lên, lặng lẽ đi ra cho đôi bạn được tự nhiên. Cô tựa đầu vào ngực hắn yên lặng. Hắn luồn bàn tay vào tóc cô, chải ra sau và hôn lên trán cô “Em lên xe. Các bạn đang chờ” Cô lắc đầu “Em không đi đâu hết. Em muốn chết ở đây. Chết bên anh…” Hắn vỗ về “Đi với anh một quãng đường ngắn nữa. Giỏi anh thương!” Cô ngoan ngoãn vịn vai hắn bước xuống tam cấp trước lăng đến chiếc xe bên vệ đường. Ngồi trên xe, cô vẫn khóc thút thít. Cô bạn ngồi bên cạnh, ôm vai cô mà không biết nói thế nào để an ủi cô. Cô đưa tay ra, hắn đứng dưới đường, cầm lấy tay cô. Người lái xe chờ đến khi họ buông tay ra mới cho xe chạy. Cô vẫy tay “Nhớ viết thư cho em. Nghe anh!” Cả đoàn vẫy tay từ biệt hắn. Hắn cũng vẫy tay. Nước mắt ứa ra, hắn đứng nhìn cho đến khi xe khuất sau rặng cây phía xa.

 Tối đó anh Nghiên, trưởng đoàn hội Hồng Thập Tự, đến rủ hắn đi uống cà phê. Anh nói là cả hội đều biết chuyện Khánh Trang và hắn. Nhưng ông bố Khánh Trang, là bác sĩ, thì ngăn cấm. Ông bảo Khánh Trang còn vài năm nữa sẽ tốt nghiệp bác sĩ, phải lo học… Hình như ông nhắm được một chàng rể tương lai cũng là bác sĩ. Không hiểu ông ta cấm đoán cách nào mà Khánh Trang đến hội ngồi khóc và nói “Ba mạ hỏi, em nói thật, ba mạ giận, cấm em không được gặp anh ấy nữa!”.

 Hắn rời Huế, lên Cao Nguyên làm việc mà hồn vía để cả ở Huế. Nghe cô, bà nào nói giọng Huế là hắn nhớ Khánh Trang đến thẩn thờ. Nhưng hắn không liên lạc với các bạn ở Huế để biết tin tức về Khánh Trang. Mỗi người đã có một định mệnh khác. Sợi dây đã bị cắt đứt. Hắn vĩnh viễn mất Khánh Trang.

            Rồi mất nước, năm 1975. Sau bảy năm tù Cộng Sản, hắn không về quê mà ở nhờ nhà một người bạn ở Sài Gòn. Hắn mướn một chiếc xích lô đạp kiếm sống. Có hôm hắn ngủ luôn trên xe. Một thân một mình, hắn sống thảnh thơi, vô tư. Thế rồi có vụ HO đi Mỹ, lúc đó hắn lại nghĩ đến Huế, đến Khánh Trang. Hắn phải về thăm Huế một chuyến.

            Ngồi trên xe lửa gập ghềnh, huyên náo vì tiếng bánh sắt, tiếng người nói, hắn phân vân bây giờ Huế ra sao, cô Khánh Trang ra sao?  Đến Huế, hắn vào thành nội thăm người chủ nhà trọ trước đây. Hắn mượn chủ nhà chiếc xe đạp, sáng hôm sau hắn đạp xe lên vùng Nam Hòa thăm lại cảnh cũ. Lăng tẩm, chùa chiền vẫn thế, nhưng hắn thì đã khác xưa. Mất nước, hắn thấy mình không còn chút liên hệ gì đến nơi nầy nữa. Hắn lên đồi Vọng Cảnh nhìn về các thôn xóm của quận Nam Hòa, nơi hắn từng sống với đồng bào, những người dân nghèo khổ trong những ngày chiến tranh khói lửa, tang thương.

            Hôm sau hắn dọ hỏi và được biết cô Khánh Trang có mở phòng mạch gần chợ An Cựu. Hắn quyết định đến thăm cô lần cuối.

 Chiều hôm đó, phòng mạch của cô đông khách. Hắn ghi tên vào danh sách khách chờ “Phó Nam Hòa” và lấy một số thứ tự cầm trên tay. Trong lúc chờ đợi, hắn phân vân, lát nữa vô gặp cô Khánh Trang, hắn sẽ làm gì, nói gì? Nếu cô không nhận ra hắn, không nhớ chuyện cũ thì sao? Có lẽ hắn sẽ khai một bịnh vớ vẩn nào đó cho xong. Ngồi suy nghĩ miên man cho đến khi nghe gọi đến số của hắn, hắn đứng lên bước vào phòng mạch. Một người đàn bà mặc áo choàng trắng, đeo kiếng trắng, hắn đoán là bác sĩ, đang chăm chú viết tên bệnh nhân (tên hắn) vào một mảnh giấy nhỏ, có lẽ là toa thuốc sẽ cấp cho hắn. Hắn vẫn đứng nhưng không dám nhìn mặt cô ta. Hắn mất bình tĩnh mà không hiểu mình đang sợ điều gì?! “Mời ông ngồi!” Hắn ngồi xuống ghế đối diện “Ông đau răng đây? (Bịnh sao đây?)” Hắn nhìn thoáng cô ta, cố nhớ lại hình ảnh cô sinh viên ngày xưa để so sánh với cô bác sĩ hiện tại “Tôi chỉ cảm sơ sài” Cô đo áp huyết rồi móc ống nghe vào tai “Ông xây lưng lại” Hắn xoay người, hướng mặt vào vách, nhìn vơ vẩn mấy tấm hình chụp cảnh lăng tẩm treo trên vách “Ông nói tiếng Nam, lại họ Phó? Họ nầy hiếm lắm. Ông ra Huế bao lâu rồi? Ông đi công tác?” “Tôi vừa đến Huế hôm kia. Tôi có họ khác, tên khác, nhưng trước đây, người ta thường gọi tôi như thế. Trước bảy lăm, Thừa Thiên, Huế có nhiều người họ Phó. Mỗi quận có một người họ Phó. Phó quận Nhứt, Phó Quảng Điền, Phó Nam Hòa…” Hắn nói giọng đều đều trong khi cô bác sĩ đè cái ống nghe lên lưng hắn “Ông hít mạnh vào… Thở ra từ từ… Không có gì đáng lo. Như vậy ở Huế có nhiều người họ Phó? Nhưng tôi chưa gặp hay biết ai có họ đó bao giờ” “Sau bảy lăm, mấy họ đó bị tru di tam tộc rồi, bác sĩ” “Ông nói chi lạ rứa! Có ai bị tru di gì đâu?” “Tru di từ từ” “Bây giờ ông quay lại, để tôi nghe ngực ông. Ông có bị ho, bị nóng lạnh, bị tức ngực, đau bụng hay mất ngủ gì không?” Hắn xoay người lại, đối diện với cô bác sĩ “Mấy hôm nay tôi bị mất ngủ” Hắn vẫn không dám nhìn thẳng cô bác sĩ, nhưng hình ảnh cô sinh viên ngày xưa như hiện rõ trên gương mặt cô ta. Đôi mắt vẫn sáng lên, thông minh và đằm thắm như trước kia, nhưng làn da hồng mịn trên gương mặt hình trái xoan đã được tô lên một lớp phấn hồng và cuối mắt, ở khóe miệng đã có những nếp nhăn. Ngực cô ta, dưới chiếc áo choàng trắng, hình như lớn hơn. Ngực cô Khánh Trang, lúc trước, nhỏ như trái cam, tròn và căng cứng, da trắng hồng, thơm mùi con gái thanh tân “Ông há miệng ra!” Hắn há miệng. Cô bác sĩ nhìn hắn và bỗng nhiên cô buông ống nghe “Anh! Anh đến thăm em sao không báo trước? Em có bao giờ nhìn kỹ bệnh nhân của em đâu! Anh thay đổi nhiều quá! Anh chờ em một phút” Cô ra ngoài phòng khách. Hắn nghe tiếng cô nhỏ nhẹ “Tôi có người bịnh cần khám thật kỹ. Bác cảm phiền chờ hơi lâu một chút. Cám ơn nghe!” Hắn rung động cả thần trí. Câu nói dịu dàng từ ngoài phòng khách khiến hắn bồi hồi, nhớ Hoa Trang đến mềm lòng. Đúng là giọng nói của người yêu ngày xưa. Hắn tưởng như nghe cả tiếng gió thổi qua rừng thông, vi vu trên đồi Thiên An, nghe cả tiếng xôn xao của các bạn cô cười nói dưới chân đồi. Nhưng em Hoa Trang đâu?

            Tiếng chân cô bác sĩ đi vào khiến hắn mở mắt ra. Cô ngồi đối diện với hắn, gỡ mắt kiếng đặt lên bàn và nhìn hắn mỉm cười. Nụ cười thân thiện, vui mừng. Hắn bỗng nhận ra là cô bác sĩ nầy và người yêu của hắn khác nhau. Cũng gương mặt đó, nhưng không còn nét ngây thơ, trong sáng của ngày xưa mà thay bằng thái độ chửng chạc của người từng trải. Thời gian, bao nhiêu năm, đã tách rời hai người. Một cô sinh viên ngày xưa và một người đàn bà ngày nay. Hắn buồn quá. Cô Khánh Trang nhìn hắn “Bây giờ anh kể em nghe. Sau khi rời Huế, anh đi đâu? Em có nghe anh lên Cao Nguyên, rồi sao nữa? Ủa! Sao anh buồn quá vậy?” “Xin lỗi bác sĩ. Tôi có người thân vừa mới mất. Bác sĩ có cho phép tôi được khóc trong lúc nầy không?” “Xin chia buồn với anh. Nhưng đời người, ai cũng phải đối diện với điều đó. Có lẽ đó là người thân nhất của anh?” “Tôi chỉ có người thân duy nhất đó thôi. Người đó, có lẽ bác sĩ còn nhớ tên” “Ôi! Cũng quen với tôi nữa? Anh có thể cho tôi biết tên được không? Vì sao người đó chết?” “Em Hoa Trang. Đã chết rồi!” Cô ngồi lặng người… Rồi cô thở dài, cô cầm lấy hai bàn tay hắn, thì thầm “Đừng anh! Tội nghiệp em! Anh nỡ nào giết chết em. Giết chết Hoa Trang của anh?” Cả hai yên lặng. Không gian yên tĩnh lạ thường. Hắn cúi nhìn bàn tay ấm và dịu dàng của cô. Từ đôi bàn tay, hắn như thấy rõ Khánh Trang ngày xưa. Khánh Trang trong trắng và quyến rũ đã từng khiến hắn ước ao được mãi mãi nâng niu, ấp ủ. Cô thì thầm “Em cám ơn anh vẫn còn nhớ đến Hoa Trang. Người đi xa bao giờ cũng mau quên hơn người ở lại. Thời thế đổi thay, ba me em mất rồi, bạn bè tan tác, chỉ mình em bơ vơ với những kỉ niệm cũ. Bao nhiêu năm rồi, em vẫn không quên được những ngày vô tư, đẹp đẽ của em với anh, với các bạn thân yêu. Nhiều khi cứ tưởng chuyện thời còn đi học chỉ là giấc mơ về một xứ thần tiên nào đó, vì hiện tại quá khắc nghiệt. Nước mất, nhà tan. Tan nát hết cả rồi! Em có về thành phố quê anh để tìm anh, nhưng chẳng ai biết. Em vẫn tự trách mình quá yếu đuối, để mất anh. Em hiểu được tình yêu nhưng không biết hạnh phúc là gì?” Cô thở dài. Rồi bỗng nhiên cô nhoẻn miệng cười, mắt sáng lên như vừa tìm thấy niềm vui “Chỉ có anh. Nếu anh và em là vợ chồng thì dù khổ cực, dù xa anh, em nhớ anh, lo sợ cho anh cũng là hạnh phúc của em. Anh cười lên với em đi! Mừng với em được gặp lại anh” Hắn cười thiểu não “Tôi mừng cho Hoa Trang. Trong hoàn cảnh bi thảm của miền Nam mà cô được như thế nầy là may mắn lắm rồi” “Khó khăn lắm mới mở được phòng mạch chui nầy đó anh” “Tôi đến thăm Hoa Trang lần cuối, tháng sau tôi đi Mỹ” “Anh đi với cả gia đình?” “Tôi chỉ còn bà mẹ. Tôi đi với bà cụ” “Hôm nào anh rời Huế?” “Vài hôm nữa. Huế buồn quá. Cũng may, có cô Hoa Trang vừa tặng cho nụ cười cũng an ủi” “Nếu anh ở lại lâu hơn thì cô Hoa Trang của anh sẽ tặng anh nhiều nụ cười nữa!” Bỗng nhiên hắn nhận ra. Cô Hoa Trang ngày xưa của hắn đã chết thật rồi. Cô Hoa Trang nầy chỉ là người bạn. Tại sao hắn không vui? Hắn vừa có một cô bạn mới. Cô Khánh Trang như cũng vừa nhận ra điều đó. Bao nhiêu năm xa cách. Tình yêu sôi nổi của thời sinh viên đã lắng xuống, chỉ còn tình thân ái đằm thắm và tín cẩn nhau của hai người bạn thân. Cả hai nhìn nhau cùng cười, lòng thanh thản. Hắn ôm cô Khánh Trang, hôn lên trán cô. Cô nói “Sáng mai, lúc tám giờ, em mời anh đi điểm tâm với em” Hắn làm bộ e ngại “Ăn điểm tâm hay ăn đòn?” Cô véo vai hắn “Không có đâu!” Khi tiễn hắn ra, vì có bịnh nhân nên cô làm nghiêm “Sáng mai ông đến sớm, tôi mới có thì giờ khám kỹ hơn. Chào ông!” Ra khỏi phòng mạch, đi được mấy bước, hắn bỗng khựng lại. Hóa ra hắn đã trắng tay. Quê hương, đất nước đã vào tay kẻ thù, sự nghiệp cũng không còn. Hắn ra Huế để tìm người yêu thì người yêu đã thành người bạn. Rồi đây, hắn sẽ lưu lạc đến một xứ sở xa lạ, nơi mà hắn chẳng thể hình dung được nó như thế nào? Nếu không mất nước, hắn không phải đi đâu cả. Trước đây, bao nhiêu sinh viên miền Nam du học, thành tài, đều về với quê hương.

            Hắn đi ra phía bờ sông, tìm một thềm đá bên sông An Cựu, ngồi lặng nhìn giòng sông. Buổi chiều vắng vẻ, êm đềm. Hai bên bờ sông không một bóng người, chỉ có hàng cây đang nghiêng mình, soi bóng trên mặt nước. Hắn nghiệm ra, đời hắn và mối tình của hắn, cũng chỉ như giòng nước đang lặng lờ trôi, đã qua rồi thì không có cách nào trở lại được. Không còn gì. Hắn nhìn đăm đăm giòng sông và tưởng tượng. Nếu đi ngược lên thượng nguồn, sông An Cựu sẽ nhập vào sông Hương, đi qua những xóm làng yên tĩnh muôn đời. Kim Long, chùa Thiên Mụ, đồi Vọng Cảnh… rồi đến bến đò Tuần, đó là quận lỵ Nam Hòa, nơi trước đây hắn đã làm việc. Hắn nhớ đến những viên chức xã ấp thật thà, cần mẫn, nhớ đến đồng bào nghèo khổ vì chiến tranh. Hắn nhớ đến em Hoa Trang xinh tươi, đôi mắt đằm thắm, dịu dàng nhìn hắn, làn môi thanh xuân hé nở nụ cười. Cả hai, tay trong tay, đứng giữa rừng thông bạt ngàn trên đồi Thiên An…

 Khám bịnh nhân cuối cùng xong, bác sĩ Khánh Trang dẫn xe gắn máy ra, khóa cửa. Cô bỗng thấy một chiếc xe đạp dựng ở vách phòng mạch. Có thể của bịnh nhân để quên. Cô chợt mỉm cười “Anh chàng nầy, cái gì cũng quên, chỉ nhớ mỗi một mình cô Hoa Trang! Buồn quá, ra bờ sông ngồi thở dài chứ gì?” Cô lấy khóa còng, khóa hai xe vào nhau rồi đi bộ ra bờ sông. Cô đến sau lưng mà hắn không hay biết. Cô đứng chống nạnh, giả giọng miền Nam “Ê! Ông kia. Đừng thất tình mà nhảy xuống sông à nghe! Tui sẽ nhảy theo đó!.” Hắn quay nhìn. Cô cười “Cho em ngồi chung với!”.

Phạm Thành Châu

THƠ HOA TRANG

(ht gửi ptc)

hoa tường vi nở muộn màng trên phố           

ngày em về thăm quê hương anh

không còn ai quen biếtk

không còn ai nhắc nhở

chỉ mình em ngồi thương nhớ

những con đường in dấu anh qua

hoa trái mọng chín trong vườn xanh

mắt anh cười say hơn nụ hôn cay

hơi rượu nồng ủ đời anh ấm lại

gửi ở đâu tài hoa cũ

mười ngón tay nghệ sĩ

ngòi bút anh sáng như ánh sao

trong hồn người vô tận

cuộc đời đã hết

nước đã trôi thuyền vỡ vụn

mẹ già chưa một lần gặp mặt

xưa mơ chuyện vợ chồng

mang mẹ về trông con cho anh viết

Hoa Trang tàn trên mảnh vườn đổ nát

tài hoa anh trôi về cuối con sông

chỗ tiếc thương mênh mông gặp biển

lệ đổ gian nan em chờ bến bờ nào.

 

Trại Phong Hòa Vân

Bửu Uyển

Chiều ngày 2 tháng 6 năm 2008, từ Saigon, chúng tôi đến Huế bằng xe lửa. Sáng hôm sau, chúng tôi được người quen hướng dẫn đi thăm Trại Phong Hòa Vân. Xe đưa chúng tôi đến thị trấn Liên Chiểu, cách Huế khoảng 90 cây số về phía Nam, từ đó chúng tôi đi ghe dọc theo bờ biển dưới chân đèo Hải Vân để đến thôn Hoà Vân nơi có Trại Phong Hòa Vân. Gió biển mát rười rượi, mặt biển phẳng lặng, ghe đưa chúng tôi nhẹ nhàng hướng về thôn Hoà Vân. Khoảng 30 phút sau, chúng tôi đến Trại Phong Hòa Vân.
Đã được báo trước, nên khi ghe của chúng tôi vừa đến, đã thấy vài người đứng trên bến đón chúng tôi. Anh Đức, người phụ trách quản lý trại niềm nỡ chào hỏi chúng tôi. Anh giới thiệu với chúng tôi Xơ Lợi, người nữ tu lớn tuổi đã phục vụ ở đây lâu năm. Anh Đức nhờ Xơ Lợi hướng dẫn chúng tôi đi thăm trại. Trước mắt chúng tôi là những mái nhà “tôn” nhỏ bé, nằm rải rác đây đó. Xơ Lợi giải thích: “Đó là nhà của những bệnh nhân đã lành bệnh, họ không còn phải sống tập trung trong trại gọi là nội trú nữa, họ ra sống ở ngoài, họ trồng khoai, trồng sắn và sinh sống như những người bình thường khác”. Chúng tôi ghé thăm nhiều nhà, ai cũng vui vẻ chào hỏi chúng tôi. Nhà của họ là những gian nhà nhỏ lợp “tôn”, vách ván. Phần lớn họ sống độc thân. Nhưng cũng có nhiều người lập gia đình với nhau, có con cái.
Tôi hỏi Xơ Lợi: “Thế con của họ có bị di truyền không ?”
Xơ Lợi cho biết: “Từ lúc các em mới sinh ra đã được xét nghiệm máu, nhiều em có vi trùng bệnh phong trong máu, nhưng vì phát hiện sớm nên chữa trị được ngay, cũng có em không có vi trùng gì hết, nên các em đó lớn lên một cách bình thường, đến tuổi cũng đi học như các trẻ em khác”.
Họ sống giản dị và nghèo nàn quá. Nhiều gia đình Công Giáo, thiết lập một bàn thờ đơn sơ ở trên vách nhà với Thánh Giá và ảnh Đức Mẹ. Nhưng một điều làm tôi chú ý là nhà nào cũng có treo hình một Xơ còn trẻ, người nhỏ nhắn. Tôi hỏi Xơ Lợi: “Thưa Xơ, tôi thấy nhà nào ở đây cũng có treo hình một Xơ trẻ. Xơ đó là ai vậy?” Xơ vui vẻ cho tôi biết: “Đó là hình Xơ Têrêsa Phạm Thị Phương Anh”.
Tôi ngạc nhiên: “Xơ Phương Anh là ai mà lại được bệnh nhân ở đây yêu mến như thế?”
Xơ Lợi nói ngay: “Xơ Phương Anh là ân nhân của các bệnh nhân ở đây! ”
Tôi tò mò nói với Xơ Lợi: “Xin Xơ cho tôi biết thêm về Xơ Phương Anh.”
Xơ Lợi kể cho tôi nghe: ” Xơ PhạmThị Phương Anh là con gái của một gia đình Phật Giáo giàu có ở Saigon, gia đình Xơ còn có nhiều cơ sở kinh doanh ở Huế nữa. Thuở nhỏ, bé Phương Anh học trường Regina Pacis ở đường Tú Xương, Saigon; Xơ được tiếp xúc với cuộc sống thánh thiện của các Xơ ở đó, và được hấp thụ một nền giáo dục Công Giáo, nên bé Phương Anh đã sớm có lòng mến Chúa và yêu người. Có lần Xơ Phương Anh tâm sự: Lúc nhỏ, khi học ở Regina Pacis, Xơ rất thích ngắm nhìn tượng Đức Mẹ, gương mặt hiền từ và nhân ái của Đức Mẹ đã lôi cuốn sự ngưỡng mộ của Xơ, và Xơ đã yêu mến Đức Mẹ không biết từ lúc nào. Năm 1962, Xơ đậu tú tài toàn phần. Xơ tiếp tục học Đại Học Dược Khoa Saigon và tốt nghiệp Dược Sĩ năm 1967. Gia đình chuẩn bị mở nhà thuốc tây cho Xơ, và mua cho Xơ một xe hơi hiệu Dauphine. Nhưng một hôm, Xơ lái xe vô nhà Dòng Regina Pacis và xin ở lại tu. Các Xơ ở đó rất ngạc nhiên, không biết phải giải quyết ra sao, các Xơ phải liên lạc với gia đình của Xơ Phương Anh. Gia đình của Xơ ngăn cản bằng cách đưa Xơ đi Pháp tiếp tục học Tiến Sĩ Dược Khoa. Xơ ở chung với gia đình người anh ruột và một người dì tại thành phố Bordeaux.
Mặc dù gia đình không bằng lòng cho Xơ theo đạo, nhưng lòng yêu mến Chúa và Đức Mẹ của Xơ ngày một tràn đầy, nên một năm sau, Xơ Phương Anh đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội tại Nhà Thờ Saint Joseph ở Bordeaux. Con đường sống đạo của Xơ Phương Anh không dừng lại ở đó. Một thời gian sau, Xơ xin vào tu ở Dòng Thánh Phao Lồ ở Lyon.
Gia đình Xơ phản đối rất là quyết liệt. Mẹ của Xơ từ Saigon vội vã qua Pháp, đến Nhà Dòng để thăm Xơ. Mẹ Bề Trên, đặc biệt cho phép mẹ của Xơ ở lại với Xơ trong Nhà Dòng mấy ngày liền. Bà đã thấy tận mắt cuộc sống đạo đức và an lành của Xơ trong Nhà Dòng, và bà đã thay đổi hoàn toàn cảm nghĩ của bà về việc tu trì của con gái bà. Hôm bà từ giả Xơ Phương Anh để trở về Việt Nam, bà cầm tay Xơ và nói: ” Mạ về hí, con cứ vui vẻ tiếp tục cuộc sống lý tưởng của con. Không có mạ bên cạnh, nhưng mạ biết từ nay con đã có Chúa, có Đức Mẹ nâng đỡ, yêu thương nên mạ rất an tâm.”
Xơ Phương Anh có một người dì đang sống ở Pháp, thỉnh thoảng bà đến Nhà Dòng thăm Xơ. Thật bất ngờ, mấy năm sau dì của Xơ xin theo đạo. Có lẽ đây là hoa quả đầu tiên do lời cầu nguyện của Xơ Phương Anh.
Năm 1972, Xơ được khấn trọn đời. Thánh lễ khấn hứa được Nhà Dòng tổ chức ở nhà thờ Saint Joseph, thành phố Lyon. Mọi ngươì thân trong gia đình của Xơ đều hiện diện trong thánh lễ. Sau Lễ khấn trọn đời, Xơ được Nhà Dòng chuyển về Việt Nam. Xơ là một Dược Sĩ, nên Mẹ Bề Trên đưa Xơ vào phục vụ ở Bệnh viện Saint Paul, Saigon. Không hiểu do nguyên nhân nào thúc đẩy, Xơ Phương Anh chuyên chú nghiên cứu về bệnh phong cùi. Và cũng không biết do ai giới thiệu, Xơ Phương Anh xin Mẹ Bề Trên cho Xơ về phục vụ bệnh nhân phong cùi ở Trại Phong Hòa Vân, Huế. Mẹ Bề Trên thấy Xơ ốm yếu, sợ Xơ Không chịu nổi những khổ nhọc khi phục vụ bệnh nhân phong cùi, nên Mẹ Bề Trên không chấp thuận. Nhưng Xơ Phương Anh tiếp tục khẩn khoản xin được đi phục vụ bệnh nhân phong cùi, cuối cùng Mẹ Bề Trên phải chấp thuận cho Xơ đi.
Xơ Lợi nói tiếp: “Tôi đến phục vụ ở Trại Phong Hòa Vân này sau Xơ Phương Anh. Tôi đưa bác đến gặp một vài bệnh nhân lớn tuổi, họ đã sống ở đây không dưới ba, bốn chục năm, họ sẽ cho quý vị biết rõ hơn về Xơ Phương Anh.”
Chúng tôi đến gặp bác Nguyễn Một, năm nay bác đã 78 tuổi. Căn bệnh phong cùi quái ác đã cướp mất hai chân của bác, và cách đây mấy tháng bác bị mù hoàn toàn. Bác đang ở trại nội trú, dành cho những người bệnh nặng. Cùng ở chung với Bác Một, còn có bảy bệnh nhân khác nữa; phần nhiều là những người lớn tuổi, chỉ có ông Nguyễn Đức Hòa tương đối trẻ, ông sinh năm 1969. Tất cả bệnh nhân đều bị bệnh phong cùi ăn mất tay, mất chân, tai, mũi … Trông họ thật đáng thương, không ai cầm được nước mắt. Có đến đây gặp họ, nói chuyện với họ, nhìn tận mắt những thương tật của họ, xem nơi ăn, chốn ở của họ, chúng ta mới cảm nghiệm được sự bất hạnh của những bệnh nhân phong cùi.
Tôi vô cùng cảm phục và thương mến họ. Tôi không nghe ai than thở hay oán trách về những đau đớn, bệnh tật mà họ đang gánh chịu, họ là những kẻ khốn khổ nhất trên thế gian này. Nhưng họ đã dạy cho chúng ta bài học “Xin Vâng”. Bài học vỡ lòng và cũng là bài học cuối cùng rất thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.
Tôi đến gần Bác Một, bác ngồi trên chiếc giường tre ọp ẹp, với một manh chiếu đơn sơ trải lên. Bác bị mù cà hai mắt, nên Chúa lại ban cho bác một giác quan khác, bác nhận biết ngay khi chúng tôi đến gần; bác chào chúng tôi:
– Chào ông bà, chắc ông bà từ xa đến đây.
Tôi vội vã trả lời:
– Dạ chúng tôi ở xa, may mắn được đến đây thăm các bác.
Bác Một vui vẻ nói:
– Thật quí hoá, trại này ở xa xôi, cách trở, mà quý ông bà cũng lặn lội đến thăm chúng tôi, xin cám ơn quý ông bà . Chúng tôi đã không bị bỏ quên.
Tôi nghẹn ngào:
– Thưa bác, chúng tôi không biết nói gì cho đủ để an ủi quý bác.
Tôi chợt nhìn về cuối phòng, trên vách tường có treo bức ảnh của Xơ Phương Anh. Tôi hỏi Bác Một:
– Thưa bác, bức ảnh treo ở cuối phòng là ai rứa bác?
Bác Một hướng về cuối phòng rồi nói:
– Tui không thấy gì cả, nhưng tui thường hướng về bức ảnh cuối phòng để tưởng nhớ đến Xơ Phương Anh.
Tôi nói với Bác Một:
-Thưa bác, bác có thể cho tôi biết vài điều về Xơ Phương Anh được không ạ!
Bác Một trầm ngâm, nhìn về một khoảng xa xôi nào đó, rồi bác chậm rãi nói:
” Tôi không nhớ rõ là tháng, năm nào, nhưng chắc chắn là trước năm 1975, chúng tôi có nghe một Xơ ở Pháp về, sẽ đến đây phục vụ bệnh nhân. Chúng tôi nghĩ Xơ ở Pháp về chắc là cao ráo, mập mạp lắm. Nhưng khi Xơ Phương Anh đến đây, chúng tôi ngạc nhiên thấy Xơ là một cô gái nhỏ nhắn, giản dị ngoài sự tưởng tượng của chúng tôi. Có lẽ Xơ chỉ cao khoảng một mét năm, nặng không quá 40 kí lô. Xơ không mặc áo dòng như các bà Xơ khác, Xơ mặc một bộ bà ba hết sức bình dị. Xơ Phương Anh đến Trại Phong Hòa Vân vào một buổi chiều mùa đông, mưa lâm râm buồn bã. Chúng tôi vào chào Xơ, Xơ dịu dàng hỏi han từng người. Ai nhìn Xơ, cũng thấy ngay một nốt ruồi khá lớn trên gương mặt hiền lành, khả ái của Xơ. Xơ luôn luôn mĩm cười với mọi người. Trong những giây phút đầu tiên ấy, anh chị em bệnh nhân chúng tôi đã có ngay cảm tình với vị nữ tu bé nhỏ mới đến trại.
Sau khi Xơ Minh, Quản Lý Trại sắp xếp chỗ nghỉ ngơi cho Xơ, Xơ vội vã đi thăm trại, thăm bệnh nhân. Nói là trại, nhưng lúc đó chỉ có năm ba gian nhà tranh rách nát và một “nhà nội trú” lớn hơn, nhưng cũng quá hư dột, trống trước, trống sau. Xơ hỏi chúng tôi: “Nhà của các bác như thế này ư?” Ngay lúc đó, một cơn gió lạnh buốt ùa vào. Tôi thấy Xơ rùng mình. Xơ được hướng dẫn đến thăm nhà nội trú, có lẽ đây là lần đầu tiên Xơ Phương Anh nhìn thấy những khuôn mặt sứt mẻ của bệnh nhân phong cùi, và phần lớn họ đều mất tay, mất chân…Xơ đã úp mặt vào vách và khóc nức nở. Thấy Xơ quá cảm động, chúng tôi cũng khóc theo.
Xơ đến bên giường Bà Xuân, sau khi chào hỏi bà, Xơ cầm lên cái mền mà bà ấy đang trùm cả đầu, cái mền đã quá cũ, rách nát tả tơi. Xơ lại rươm rướm nước mắt, Xơ quay lại hỏi tôi: “Sao không thấy ai có mùng cả” Tôi cười: “Ở đây làm gì có mùng!”
Xơ đến từng giường, thăm hỏi tất cả bệnh nhân ở khu nội trú. Dù đây là lần đầu tiên Xơ gặp những bệnh nhân, nhưng lời nói, cử chỉ của Xơ, thân mật, gần gũi, giống như Xơ đã quen biết với họ từ lâu.
Sau khi đi thăm bệnh nhân, Xơ trở về phòng của Xơ. Đêm đó, chúng tôi thấy Xơ chong đèn thật khuya. Xơ viết lách gì đó.
Mấy ngày sau, chúng tôi thấy một chiếc ghe lớn câp bến trước trại, họ chở gỗ, ván, tole, ciment đến, không biết để làm gì. Thì ra Xơ Phương Anh kêu người đến sửa lại nhà cửa của bệnh nhân. Chỉ vài tuần sau, nhà cửa ở đây như mới, nhà nào cũng lợp tole, vách ván, nền nhà được tráng ciment cao ráo. Đây là mùa đông đầu tiên, bệnh nhân được sống trong những căn nhà đàng hoàng, kín đáo, không bị gió rét ùa vào như trước nữa.
Khoảng năm, bảy ngày sau, anh em bệnh nhân chúng tôi nhận được mỗi người một cái mền, một cái mùng và một chiếc chiếu mới. Chúng tôi như sống trong mơ.”
Bác Một ngừng lại một lúc, rồi kể tiếp:
“Ông biết không, từ khi Xơ Phương Anh về ở đây với chúng tôi, chúng tôi không còn thiếu ăn như trước nũa. Vài ba ngày lại có ghe ở Lăng Cô ra, chở gạo, cá , thịt đến cho chúng tôi. Suốt mấy chục năm, chưa bao giờ bệnh nhân chúng tôi lại được ăn uống đầy đủ như vậy. Thuốc men chữa trị cho bệnh nhân cũng được Xơ Phương Anh lo cho đầy đủ, không còn chữa cầm chừng như trước nữa.
Xơ còn cho cất một nhà nguyện nhỏ, tuy đơn sơ nhưng có chỗ cho những bệnh nhân Công Giáo vào đọc kinh, cầu nguyện. Nhiều bệnh nhân không phải Công Giáo cũng thường vào đó ngồi nghỉ ngơi.
Tôi còn nhớ, từ những ngày đầu tiên mới đến trại, khi tiếp xúc, săn sóc cho những bệnh nhân mà Xơ mới gặp lần đầu, Xơ cũng đối xử hết sức thân thiết, gần gũi như những người thân trong gia đình. Vì vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả bệnh nhân ở đây đều yêu mến Xơ. Không biết từ lúc nào, chúng tôi thân mật gọi Xơ là Mẹ Têrêsa dù Xơ còn rất trẻ. Xơ phục vụ, săn sóc bệnh nhân với tất cả lòng yêu thương, trìu mến của Xơ. Khi làm thuốc, thay băng ở chân, Xơ bảo chúng tôi ngồi ngay ngắn, rồi Xơ cúi xuống rửa vết thương và băng lại cho chúng tôi. Khi đến phiên tôi được Xơ làm thuốc, thay băng ở chân, tôi ngồi đưa chân cho Xơ chùi rửa, xức thuốc, băng bó, tôi thầm nghĩ : “Dù tôi có chết đi sống lại đôi ba lần cũng chưa đủ để đền đáp ân tình này cho Xơ.”
Có lần tôi hỏi Xơ: “Sao Xơ có thể quên mình, hy sinh cho bệnh nhân một cách tận tụy như thế?” Xơ mỉm cười: “Vì tôi yêu Chúa . Mà Chúa là anh chị em đó!”
Bác Một dừng lại, trầm ngâm, có lẽ bác đang nhớ đến người nữ tu nhỏ bé, đã hy sinh cả cuộc đời cho những bệnh nhân phong cùi như bác…Bác khóc!
Qua cơn xúc động, bác nói tiếp: “Tôi suy nghĩ nhiều về câu nói của Xơ. Thật vậy chỉ có yêu Chúa hết lòng, mới có thể thầm lặng phục vụ cho bệnh nhân phong cùi từ ngày này qua ngày khác được. Trên thế gian này, có hàng trăm cách hy sinh cho tha nhân, nhưng hy sinh tình nguyện săn sóc cho những bệnh nhân phong cùi có lẽ là sự hy sinh to lớn nhất, và đẹp lòng Chúa nhất. Anh em bệnh nhân chúng tôi yêu mến Xơ, và nhờ tấm gương thánh thiện của Xơ, chúng tôi cũng yêu Chúa. Lúc tôi mới đến trại này, hơn một trăm bệnh nhân mà chỉ có năm, sáu người Công Giáo. Nhưng từ khi Xơ Phương Anh về đây phục vụ, lòng tin yêu đặc biệt của Xơ dành cho Chúa, làm cho nhiều anh chị em bệnh nhân tò mò, tìm hiểu về “Ông Chúa” nào đó là động lực thúc đẩy Xơ sống hiền lành, khiêm nhường, hy sinh trọn vẹn cho bệnh nhân như thế.
Xơ Phương Anh mở một lớp hướng dẫn cho những bệnh nhân muốn tìm hiểu về đạo Công Giáo. Kết quả thật bất ngờ, nhiều anh chị em xin theo đạo. Xơ Phương Anh đã ra họ đạo Lăng Cô gần đó, mời Cha Bửu Hiệp vào rửa tội cho sáu bệnh nhân, trong đó có tôi. Số anh chị em bệnh nhân xin theo đạo cứ tăng dần. Bây giờ trong nhà nguyện, lúc nào cũng có vài ba bệnh nhân Công Giáo ngồi đọc kinh cầu nguyện.”
Bác Một lấy trong túi ra một tràng hạt Mân Côi cũ kỹ, bác nói : “Đây là vật kỷ niệm quí giá của đời tôi, xâu chuỗi này do Xơ Phương Anh đã tặng cho tôi, ngày tôi chiụ phép rửa tội. Xơ ân cần dặn tôi: “Bác nên lần chuỗi mỗi ngày để dâng kính Đức Mẹ vì Đức Mẹ nhơn từ lắm, Đức Mẹ yêu thương hết mọi người , Đức Mẹ yêu thương bác lắm đó.”
Lòng sùng kính Đức Mẹ được tỏa ra từ lời nói đến việc làm của Xơ hàng ngày. Khi băng bó, săn sóc cho chúng tôi, Xơ thường kể cho chúng tôi nghe những nhơn đức của Đức Mẹ. Có ai than thở điều gì với Xơ, hoặc có bệnh nhân đau đớn rên xiết, Xơ nhỏ nhẹ khuyên: “Anh chị hãy cầu nguyện với Đức Mẹ, Đức Mẹ yêu thương anh chị lắm. Đức Mẹ đang chờ anh chị ngỏ lời để Đức mẹ cứu giúp”. Xơ luôn luôn xác nhận: “Chưa hề có ai xin gì cùng Đức Mẹ mà chẳng được.”
Từ ngày Xơ Phương Anh về phục vụ ở Trại Phong Hòa Vân này, cuộc sống của các bệnh nhân ở đây hoàn toàn thay đổi, cả vật chất lẫn tinh thần. Ngoài những tiện nghi vật chất, một món quà mà chúng tôi cho là to lớn nhất mà Xơ Phương Anh đã đem đến cho chúng tôi, đó là niềm tin. Chúng tôi tự hào mình là những con người không bị lãng quên, chúng tôi đang được chữa trị , chăm sóc, chúng tôi đang được yêu thương. Dù có đau đớn về thể xác, nhưng chúng tôi cảm thấy đang sống trong hạnh phúc vì chúng tôi được yêu thương.
Nhưng, những ngày hạnh phúc đó đã sớm qua đi. Khoảng ba, bốn năm sau, vì tận tụy làm việc quá nhiều, sức khỏe của Xơ Phương Anh sa sút trầm trọng. Xơ gầy hẵn đi, thường lên cơn sốt và ho rũ rượi. Chúng tôi rất lo lắng cho sức khỏe của Xơ. Cuối cùng, phải cho người lên Huế, báo với thân nhân của Xơ , đem Xơ đi bệnh viện.
Hôm Xơ xuống ghe để lên Huế, chúng tôi đứng chật bãi biển để tiễn đưa Xơ. Xơ cầm tay từ giả từng người. Xơ khóc, chúng tôi cũng khóc. Xơ nói: ” Tôi mong chóng được lành bệnh để trở về với anh chị em.” Ghe rời bến đã xa, chúng tôi thấy Xơ vẫn đứng đăm chiêu nhìn về phía Trại Phong Hòa Vân.
Sau khi Xơ Phương Anh rời khỏi trại, anh chị em bệnh nhân chúng tôi thay phiên nhau quét dọn, giữ gìn sạch sẽ nơi ở của Xơ, xem như Xơ đang ở với chúng tôi vậy. Chúng tôi yêu mến Xơ, chúng tôi nhớ Xơ lắm. Ai cũng ước mong Xơ sớm trở lại với Trại Phong Hòa Vân. Nhưng ngày tháng đợi chờ cứ qua đi, không có tin tức gì của Xơ.
Chúng tôi thấy trên bàn làm việc của Xơ có một tấm ảnh nhỏ, chụp nhân dịp ngày Xơ khấn trọn đời ở Pháp, chúng tôi sang tấm ảnh ấy ra. Nhà nào, phòng nào ở đây cũng xin được treo bức ảnh của Xơ Phương Anh, như một cử chỉ nhớ ơn Xơ. Chúng tôi thương nhớ Xơ, nhớ từng lời nói ngọt ngào, nhớ từng cử chỉ chăm sóc đầy trìu mến của Xơ. Xơ Phương Anh đã cho chúng tôi quá nhiều. Thỉnh thoảng vài bệnh nhân đứng ngắm nhìn bức ảnh của Xơ và khóc.”
Ngừng lại một lúc, rồi với giọng đầy xúc động, bác Một nói: ” Xơ Phương Anh là người chị, là người Mẹ, là ân nhân của chúng tôi. Tình thương dịu hiền của Xơ dành cho chúng tôi, là liều thuốc linh nghiệm cứu sống bệnh nhân phong cùi ở đây. Hằng ngày, chúng tôi tạ ơn Chúa vì Ngài đã gửi đến cho bệnh nhân phong cùi Trại Phong Hòa Vân chúng tôi một nguồn an ủi vô tận, đó là Xơ Têresa Phạm thị Phương Anh.”

Bửu Uyển

Rượu Mềm Lòng Nhân

Hồi ký của một công bộc thời chiến

Tôn Thất Hùng

 

Công bộc phải biết vâng lời dù sai nguyên tắc

  Phục vụ ở hai quận Đaktô, Kontum và Ty Nội An tỉnh Kontum  gần 4 năm, từ 10/68 đến 2/1972, người viết (NV) lập gia đình và xin thuyên chuyển về Thị xã Cần Thơ, tân lập. Vị Thị Trưởng kiêm Tỉnh trưởng Phong  Dinh lại tống đi Quận Thuận Nhơn, tên cũ là Khắc Nhơn. Địa danh  này nổi tiếng  là nơi  sát thương: Tỉnh trưởng – Đại tá Nguyễn văn Khương, lên cố Chuẩn – tướng-, một Đại úy Quận trưởng, Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu đoàn trưởng  44 BĐQ, tử thương ở Bà đầm -Thác lác. Tình hình an ninh toàn quận thật bi đát. Sau khi được đổi tên từ Khắ́c sang Thuận, tình hình an ninh có phần đỡ hơn, nhưng các vị Quận trưởng không chết thì cũng bị thương nặng, trường hợp Trung tá DTN.

  Sau hai lần được hai đàn anh Phó Thị trưởng K1 và Phó Tỉnh trưởng K6 tiếp v/v khiếu nại Tỉnh trưởng đã tự quyền điều động NV từ Thị xã sang Tỉnh là trái với nguyên tắc hành chánh, cả hai đàn anh đều khuyên là nên tuân hành. Biết là mình bị ép nhưng phải thi hành. Hai tháng sau, một đồng môn được đưa từ Bộ thay chỗ NV ở Tòa Thị chính Cần Thơ.

Tháng 4 năm 1972, khi tham dự khóa học Cán bộ hoá công chức ở Rạch Dừa, gặp Thứ trưởng Nội  vụ Lê Công Chất (NV đã có lần  đón tiếp Ông vào tháng 3/1969 lúc ông đi thăm quận Đaktô). Sau khi nghe qua vấn đề khiếu nại, ông khuyên là nên vâng lời. Đồng môn Phó quận cũ, tốt nghiệp Cao học Hành chánh K4, đã bỏ về Tòa Hành chánh Tỉnh từ lâu, sau đó làm Trưởng ty Kinh tế, đến ngày 30/ 4/ 1975 là người đứng ra tiếp thu Tòa Hành chánh Tỉnh Phong Dinh và Toà Thị chính Cần Thơ.

 Nhìn địa thế văn phòng quận Thuận Nhơn, không hàng rào bao bọc, không ụ đất phòng thủ, không cổng gác, NV  biết là không an toàn  nhưng còn an tâm hơn là nếu ra khu nhà dân ở. Ban ngày  làm việc, có một cảnh sát viên canh gác, thêm  một  cận vệ. Vì quận đường  nằ̀m ở ngoài  vòng đai an  ninh của Chi khu nên  mỗi đêm đều có một trung  đội  ĐPQ được tăng phái đến bảo vệ. Một số quân nhân đã giúp  đào một hồ  nuôi cá  tra làm chỗ đi cầu cho văn phòng và dân chúng, vừa làm chướng ngại  rào cản khi VC tấn công. Vợ chồng  người viết  cùng ở trong văn phòng quận, nên chiều chiều, các gia đình Nghĩa quân trong khu gia binh thường đến chơi và xem truyền hình cùng vợ chồng NV. Quen với cảnh sống dưới địa đạo ở quận đường Đaktô, nhiều đêm  thức trắ́ng bên cạnh các Nghĩa quân người  Thượng và vợ con họ, cùng chống trả  các lần tấn công của  quân chính quy BV,  nay lại  gần gủi với gia đình vợ con  NQ người miền Nam, vợ chồng NV đã hiểu thêm những khó khăn thiếu thốn và những nổi bất hạnh của họ.

 Ở nơi đặc biệt, tái ngộ đàn anh đặc biệt   

  Từ năm 1970, khoá 11 Đốc sự  “dzách lầu” được mùa làm Phó Tỉnh, Phó Thị: Từ Quảng Trị có Bửu Uyển; Thừa Thiên – Huế có Cường Cọp,Thuyết; Quảng Tín có Thiệu; KonTum: Khoa VC, Cường Tồ, Cửu sừng; Thạnh Pleiku; Phước đói, Chức, Phúc, Quang, Cảnh, Phát bấn, Lương cho đến Trần văn Chí,Vĩnh Bình. Tổng cộng là 16 đàn anh ưu tú  giữ chức vụ PTT, được xem là thành công nhất cho đời công chức. Bên cạnh những đàn anh tinh hoa cũng có một mảnh đời đàn anh kém may mắn, đó là anh PVT, cùng K11, người miền Nam.  Ở̉ chung trong ký túc xá, anh T có một cá tính đặc biệt là bất cứ ai khạc nhổ trước mặt anh là anh vung tay đánh ngay. NV cũng đã từng được anh T ra đòn. Sau nhiều năm ra trường mỗi người mỗi nơi, mãi lo với công việc và sự sống còn từng ngày trong cuộc chiến vệ quốc nên khó gặp nhau. Một hôm,  đàn anh T bất thần viếng thăm đàn em. Anh T xuất hiện lúc gần 10 sáng mùa Hè năm 1973 trong bộ quân phục màu vàng đi phép, trên cổ là hai mai vàng, đầu trần tóc dài, mũ nồi vàng  xếp nằ̀m trên cầu vai trái. Mặt xám đen, giọng thều thào. Bất ngờ và sững sốt, NV cảm thương cho đàn anh, tức tốc đứng dậy cầm lấy tay anh và hỏi chuyện. Anh T cho hay là vì bất đồng với viên Đại tá Tỉnh trưởng Chương Thiện, anh đã được trả về Bộ Quốc phòng, nay phục vụ ở Tiểu đoàn ĐPQ  418 Chương Thiện. Anh cần giúp đỡ. NV vội bỏ phong bì 3000 đồng. Sau đó nhân mùa bầu cử, phải đặt thêm một thùng phiếu cho tiểu đoàn tăng phái này,  NV  đã đến thăm Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và gửi gắm đàn anh nhờ Thiếu tá giúp đỡ. Trong một chầu bia, Thiếu tá Đại, TĐT, cho  hay :“Trung uý T như người mất trí, ra quán ăn, ăn xong không trả tiền, chủ quán hỏi thì ông đưa tay chỉ vào cái lon hai mai vàng  và ra khỏi quán. Việc này cứ tái diễn hằ̀ng ngày”. NV không làm sao khác hơn là xin lỗi viên Thiếu tá, sau đó gặp ngay Xã trưởng  xã Thạnh Hòa – Rạch Gòi, nhờ hỏi xem là Trung úy T đã chưa trả tiền quán nào, NV sẽ hoàn trả cho các quán đó. Xã trưởng là chủ nhà máy xay lúa, ông bảo “Để xã lo cho”. Đàn anh Võ Trung  Hải K11, năm xưa cùng phòng  với anh T ở ký túc xá, nay  đang làm  Phó quận Phong Phú, gần Thuận Nhơn có được bạn cũ viếng hay không?

Đồng hồ Longines dỏm đổi Rolex vàng

   Tháng 3/1973,Thiếu Tá TMH, thay TrungTá PT, làm Quận trưởng Thuận Nhơn. Tháng 4/1973 có tân Tỉnh,Thị trưởng mới. tân Quận trưởng, xuất thân Khóa 20 Đà lạt, cùng khóa với người bạn thân HTM, nên Quận trưởng và Phó quận rất tương đắ́c. Một hôm đầu tháng 6/1973, anh Quận trưởng nhờ NVmột việc: anh  tháo chiếc đồng hồ Rolex vàng (mới đổi khẩu P38 ngắ́n nòng, bá nạm bạc của anh cho một anh bạn cùng khóa) đưa cho  NV và vội vàng đeo vào tay cái Longines dỏm của NV. Vô cùng ngạc nhiên, vội hỏi chuyện. Anh cho hay là khoảng 20 phút sau phải trình diện Đại tá Tỉnh trưởng. Ngày hôm sau, với vẽ mặt không vui, anh Quận Trưởng nhờ NV ngày mốt tiếp ĐTTT ở Ấp Thạnh Xuân, xã Thạnh Hòa và Đại táTT sẽ ngủ đêm ở đó, vì anh cáo bệnh. Trước đó, tháng 5/ 1973, NV đã được vị tân Tỉnh trưởng này gọi về trình diện vì “đã  tự ý  hoàn ngân trên 20 triệu tiền trợ cấp nạn nhân chiến tranh có tên trong danh sách, nhưng không có người nhận. Hoàn ngân  mà không  trình qua Tỉnh trưởng, nên đã được Đại tá TT với vẻ mặt đầy giận dữ dạy cho NV một bài học về  quản trị tiền bạc. Tháng 7 năm 1973, vị phó quận cũ, Cao học 4, đã thay thế NV làm phát ngân viên tiền trợ cấp cho nạn nhân chiến cuộc ở xã Tân Bình. Số tiền không ai nhận lên quá con số 20 triệu, anh Phó này đã cùng với ĐTTT chia nhau một mẻ tiền lớn, có thể anh Phó này đã nộp tiền cho Việt cộng. Chừng bốn  tháng sau, vị ĐTTT được trả về Bộ Quốc phòng, mặc dù vào tháng 5 trước đây, khi vào trình diện, NV đã trông thấy lá cờ 1 sao trên bàn của Tỉnh trưởng .

Nơi tử địa gặp thiền sư

 Tháng 7 năm 1972, một chiều nước nổi ngập nền văn phòng quận, mặc bộ bà ba đen ngồi câu cá rô và đuổi rắn, chợt trông xa xa thấy một vị sư dong dỏng cao mặt hiền, mắt sáng, thần từ, chân dép tay nải vàng. Người hỏi “Thưa có phải ông phó ?” “Dạ phải sư”. “Xin ký cho phép hành lễ An vị tượng Bồ Tát Dược Sư Quan Thế Âm ở̉ Thiền viện Dược sư, xã Tân – Bình”. “Dạ Sư cần mấy ngày”. “Dạ ba ngày”.

Nhân dịp có một nghĩa quân vừa mới tử trận, nhà nghèo không thỉnh được sư về làm lễ đã hai ngày rồi, NV ướm lời “xin sư từ bi làm lễ cho gia đình tử sĩ vui lòng”. Vị sư trẻ, bằng tuổi NV, thưa rằng: “Mô Phật”. Thế là sư đi cùng với NV chừng năm phút là đến khu gia binh. Quen với lễ nghi, người vội mở tay nải lấy ra nào chuông nào mõ, khoác áo đại tràng và bắt đầu hành lễ. Tiếng chuông tiếng mõ vang lên, đèn nến sáng, khói hương nghi ngút.  Cha mẹ, vợ và gia đình tử sĩ  nước mắt đầm đìa vì quá xúc động.   NV có dịp lễ bái vong linh người vừa nằ̀m xuống. Cảm kích tâm từ, sau gần hai giờ làm đủ mọi lễ nghi, NV đưa sư xuống ghe xuôi kinh Xà No về xã Tân Bình.  Ngày an vị tượng, NV theo lời mời, đã tham dự  lễ và cùng phát biểu một đôi lời. Khi được hỏi “Cơ duyên nào sư phát tâm?”  Sư  quê ở Kinh Cùng, Tân-Bình  cho hay “Năm 10 tuổi, nhà nghèo, mỗi đêm nhân mùa nước nổi thường giúp cha mẹ, đầu đội đèn khí đá, tay nơm tay dao, theo con nước chém cá, lươn, rùa, cua, ếch đem về cho cha mẹ bán. Một hôm như thường lệ, mãi mê theo con nước, bỗng nghe một tiếng khè, hết hồn chợt nhìn xuống thì nhận ra là bàn chân mặt đang đạp trên cổ con rắ́n hổ mang, thay vì rắn cụp đầu cắn bàn chân theo phản xạ nhưng cái đầu rắn to lớn kia không làm theo bản năng. Trái lại, cậu bé 10 tuổi lại phản ứng tự vệ để cứu nguy cho mình. Một  nhát dao là đầu rắn bay. Cậu bé vừa sợ hãi vừa lo âu, vội mang cá và con rắn hổ về nhà. Sau khi nghe qua câu chuyện, cha cậu bảo rằng: “Con đã chém nhằm con rắn tu. Nếu đạp nhằm con khác thì mạng con khó toàn”. Sau biến cố này, trong đầu cậu bé luôn luôn tự hỏi ” Tại sao mình lại chém chết con rắn tu”. Đi đứng nằm ngồi đều nghe vang vang câu hỏi này. Chờ đến năm 15 tuổi, sau nhiều năm giúp cha mẹ, cậu bé cúi xin phụ mẫu đi tu. Sau nhiều năm theo học cậu bé đã là một Đại Đức, xin về quê nhà lập chùa để hóa độ chúng sinh, Chùa Dược Sư của Đại Đức Thích Huệ Hiền rất khiêm nhượng “mái tranh vách tôn”, nhưng đệ tử rất đông. Sau ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris có  hiệu lực, Sư đã phát tâm tự thiêu để cầu quốc thái dân an. Người viết đã xin sư đừng tự thiêu vì tăng chúng và phật tử đang cần sư, không có vị sư nào khi sinh tiền, chúng sinh đang cần sư giáo hóa lại tự thiêu để lấy xá lợi. Tháng 7 năm 1973, sau khi uống rượu với bạn-Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng ở xã Tân Bình – ai chậm thì được tắm đầu, người viết ra về sau khi bạn đã ngủ say. Trên đường về nhớ sư ghé thăm. Sư  đang tịnh khẩu  để cầu nguyện cho một đại đức đang bịnh. Sư bút đàm “ông Phó thuyết pháp”, người viết: “Say rượu không pháp”. Sư bút đàm: “Rượu là rượu pháp là pháp”, người viết: “uống rượu không Phật.” Sư bút đàm “rượu là rượu Phật là Phật.” Người viết “xin cho mời tăng chúng” . Khi tăng chúng tụ tập đông đủ, tiện thể  có cuốn  “Thiếu Thất lục môn  của Bồ Đề Đạt Ma ” ở trên bàn, người viết nhờ một sư  mở bất cứ trang nào hỏi  thì có câu trả lời.  Khi thuyết pháp xong, sư Huệ Hiền mô Phật cám ơn. Tháng 11 năm 1975, sáu tháng sau khi Việt cộng chiếm Miền Nam, Sư Huệ Hiền cùng toàn thể đệ tử đã ngồi tự thiêu ngay trong chùa Dược sư để phản đối Việt Cộng đàn áp Phật giáo.

 Tổ chức Đảng Dân  chủ và Rượu mềm lòng nhân

   Tháng 3 năm 1973  xăng dầu lên giá. Sau khi kiểm kê cây xăng ngay quận lỵ, kết toán khoảng gần 40.000 đồng phụ trội  theo giá mới, người viết hỏi  chủ :” Số tiền này ông  sẽ giải quyết thế nào? – Thiếu tá Quận trưởng 10,000 đ, ông Phó 10.000 đ, CHT/CSQG 5000đ,Trưởng chi An ninh QĐ 5000đ. Nghĩ đến gia đình binh sĩ, nghĩa quân trong trại gia binh  và dân phố, người viết vội nhờ Chi Thông tin phát loa thông báo cho mọi người đến mua, có trưởng ban kinh tế giám sát: không ai được mua mỗi thứ quá 20 lít.

 Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, Tổng Thống Thiệu đã cấp thời ra lịnh cho các Tỉnh Quận  tổ chức đảng Dân Chủ. Tất cả viên chức trong chính quyền ở cấp quận, xã, ấp đều là đảng viên, có bí danh . Người viết hộc tốc xuôi ngược thi hành bất kể ngày đêm cho xong danh sách và ngày ra mắt đảng bộ. Lúc này Việt cộng ám sát, đặt bom nhiều nơi  nên  mỗi chiều trước khi ngủ, người viết đều đi xem xét các cửa văn phòng Quận xem có bị đặt bom không ? Ấp Thạnh Xuân, cách Quận đường  chừng 2 km, Việt cộng tàn sát cả gia đình Phó Ấp cả thảy là 8 người. Một đêm trong tháng 4 /1973,người viết  xuống xã Tân Hòa lấy danh sách. Sau một chầu nhậu với Xã trưởng và Trưởng cuộc CSQG, vào khoảng 11 giờ đêm,  khi  ngồi vào “hobo”Johnson  2 máy thì Trưởng cuộc CSQG vội đưa khẩu M79  và dây đạn. Ông ta dặn ngang kinh 2500 mét thì phải chạy lẹ.  Kinh Xà No nước đang ròng, trăng mờ, gió mát, áo trắng thời sinh viên, tay cầm khẩu phóng lựu M79. Chợt nghe phía bờ trái có tiếng va chạm ở khu mã đá, cứ ngỡ là có người bị bịnh cần cấp cứu, vội kêu chú Nghiệp lái  tàu dừng lại, lấy đèn pin rọi vào và kêu có ai bịnh thì xuống bờ, có tàu  đưa cấp cứu, một mặt thì rọi vào mặt cho trên bờ  nhận diện. Chờ đợi chừng 10 phút không nghe trả lời, chợt nghe tiếng lên đạn. Chú lái tàu la lớn: “Dọt ông Phó”. Hai máy Johnson dọt lẹ, một tràng AK 47 rít qua đầu. Trạm gác NQ ở kinh 2500m vội kêu về Quận. Trăng sáng đẹp và cả hai người đều thoát tử vong. Hobo dừng ngay cầu tàu, đông đảo binh sĩ cùng vợ con đang chờ xem thế nào? Rời hobo, cám ơn tất cả mọi người đã chờ đón và nhớ đừng nói cho vợ con NV. Chợt thấy vợ tay ẳm con thơ ngay trong đám đông.

 Tết Giáp Dần,1974, lệnh của Tỉnh  trưởng không được rời quận. Phong Dinh là một tỉnh lớn rất nhiều quận. Khoảng 11 giờ sáng  ngày mồng một Tết, Đại tá Tỉnh trưởng đi trực thăng thăm quận, ông vui vẽ bắt tay. Nhờ vậy mà NV được đổi sang quận Thuận Trung vì khi thăm quận này không thấy phó quận. Khóa đàn em này đã về Sài gòn ăn Tết. Đêm 14 tháng 12 năm 1974, VC đánh quận Thuận Nhơn.Văn phòng quận tan nát, trưởng ban hành chánh bị bắt, đại uý  trưởng ban 3 chi khu bị tử thương. Thiếu tá  Quận trưởng Ngô văn Sửu bị thương ở mặt, thều thào  tử thủ trong hầm chỉ huy, gọi tướng Lê văn Hưng đang  bay thị sát cho pháo binh bắn phủ đầu vào hầm. Riêng phó Quận Thuận Nhơn – khóa sau, hơn NV  7 tuổi – hàng ngày: sáng 10 giờ từ  thị xã  Cần Thơ xuống Quận, 2 giờ chiều về lại Cần Thơ, nên không mệnh hệ gì.  Chỉ lưu lại trong lòng quân dân cán chính quận Thuận Nhơn  một ấn tượng không mấy  tốt đẹp cho Học viện  QGHC.

Cái uy của đàn anh Phó Tỉnh

   Trong suốt gần 8 năm làm việc, NV có dịp gần gủi hai vị Phó Tỉnh và học được nhiều bài học lý thú. Anh Phạm Gia Định và anh Nguyễn Hữu Dậu cùng K8 Đốc sự. Anh Định thương NV như một người  em, anh Dậu đã làm cho một Trung tá Quận trưởng phải khuất phục. Sau Tết  Giáp dần, NV sang Thuận Trung trình sự vụ lịnh do ĐT/TT Phong Dinh ký, nhưng viên Trung Tá Quận trưởng-gốc BĐQ, từng làm trại trưởng BĐQ Ben Hét ở Đaktô, tỉnh  Kontum –  không chấp nhận. Ông ta muốn lưu giữ anh Phó quận cũ, NV về lại tòa Tỉnh, anh Dậu bảo về lại Thuận Nhơn. Đầu tháng 3/1974, NV sang Thuận Trung thì mối liên hệ giữa trưởng và phó đã không có gì tốt đẹp. Bao nhiêu chi phí của gia đình Trung tá đều do xã Thạnh Phú gánh chịu, không biết các xã khác phụ giúp bao nhiêu. Uỷ viên Tài chánh xã nhiều lần trình sổ sách đều khóc. NV  trình cho anh Dậu. Anh xuống Thuận Trung vào tháng 8 năm 1974. Trung Tá Quận trưởng đã cho một trung đội dàn chào anh. Áo trắng sinh viên với cái mũ xanh rộng vành đi rừng, bước qua hàng quân thật oai vệ. Sau đó anh và Quận trưởng, có NV tháp tùng, ngồi ghe máy ra ngay văn phòng xã Thạnh Phú. Trước mặt Trung tá Quận trưởng và đông đủ Xã trưởng, chủ tịch HĐX,Trưởng cuộc CSQG, thiếu úy  phân chi khu trưởng ở trong sân văn phòng xã, sau khi lướt qua  mục thu chi của ngân sách xã, anh Phó tỉnh hỏi: Sao mục du di kinh phi nhiều quá vậy? Còn hóa đơn thanh toán máy phát điện ở đâu? Không thấy máy phát điện? Ủy viên tài chánh xã ú ớ … Anh ném cuốn ngân sách xã ngay mặt ủy viên tài chánh trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Trung tá Quận trưởng thì mặt tái đi. Liền sau đó anh Phó Tỉnh về Tỉnh ngay, không dự buổi cơm chiều do Quận trưởng thiết đãi .

   Vài giòng ký sự của một kẻ sĩ văn võ đầy đủ trong thời chiến, đã đem hết lý tưởng phục vụ quê hương, bảo vệ danh tiếng của Học viện, không hề biết luồn cúi, có thể sẽ làm mất lòng một số anh chị đồng môn. Xin quý vị niệm tình tha thứ cho. Xưa các cụ dạy “Tam thập nhi lập “ mà kẻ hậu sinh này chưa đầy 29 tuổi khi nước mất.  Cái giá phải trả cho lý tưởng này rất đắt hoặc là vô giá phải không quý Anh Chị?

Tôn Thất Hùng  (ĐS 12)

11 tháng 11 năm 2017. Kỷ niệm 50 năm ra trường.

Đôi Bông Tai

 Trần Bạch Thu

     Dọc đường nhấp nhô xe cộ nối đuôi nhau đang đổ dồn ra xa lộ buổi chiều. Hai bên đường phố rực rỡ ánh đèn màu đủ loại, những dây đèn trang trí chung quanh mái nhà thòng xuống lơ lững nhiều cảnh lạ thật vui mắt. Trên sân nhà nào cũng có hang đá chúa hài đồng, ông già Noel hay vài con nai được quấn đèn chung quanh sáng lóe đang cử động nhấp nháy theo ánh đèn chi chít. Tan sở về mà lòng rộn vui vì trong tay đang cầm một tấm check tiền thưởng cuối năm đủ để mua một món quà như đã hứa với lòng từ nhiều năm trước.

        Lâu nay tôi quen thân với một anh bạn người Mỹ cùng làm ở sở có người chị làm quản lý cho một công ty kinh doanh đồ trang sức hột xoàn kim cương ở thành phố Tustin. Thân lắm, có khi cũng đã gần 10 năm. Hắn thường gọi đùa tôi là Mr. Rice vì ngày nào, tháng nào hay năm nào buổi ăn trưa của tôi cũng là cơm trắng với đồ ăn mặn mang theo từ nhà. Ít khi lắm mới có một bữa trưa góp tiền mua Hamburger McDonald ăn chung mà khoái khẩu nhất vẫn là french fries (khoai tây chiên) chấm ketchup (sốt cà chua). Những lần như thế tôi thường hay nói với hắn là tôi rất ít ăn thịt từ thuở nhỏ vì nhà nghèo, đông anh em và cũng đã có lúc tôi định ăn chay (vegetarian) trường theo mẹ.

        Cả tuần trước Giáng sinh, công việc ở sở không nhiều lắm, mọi người chỉ lo trang trí cây thông Noel lớn ở giữa tiền sảnh, sắp xếp quà tặng lẫn nhau giữa các nhân viên trong không khí nhộn nhịp chờ lãnh tiền thưởng. Tôi cũng lất phất vòng quanh các phòng ban nhưng không để ý nhiều lắm mà chỉ lo dặn đi dặn lại anh bạn người Mỹ thân lâu nay nhờ giới thiệu và cho xin địa chỉ cũng như hẹn giờ với người chị của hắn vào buổi chiều trước khi nghĩ lễ để đến gian hàng của chị ấy. Hắn lộ vẻ ngạc nhiên.

        – Đến đó để làm gì?

        – Mua một đôi bông tai.

        – Thật vậy sao.

        Tôi gật đầu và hơi mĩm cười đắc ý. Lệch chiếc mũ ông già Noel một bên hắn cũng cười và chen chân cùng với mọi người vừa mang quà ra xe vừa luôn miệng Merry Christmas. Merry Christmas… Thật vui.

* * *

        Hồi mới học năm thứ hai ở Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Sài Gòn tôi được lãnh lương hằng tháng như một công chức ngạch B nên rất dư dã. Do đó tôi thường hay trích 1/3 tiền lương để gởi về cho mẹ giúp gia đình nuôi em. Từ đó về sau tôi vẫn giữ mức trợ giúp như vậy cho tới khi miền Nam sụp đổ. Ba anh em lớn trong gia đình tôi cũng đều phụ mẹ y như vậy. Đứa em kế là Hải quân nên 3, 4 tháng mới lên bờ về nhà một lần. Thói quen khi về đến nhà sau khi đã chi tiêu đủ các khoản ở đơn vị là đưa hết tiền cho mẹ giữ rồi sau đó xin lại xài dần cho đến trước khi đi, mẹ muốn đưa lại bao nhiêu cũng được. Hải quân gì mà hiền vậy. Bạn bẻ ở đơn vị thường hay trêu chọc là “Thầy Tu” nhưng lại dành tiền cho mẹ nhiều nhất. Đứa em thứ hai là Quân Cảnh đóng ờ Sài Gòn, mẹ biết rõ tánh hay ăn xài rất rộng nên mẹ giao cho mỗi một việc là giúp đứa em gái kế đang đi học ở Trường Luật, trả tiền trọ và cơm tháng cho em. Gia đình anh em tôi trai gái 9 người, khi mất nước đứa em út mới 3 tuổi.

        Trong hoàn cảnh gia đình đông anh em như vậy nên mẹ tập cho các con tính tiết kiệm. Thiệt thòi từ nhỏ anh em tôi ít có tham gia vào các thú vui giải trí như đi xem phim hay đua đòi theo bạn. Chỉ ráng học hành cho thật giỏi và anh em trong nhà chơi với nhau thôi ít có đàn đúm ra ngoài. Muốn mua cái gì thì cố gắng dành dụm cho tới khi đủ rồi mới mua. Mẹ không thích mua đồ trả góp hay mua chịu. Nghèo thì nhịn chứ không mượn nợ.

        Cả nhà đều biết mẹ quán xuyến nhiều việc, lo cho mọi người không kể chồng con. Mẹ thương ngoại lắm. Lúc ba còn đi làm, mẹ luôn bàn với ba để trích ít tiền luơng gởi về cho ngoại hằng tháng. Đi đâu, ở đâu mẹ cũng nhớ về Cai Lậy. “Tội nghiệp ngoại già rồi con” anh em tôi nghe câu nầy không biết bao nhiêu lần. Hôm đưa đám bà ngoại, khi chuyển quan tài qua con lạch nhỏ bằng xuồng ba lá, đến giữa dòng xuồng nghiêng sắp lật may nhờ Hai Cầm huy động bà con kịp thời chen vai chịu đỡ và lót thêm chuối cây mới lần lần đưa xuồng qua được tới bờ bên kia. Khi về mẹ nói nếu xuồng lật chắc mẹ chết theo luôn. Từ đó mẹ luôn nhắc đến và lo cho gia đình Hai Cầm như người thân cật ruột trong nhà. Thọ ơn thì phải đền ơn. Đơn giản vậy thôi. Mẹ nói.

        Nhớ hồi Tết Mậu Thân tưởng đâu ba bị bắt chắc chết, mẹ lặn lội về quê ra tận ngoài vàm Long Khánh nhờ bà con bên ngoại cứu giúp. May thật, người làng biết mẹ nên tận tình giúp đỡ, nữa đêm có người mang xuồng đưa ba trốn thoát khỏi vùng xôi đậu do Cộng sản kiểm soát. Từ đó ba bệnh luôn, nghĩ việc và gia cảnh đến hồi túng quẫn. Mẹ bắt đầu bươn chải nuôi chồng con. Được vài năm kịp thời anh em tôi lớn lên học hành tốt nghiệp đi làm. Mẹ mừng lắm, mọi việc bắt đầu ổn định.

        Đời mẹ chỉ có một ước muốn là các con mình trở thành Thầy, Cô giáo là mẹ mãn nguyện. Nhưng mà có được đâu. Con cái lớn lên theo thời cuộc và vận mệnh mỗi đứa làm một nghề khác nhau. Đã vậy mà ba anh con trai lớn, tuổi sấp sỉ 24, 25 rồi đi làm xa mà vẫn chưa có đứa nào nói đến chuyện vợ con gì hết. Mẹ đang lo lắm.

        Chưa làm sui được thì Cộng sản tràn về. Nước lại chảy ngược, mấy đứa em nhỏ phải vất vả vừa học vừa nuôi heo, đan lát may vá thêm để dành tiền phụ giúp mẹ đi thăm nuôi các anh đang cải tạo. Mà một vài năm cho cam, đàng nầy đằng đẳng có người tới năm, mười năm. Chịu sao cho thấu. Cùng cực bán hết nhà cửa tài sản làm vốn mua bán hàng vặt để sống đấp đổi qua ngày.

        Khi tôi về sau gần mười năm dài cải tạo ngoài miền Bắc thì nhà đã trống trước trống sau, cảnh vật xác xơ, tiêu điều. Buồn lắm. Còn sống sót là may rồi con à. Mẹ thường hay nói như vậy để an ủi và khuyên các con ráng chịu đựng trong hoàn cảnh khó khăn đầy ức hiếp. Được nữa năm, lúc tôi còn đang trong vòng quản chế không được cấp giấy phép đi đường nhưng mẹ vẫn quyết định môt mình cùng với cô em gái út ra Kontum làm đám hỏi cho tôi. Đến lúc đó, cả nhà mới hay là trong những năm tôi còn đi làm gởi tiền về hằng tháng, mẹ luôn dành dụm chút ít cho đến khi đủ mua một đôi bông tai hột xoàn để dành cho con cưới vợ sau nầy. Nhà có khó khăn thế nào, bán tất cả nhưng trừ hai món là đôi bông tai và chiếc nhẫn hột xanh mà cô Trâm đã đưa cho tôi đeo, mang theo về Sài Gòn “để nhớ đến em” hồi tháng 3 năm 1975.

        Nát vỏ cũng còn bờ tre. Trong đám hỏi mọi người hết cả họ bên nhà gái và bà con lối xóm ai nấy cũng đều trầm trồ khen ngợi đôi bông tai to sáng và đẹp, nỗi bật chưa từng thấy. Xứng đáng công chờ đợi mười năm. Mẹ rất hãnh diện và vui lắm khi chính tận tay đeo đôi bông tai cho cô Trâm.

        Sau khi mãn hạn quản chế tại địa phương tôi đi ngay ra Kontum để làm đám cưới. Trước khi đi, nhà nghèo lắm, hai mẹ con bàn nhau lấy chiếc nhẫn hột xanh của cô Trâm tặng hồi trước đem ra thợ bạc đánh thành hai chiếc nhẫn cưới để làm lễ trao nhẫn ở nhà thờ.

        Lễ cưới diễn ra tại nhà thờ Tân Hương, Kontum. Giáo dân đông nghẹt. Cha Luca BT. chủ tế và ngoài những nghi thức thông thường trong Lễ cưới. Dịp nầy Cha còn cảm khái nhắc lại tình yêu của cô dâu chú rễ trãi qua bao phong ba bão tố trong hơn 10 năm đã làm sáng danh “Sự gì Thiên Chúa kết hợp loài người không thể phân chia.” Cảm động vô cùng.

        Khi về nhà đãi tiệc, cô dâu thay áo cưới mặc áo dài đội khánh để ra chào khách, lúc vén tóc lên sửa lại cho ngay tôi ngạc nhiên không thấy em đeo đôi bông tai mà mẹ mang ra Kontum hồi làm đám hỏi. Tôi hỏi đâu rồi. Em ứa nước mắt. Khách đông và lại chắc có điều gì đó bất ổn nên tôi không tiện hỏi tiếp, hai đứa cố gắng vui vẻ ra tiếp khách đang ồn ào, chật cứng đầy ở phòng khách, ngoài sân.

        Xong tiệc cưới, mấy hôm sau trực nhớ tôi hỏi lại về việc đôi bông tai. Em lặng lẽ vô tủ đồ trong buồng mang ra một chiếc hộp nhỏ mở ra còn thấy rõ hai hàng chữ mạ vàng trên nền lụa trắng đã ngã màu, tiệm vàng “H. N.” trên dưới bằng hai thứ tiếng Việt và Hoa. Em nói.

        – Đôi bông tai giả anh à.

        Tôi chết điếng người, mắt dán chặt vào đôi bông tai còn gài cứng trên đáy hộp.

        – Sao em biết.

        Số là sau đám hỏi có người bà con trước năm 75 có tiệm mua bán vàng bạc, hột xoàn kim cương tại chợ Kontum thấy đôi bông tai to và sáng quá nên tò mò sinh nghi bảo em đem ra nhà thử mới biết là hột xoàn giả. Mợ Tư cam đoan với ba má là như vậy.

        – Ba má nói gì.

        – Ba nói để thủng thẳng rồi hỏi lại anh.

        Cả đời ba gắn bó với xứ đạo Tân Hương, Kontum. Đi tu từ năm 10 tuổi. Không được Chúa gọi, ba xuất ra đời và làm Biện nhà thờ suốt nhiều năm. Mỗi khi gặp khó khăn ba đều luôn nguyện dâng hết cho Chúa và thường hay nói là Chúa cho vác Thánh Giá noi gương Ngài nên không phàn nàn gì cả. Phiền muộn sớm tiêu tan.

        Đám cưới xong, mười ngày sau tôi về lại Cai Lậy nôn nóng hỏi mẹ sao vậy. Mẹ bảo là mẹ cũng không biết. Hôm sau hai mẹ con xuống tận làng Nhị Mỹ tìm tới nhà bà chủ tiệm vàng HN. ngày trước. Vừa thấy mẹ con tôi bước vào bà khóc ngay.

        – Dì Năm thương con. Hồi trước con lỡ dại.

        Sau đó nghe kể hoàn cảnh khó khăn hiện nay của gia đình, mẹ tôi thở dài. Khi nhà nước phát động chính sách cải tạo công thương nghiệp ở huyện, chủ tiệm vàng HN. đã tẩu tán tài sản cho người em gái có chồng là thầy giáo để may ra còn giữ được của cải. Nhưng sao đó gia đình người em giựt luôn số tài sản đã gởi và ông chủ tiệm bị bắt đi cải tạo. Được mấy năm, trại cho ra ngoài tự giác chăn dê và hay ra chợ mua thực phẩm về trại cho cán bộ. Một hôm tay còn cầm gậy chăn dê đầu đội nón cời, quần áo rách rưới bám theo xe ra chợ bị ngã xuống đường và qua đời. Cả gia đình tản lạc tứ phương chỉ còn bà chủ tiệm trở về quê trụ lại làm mướn sống trong nghèo nàn khốn khổ.

        Để chuộc lại lỗi lầm, bà chủ tiệm định viết một miếng giấy xác nhận nợ đưa cho mẹ mang ra chợ trao cho người em gái giúp trả dùm. Nhưng mẹ kêu thôi. Người ta đã giựt của cải, tài sản của chị mình rồi thì người dưng còn ăn thua gì. Giờ ai cũng khổ cả làm khó nhau chi. Mẹ bảo thôi và chỉ muốn biết sự thật để khỏi ái náy với gia đình bên sui nhà gái mà thôi.

        Trên đường về đi dọc theo đường Bến Cát, hai mẹ con biết thật là mẹ đã mua lầm đôi bông tai giả nhưng nghĩ lại mọi chuyện cũng hạnh thông, không có gì xui xẻo lắm. Khi có chuyện gì buồn hay khó khăn mẹ im lặng và mắt hay chớp liên hồi là tôi biết mẹ đang niệm Phật. Tự dưng tôi nhớ đến câu ca dao thuộc làu từ nhỏ.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
.”

* * *

        Hằng năm cứ đến ngày Noel tất cả gia đình anh chị em cùng với Ba đi dự Thánh Lễ chung với nhau ở nhà thờ St. Lucy, Long Beach. Sau đó cùng về nhà tôi để ăn tiệc nửa đêm. Mấy năm đầu trên đất Mỹ còn ít người nên ăn xong là quây quần bên cây Noel trong phòng khách để mở quà Giáng Sinh ngay, nhưng sau nầy anh em từ Kontum qua Mỹ đoàn tụ con cháu đông nên năm nào cũng đợi đến sáng hôm sau ngày 25 mới mở quà. Thường thì quà chỉ để vui cho trẻ nhỏ thôi còn người lớn thì cái quần, cái áo ấm hay đôi khi chỉ tấm thẻ gift card là được. Đặc biệt năm nay, giáng sinh năm thứ mười trên nước Mỹ tôi có một món quà cho bà xã được chính tay tôi gói cẩn thận.

        Khi mở gói quà ra là một đôi bông tai hột xoàn Mỹ còn đựng trong hộp mới tinh. Bà xã muốn khóc bèn đưa cho ba xem và nói đỡ.

        – Ba coi thiệt hay giả.

        Ba hơi cảm động, các em tụm quanh yêu cầu tôi đeo vào cho chị và cố làm dáng như đám cưới thật để chụp hình.

        Tối hôm sau tôi gọi điện thoại về cho mẹ, thăm hỏi như mọi khi và cũng cho mẹ biết là tôi đã mua được một đôi bông tai hột xoàn Mỹ. Mẹ hỏi:

        – Con mua bao nhiêu?

        – Cũng bằng với giá má mua đôi bông hồi xưa nhưng nhỏ hơn.

        Tôi nói cho mẹ yên tâm là hột xoàn thiệt mua có giấy chứng nhận đàng hoàng và do người quen giúp. Trò chuyện vui một chút rồi thì cũng tới điệp khúc quen thuộc.

        – Chừng nào con về ? … đặng cho má coi hột xoàn Mỹ ra sao.

        Tôi nợ mẹ câu hỏi nầy không biết bao giờ mới trả đủ. Lần lửa tôi về không kịp. Mẹ mất.

        Trước đây mẹ luôn ám ảnh bởi cảnh xuồng nghiêng sắp lật hồi đưa ngoại về đất nhà chôn cất nên mẹ muốn sau khi mất được nằm gần bên cố ngoại trên đất chùa, miếng đất mà cố ngoại đã hiến tặng để cất chùa hồi mấy trăm năm về trước ở dưới chân cầu. Hòa thượng trụ trì đã làm phép an táng mộ phần cho mẹ trên khoảnh đất nhỏ vừa đủ để đặt cổ quan tài ở chính giữa gò bên cạnh mộ cố tổ ông bà.

        Hôm ra viếng mẹ lần cuối trước khi về Mỹ tôi lấy khăn lau mộ bia. Tần ngần hồi lâu, chợt nhớ đến ước muốn lần sau cùng của mẹ qua điện thoại tôi khóc thầm. Giả thiệt gì rồi cũng đều là vô thường. Má ơi.

        Gió sông cầu đúc thổi chiều về hơi mát dịu. Tôi ngước nhìn ảnh mẹ đang cười trên mộ bia mà trong lòng yên ắng trở lại rồi quay đi.

 Trần Bạch Thu

Lạm Bàn Về Đúng – Sai Trong Mấy Thói Quen và Suy Nghĩ

Lê Văn Bỉnh

Mấy ngày sau khi phim bắt đầu chiếu, một người bạn già từ Texas gọi điện thoại hỏi tôi đã xem phim The Vietnam War chưa.  Ông bạn biết tôi vốn là một người hay tò mò tìm hiểu đủ thứ trên đời, thì chắc là đã không thể bỏ qua một cơ hội hiếm có này, cho nên hỏi để bàn cho đỡ buồn miệng.

 Thú thật, hai năm nay sau khi về hưu, tôi chẳng làm được chuyện gì cho đàng hoàng nghiêm túc.  Hăm hở về hưu nghĩ rằng sẽ có thì giờ rảnh rổi đi du lịch và viết lách. Về du lịch, thì nhiều năm nay tôi chưa ra khỏi cái quận Fairfax này, không biết vì sao. Ai hỏi, tôi đổ lỗi là vì bà xã không muốn đi, thì tôi cũng không vui mà đi một mình để tỏ ra mình là một người chồng già luôn nghĩ đến bà vợ … cũng không còn trẻ. Bà ấy lấy lý do là ngồi trên phi cơ hay xe hơi, xe buýt thì đau lưng, đau chân, mặc dầu bà ấy vẫn tiếp tục đi làm mỗi tuần năm ngày để có quyền độc lập tài chánh, và mạnh miệng nói rằng “Tôi làm việc nuôi cả gia đình!”  Còn tôi, sau khi “nghiên cứu về hạnh phúc” dưới con mắt của người học kinh tế, được biết là cái vui của một chuyến du lịch chỉ để lại trong đầu những hình ảnh đẹp 15 ngày mà thôi; đó là chưa kể đến nhiều lúc mình già cả lỡ lời với bạn hữu, thì … tới chết mình và họ cũng không quên nỗi, cho nên hoan hỉ ngồi yên nhìn mấy cái va ly nặng trỉu đầy bụi bặm sắm từ thiên niên kỷ trước.  Tôi còn tự nhủ làm chủ bút không đăng bài, hay chỉ sửa bài cũng làm mất bạn bè nhiều rồi; không nên mất thêm nữa.   Ngoài ra tôi cũng ngại không biết vào phi trường thì làm sao in ra được cái boarding pass.  Lần cuối tôi đi máy bay là 10 năm trước.  Dĩ nhiên, không biết thì hỏi và một khi mình đã hỏi, thì chắc chắn sẽ được chỉ dẫn hoặc người ta làm dùm cho, nhưng vẫn ngại, cái ngại của … Tư Ếch đi Saigon.

 Về viết lách, thì vì Hội Cựu SVQGHC Miền Đông đã giao hẹn cho mỗi năm phải ra mắt đặc san “Hành Chánh Miền Đông” cho kịp ngày họp đầu năm dương lịch, cho nên đành phải chạy lên chạy xuống basement lục lọi tài liệu cố gắng viết cho được một bài, hay lật mấy cuốn tự điển để sửa chính tả cho độc giả bớt (bớt không có nghĩa là ) ngứa mắt. Vì vậy bạn bè còn thấy tên tôi thỉnh thoảng xuất hiện!

Để trả lời ông bạn trên, tôi thú thật trong mấy ngày trước đó, thỉnh thoảng tôi mới mở TV hay computer một lần, viện lý do chẳng hy vọng gì thấy truyền thông Mỹ tìm ra hay trình bày được “sự thật”, cho nên không muốn mất thêm thì giờ . Tuy nhiên tôi vẫn nói với ông bạn già một câu đại ý là người Mỹ lúc đầu đúng về chiến tranh ở Việt Nam, nhưng sau đó là sai, và sai mãi cho tới ngày nay! Và làm cho thế giới cũng … sai theo.  Anh bạn già chờ đợi tôi nói thêm chi tiết, nghĩ rằng tôi sẽ nói dong dài về chính trị.  Tôi chỉ cười, và hứa với anh là sẽ … bàn về văn phạm tiếng Anh (English grammar) đối với  việc này. Vì phân tích chính trị, chiến luợc chiến thuật, quản lý bộ máy chiến tranh, thì đã có vô số sách báo viết rồi, trong đó có ông bạn này của tôi.

Và hôm nay, tôi giữ lời hứa với ông bạn ấỵ.  Và cũng muốn chia xẻ với quý độc giả cũng như thỉnh ý quý vị về mấy chuyện phiếm này. Nhưng trước khi bàn về chuyện phiếm … lớn này, tôi xin mạn phép lạm bàn vài chuyện phiếm bé tí, vì chuyện phiếm bé tí thì dễ … nhận ra và có thể tự động điều chỉnh cho đúng.

Vốn là một sinh viên kém Anh văn, tôi phải vật lộn với ngọai ngữ này nhiều năm trước khi được cho đi Mỹ học … kinh tế hai năm.  Đến khi nghe giảng bài, thấy hay thì đến lúc phải xách vali về.  Sử dụng tiếng Anh khi làm việc với chuyên gia kinh tế Đài Loan chưa được một năm … thì  vào tù 5 năm, chữ nghĩa cũng rơi rớt lần theo sức nặng của thân thể và theo màu đen của tóc .  Đầu óc, thân xác chỉ được nuôi dưỡng bằng bo bo, mì lát phơi khô mà mấy con heo thấy cũng lắc lắc cái đầu, thì còn chi trí nhớ.  Ra tù cải tạo, đi dạy Anh văn, phải soạn bài mệt nghỉ, vì mình là tay ngang.  Tôi đã phải thường xuyên đạp xe lang thang các chợ sách, đường sá lùng kiếm sách cũ cần thiết và nhất là phải vừa túi tiền.  Sau vài ba năm, thì mới cảm thấy tự tin … đứng lớp!  Khi sang Mỹ, đầu óc của tôi vẫn còn là đầu óc … méo mó của một thầy giáo dạy ESL (English as a Second Language): ngữ pháp đúng hay sai, phát âm đúng sai, viết hiệu quả (effective wrting) hay không.  Lúc chưa có internet, thì  khi có điều gì nghi ngờ thì tra cứu … rách nát cả mấy cuốn tự hay tò mò hỏi người Mỹ đồng sở vv.

Chỉ vài ngày sau khi định cư ở Virginia, thì óc tò mò của thầy giáo ESL của tôi bắt đầu hoạt động lại khi nghe người ta phát âm sai tên Maryland của tiểu bang lân cận.  Tôi nhớ một quyển sách dành cho thầy giáo ESL đưa ra “qui tắc”:  Chỉ trong vài địa danh tận cùng bằng chữ (-land), thì chữ (-land) đó mới phát âm như  (land ) nghĩa là đất,  chẳng hạn Thailand. Kỳ dư phải đọc khác đi (nghe như âm /ơ/ tiếng Việt), thí dụ như Holland, New Zealand, Maryland.

Nhiều người  phát âm sai, chỉ vì thấy chữ (land) quen quá, không cần phải để ý gì thêm nữa!  Cũng quá quen như south, north mà  trong  đó (th) được phát âm /th/ như trong chữ (thank, think, theater).  Tuy nhiên, dưới hình thức tính từ, southern, northern thì  (th) lại đưọc phát âm thành /th/ như trong (the, then, this).

Hầu hết những người lớn tuổi đều đọc chữ computer với âm /t/ rất rõ ràng trong khi các bạn trẻ hay con nít học hành ở đây đều phát âm chữ (t) đó thành âm /đ/.  Khi nói nhanh, thì chữ  (t) được phát âm ra như thế.  Đây là trường hợp của những chữ thường gặp, như water, later, letter vv.  “Qui tắc” mà tôi học được là:  chữ (t)  giữa 2 nguyên âm mà nguyên âm trước được nhấn mạnh thì phát âm như /đ/. Thậm chí, một số người nói nhanh, thì trong chữ county, chữ (n) biến đi và chữ (t) cũng nghe như /đ/. Có lần tôi đã nghe một ông bố … già phân trần: “Thằng con tôi bị “đớ lưỡi”, sửa nó hoài không được! Nếu ở Việt Nam, tôi sẽ cú đầu nó rồi! “ May quá, nếu nó u đầu, chắc là ông phải gặp cảnh sát, và chính ông mới là người “đớ lưỡi!”

Nếu để ý, chúng ta còn nghe chữ (a) trong a book đọc từng chữ phải đọc là /ê/ trong tiếng Việt (ABC mà!),  nhưng khi đọc/ nói nhanh thì chữ (a) được nghe như /ơ/ trong tiếng Việt.  “Qui tắc”: Articles nằm trong một nhóm từ, hay trong câu thì  được đọc yếu đi; chúng chỉ đóng vai trò hành tiêu ớt tỏi!  Cũng vậy, khi nói nhanh/nối  vần (link) thì this year, could you, can’t you  vv. sẽ nghe khác với khi đọc từng chữ.

Trẻ em nghe sao nói vậy, bắt chước khá dễ dàng.  Người lớn, nhất là những người đã từng sai đâu đấy rồi, đã từng “tiếp xúc” với tiếng Anh chỉ thuần qua sách vở, thì nghe trước, rồi qua đầu óc phân tích, suy nghĩ  xong,  mới nói! Đầu óc phân tích đưa chúng ta về “qui tắc”, về “thói quen” mà khi hai thứ này … không đúng, thì chúng ta nói sai … như thường lệ!  Nếu biết được vài “qui tắc”, chúng ta có thể tự điều chỉnh lại. Nói tiếng Anh bằng “qui tắc”! Nghe thật buồn cười! Nhưng sự thực, nhiều người làm như thế, trong đó có người viết! Chúng ta không thể nào … trẻ trở lại để dễ bắt chước.  Càng không được  … tái sinh ở Mỹ  để trở thành “native speakers”.

Qua các thí dụ trên, chúng ta thấy sai quen rồi tưởng cái sai đó là đúng.  Và khi tưởng nó đúng, thì hành động, đối phó theo hướng đó.  Hồi còn nhỏ, thỉnh thoảng tôi nghe người lớn phê phán các nhà  sư , các người  ăn chay qua câu “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dại”, và nói theo, thì bị thầy giáo cú cho mấy cái vào đầu. Thầy giáo của tôi giảng rằng câu đúng là “ăn mặn nói ngay, ăn chay nói trại”.  Nói trại, tức nói tránh né, chẳng hạn Vĩnh Long thành Vãng Long để khỏi “phạm húy”, tức  tên của một quan chức lớn đương quyền. Viết chính tả sai, thì cây thước của thầy giáo sửa lại giùm; chỉ khổ cho hai bàn tay sưng đỏ nhiều ngày; và nhờ vậy mà là chính tả khá hơn mặc dầu là dân Nam Kỳ ít nhất cũng ba đời!

Thêm một cái đúng/sai quan trọng rất phổ biến trong cộng đồng chúng ta.  Đi trễ giờ … hóa ra đi đúng giờ!  Thiệp mời ghi giờ khai mạc là 7 giờ tối; nhưng khi đứng lên chào cờ, thì đồng hồ chỉ 8 giờ, thậm chí 8:30 tối! Bà xã tôi khi bị giục phải nhanh lên để đến cho đúng giờ như thiệp mời, thì lại cằn nhằn bảo không có hội đoàn nào ở đây lại khai mạc đúng giờ.  Khi đến nơi, thấy 7 giờ rồi mà nhà hàng còn trống trơn, bà mạnh dạn phân trần với bạn bè:  “Em đã bảo đâu có ai khai mạc đúng giờ, mà ổng cứ thúc lên thúc xuống.”  Rõ ràng đúng thành sai; sai thành đúng!

Cũng nhân nói về tiệc tùng! Chủ nhân thường gọi khách mời là “quan khách” mặc dù có nhiều người xưa nay chưa từng làm quan; hoặc đã từng làm “quan”, nay lại không muốn bị gọi là “quan” nữa.   Thiết nghĩ gọi “Quý khách” đã là đủ đẹp đủ tốt rồi!  Lại có chủ nhân “xin phép nói tiếng Anh với người ngoại quốc”! Ơ hay!  Mình đã có quốc tịch rồi, thì Hoa Kỳ cũng là “nước của mình”. Còn nếu mình chưa là công dân Mỹ, thì đây đâu phải là nước của mình mà lại “cả gan” gọi họ là “người ngoại quốc.”  Thiết nghĩ nên gọi là “những người không nói tiếng Việt” (non-Vietnamese speakers) có lẽ thích hợp hơn, mặc dù trong đó cũng có một số nhỏ nhờ ăn phở và nước mắm nên hiểu và nói được “tiếng nước ta”, có khi viết tiếng Hán Việt, chính tả còn giỏi hơn ta nữa!

Bây giờ xin lạm bàn vài chuyện phiếm … lớn hơn một chút và kêu gọi sự góp ý của quý Anh Chị.

“The Vietnam War” hay “The Vietnamese War”?

Mấy tháng sau khi đến Hoa Kỳ theo chương trình HO, tôi được một cơ quan không vụ lợi có tên là The Center for Applied Linguistics thuê làm việc cho một bộ phận của cơ quan này, có tên là  Refugee Services Center.

RSC được thành lập sau khi có những đợt di tản lớn của người Đông Dương đến định cư, phần lớn ngân sách do Bộ Ngoại Giao cung cấp, nhằm tài trợ các công tác giáo dục người tị nạn (cung cấp tài liệu hướng dẫn, sách giáo khoa, giảng dạy Anh ngữ) qua các cơ quan thiện nguyện tại các trại tị nạn bên Á châu.   Một nhà báo làm việc chung cho tôi mượn một quyển sách mà tựa đề có chữ “The Vietnam War …” Đầu óc thầy giáo ESL của tôi liền tự hỏi: Sao lại “The Vietnam War” mà không là “The Vietnamese War”?  Trước đây trong lịch sử Hoa Kỳ đã có The Spanish War, The Korean War, mà Spanish, Korean là những tính từ (adjectives), vậy sao không dùng tính từ Vietnamese mà lại dùng danh từ Vietnam?  Tôi hỏi anh nhà báo người Mỹ chính gốc này — anh còn có thêm bằng Master of Teaching ESL.  Anh đứng một lúc, cười cười, rồi nói có lẽ người ta … quen dùng rồi.  Tôi viết email hỏi một vị chuyên trả lời thắc mắc về ngữ pháp cho độc giả của tờ báo The Atlantic. Câu trả lời cũng đại để là nhóm từ “The Vietnam War” đã được quen dùng, không nên thắc mắc.  Như vậy, câu hỏi của vẫn chưa được trả lời … ổn thỏa!

Một hôm, nhân thắc mắc tại sao nhiều sách báo viết là “newly arrived refugees” .  Động từ  to arrive là intransitive verb  cho nên về grammar thì không thể dùng past participle như vậy rồi lại giải thích “bị/được” như người Việt mình –trừ một vài ngoại lệ trong đó có to retire—trong khi đó nếu đúng ngữ pháp thì phải là  “newly arriving refugees” ),  tôi bèn đem thắc mắc sang hỏi một anh tiến sĩ trẻ Mỹ trắng vui tính làm việc ở một department kế bên.  Anh ta đang dạy ở một đại học danh tiếng trong vùng DC, và đã từng len lỏi chơi basket ball  nhiều tháng với đám trẻ Mỹ đen để nghiên cứu ngôn ngữ của chúng.  Anh xướng âm hai nhóm từ này lên mấy lần, rồi kết luận rằng xướng lên, thì “newly arriving refugees” nghe Ăng Lê quá (sounds Bristish English).  Về nhà một mình, tôi cũng ráng tập xướng lên cả hai nhóm từ này nhiều lần, nhưng lưỡi đã quen với bánh mì thịt nguội rồi, làm sao phân biệt nỗi hamburger có vị Anh hay Mỹ!  Về sau, thấy có nhiều tác giả cũng viết “newly arriving refugees” thì tôi thấy yên lòng. Như vậy, cả hai đều đúng! Grammar rules chưa bị diệt vong!

Thấy có thể tin cậy anh ta được, tôi đưa thêm thắc mắc về “The Vietnam War” và “The Vietnamese War”.  Anh lại xướng âm mỗi nhóm từ nhiều lần, rồi kết luận “The Vietnam War” dễ nói hơn, vì bớt đi một âm.  Nhưng anh cũng “an ủi” tôi rằng thắc mắc của tôi cũng có thể là đề tài đáng nghiên cứu.  (Vừa rồi đây, tôi nhờ con bé cháu ngoại 7 tuổi sinh ở đây nói lên hai nhóm từ này mỗi thứ vài lần; cháu nói rằng “Vietnam” dễ nói hơn “Vietnamese”!)  Nhưng vị tiến sĩ kia không cho tôi biết là viết/nói “The Vietnamese War” có đúng ngữ pháp không.  Tôi ôm cái thắc mắc này hơn hai chục năm nay, và không tin rằng viết/ nói “The Vietnamese War” là sai … ngữ pháp!  Đọc khá nhiều sách Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam, trong đó có cả tiểu thuyết, thơ, mà chưa thấy ai viết “The Vietnamese War” cả.   Thế mới phiền cho một người non-native speaker lại trọng“qui tắc (ngữ pháp) nửa vời” như tôi.

Tôi bèn đưa ra giả thuyết là lúc đầu người ta viết/nói  “the war in Vietnam” , hay “the Vietnamese war”, rồi sau đó nói “the Vietnam War”, hay “Vietnam War” cho gọn, thậm chí “Nam War” nữa , khi mà cuộc chiến bên kia bờ Thái Bình Dương  càng ngày càng đi vào đề tài thảo luận nơi  chỗ làm, bàn ăn, cũng như trong sinh hoạt của  của gia đình người Mỹ (TV, thảo luận vv.) Trong quyển sách dày 8-9 trăm trang có tựa đề “The Vietnamese War:  Revolution and Social Change in the Mekong Data 1930-1975” (tôi chỉ  có  bản rút ngắn cũng đã dày trên 500 trang chữ nhỏ li ti (Consise Edition, xb 2006),  tác giả David W.P. Elliott (bạn học trước đây với Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng và GS Tạ Văn Tài, lúc cả 3 còn học tại University of Virginia; bỏ học vì quân vụ, rồi làm cho Rand Corporation nghiên cứu về VN  etc., có vợ Việt) đưa ra sự khác biệt giữa 2 cụm từ như sau : “the term ‘Vietnam War’ has come to mean what happened to Americans in Vietnam –or even in the United States , when the ‘Vietnam War’ is used for convenience to refer to 1960-75 period.” (trang xvi); rồi ông dẫn lời của bà cựu Ngoại Trưởng  (thời Tổng Thống Clinton) Madeleine Albright “The time has come to think of Vietnam as a country, not a war” mà viết rằng: “ For that reason, this book titled The Vietnamese War, an effort to provide a more complete understanding of one of the defining events of the twentieth centurỵ” (trang 4).

Nói khác đi, theo Elliot, khi người Mỹ nói “The Vietnam War” là họ nghĩ tới chuyện người Mỹ đánh nhau với Việt Cộng, dội bom ngoài Bắc, nhảy dù xuống và trở thành tù binh ở Hà Nội ; biểu tình, thay đối chiến lước, chiến thuật, không tái cử ở Hoa Kỳ vv. Nghĩa là tất cả … mọi thứ trên đời  khi liên quan đến thời kỳ chiến tranh  1960-75  thì thuộc “The Vietnam War”.  Còn thời gian trước đó, sau đó, hay không liên quan đến chiến tranh, thì … không!  Vậy thì một thường dân người Việt chết vì bệnh ở Định Tường vào Tết Mậu Thân 1968, thì không được viết “He died  during the Vietnam War” mà phải viết “He died during the Vietnamese War” trong một cuốn sách hồi ký có tựa đề “The Vietnam War ….” ? Chiến tranh Triều Tiên xảy ra ở … Korea có đi vào sinh hoạt quân sự, chính trị, dân sự của người Mỹ hay không mà không gọi là “The Korea War”, mà lại gọi là “The Korean War”?

Theo thiển ý, Elliott đưa ra định nghĩa khá đặc thù này chỉ nhằm để định hướng hay giải thích nội dung của quyển sách riêng của ông mà thôi.  Nói khác đi, có bao nhiêu người đã nghĩ là “The Vietnam War” và “The Vietnamese War” có nghĩa khác nhau đến thế?  Nếu quý độc giả nào tình cờ biết đuợc ai là người đầu tiên sử dụng nhóm từ “The Vietnam War” và vào lúc nào, xin vui lòng cho biết.  Các tự điển lớn, thỉnh thoảng có cung cấp xuất xứ của một số từ, hy vọng trong tương lai sẽ có xuất xứ của cụm từ “The Vietnam War.”

Lại xin thêm chuyện này cho vui có liên hệ đến chữ Vietnam.  Trước đây, Giáo Sư Nghiêm Đằng có viết một quyển sách do East-West Center Press (Honolulu) xuất bản năm 1965, có tựa đề là Viet-Nam: Politics and Public Administration (bảo đảm vẫn còn thấy hay nếu ai muốn nhớ lại chuyên xưa).   Xin lưu ý quý độc giả cái dấu gạch nối (hyphen) giữa hai chữ Viet và Nam.  Tôi mua sách cũ về, liền tò mò mở ngay trang index để tìm adjective, thì thấy ngay mấy chữ Vietnamese, với 2 chữ Viet và nam dính liền nhau, trong khi là danh từ thì viết riêng.  Nhiều sách báo tiếng Pháp viết Việt Nam tách rời, với 2 chữ hoa V và N (Viet-Nam). Ngay cả Bernard Fall, khi viết bằng tiếng Anh cũng làm như thế (Viet-Nam Witness 1953-1966 do Pall Mall Press, London xuất bản năm 1966). Đừng quên là trong những văn thư chính thức của VNCH, tên của quốc gia cũng viết tách rời ra!  Hỡi ôi! Mình muốn chữ viết chữ Việt Nam thành 2 chữ … độc lập một chút cũng … không được! Huống hồ những chuyện… đại sự khác, thì làm sao hành động độc lập được!

Và sau cùng ở chuyện phiếm liên quan đến “The Vietnam War” này, xin kể lại một chút về dấu chân của sinh viên QGHC trên xứ Mỹ.  Như nhiều độc giả biết ở Nam California có một trường đại học tư có tên là University of Southern California.  Trước 1975, nổi tiếng về nhiều ngành học trong đó có kịch nghệ, hành chánh chánh công quyền, giáo dục, thương mại, dĩ nhiên number #1 về College Football. Các giáo sư HVQGHC như Nguyễn Quốc Trị, Trương Hoàng Lem, Cao Thị Lễ, Phan Thanh Ngô, Nguyễn Văn Thư đều tốt nghiệp từ đây; nhưng có lẽ anh Triệu Huỳnh Võ, thủ khoa khóa 7 là người đến đây học đầu tiên.  Anh Ngô (thủ khoa CH 1) có lúc làm Hội Trưởng Hội Sinh Viên Việt Nam tại USC, đã cùng sinh viên Việt ở USC và các trường lân cận tổ chức một cuộc chống đối Jane Fonda kịch liệt.

 Hai năm sau, người viết này đến USC (giữa tháng 9/72, sau khi Quân Lực VNCH tái chiếm Quãng Trị và lệnh cấm xuất ngoại được giải tỏa), chân ướt chân ráo, được đẩy ra thay anh Hội Trưởng thuộc Bộ Giáo Dục đang học Community Education   Chỉ mấy tháng sau đó, mặc dù cận kề những ngày thi, tôi đã cùng các  bạn sinh viên VN (học bỗng và tự túc)  tại USC và các anh chị sinh viên Việt trẻ tuổi hơn  từ  7-8 trường lân cận đã cùng kiều bào (do Tòa Tổng Lãnh Sự  Việt Nam tại San Francisco đưa xuống)  và một xe buýt khoảng 40 sinh viên Mỹ thuộc nhóm Young Americans for Freedom (YAF)  của đảng Cộng Hòa tại USC, tổng cộng khoảng 500 người  đi đón Tổng Thống Thiệu và phái đoàn từ Honolulu đến  Los Angeles, để rồi sau đó phái đoàn  xuống San Clemente họp với Tổng Thống Nixon. Tôi nghĩ đây là cuộc tập họp đông đảo nhất của người Việt tại Hoa Kỳ thủa đó.

Ngoài ba thủ khoa QGHC cơ hữu ở USC (Cao Thị Lễ , Phan Thanh Ngô và Nguyễn Văn Thư) còn có thêm hai thủ khoa khác là  Cao Văn Hở (Georgetown Universty, Wahsington DC) và Trần Văn Dương (Syracuse University, NY).  Hai anh này trên đường đi dự một khóa hội thảo cũng nhiệt tình ghé xin tham dự mang theo bức thư giới thiệu của Đại Sứ VNCH tại Liên Hiệp Quốc (Lê Phượng Chì) “kính gửi Anh Lê Văn Bình.”  Đến khi gặp tôi, hai anh chưng hửng vì đâu có ngờ tôi cũng được sang Mỹ học.  Chúng tôi biết nhau hồi còn ở chung Ký Túc Xá; nếu tên tôi được bỏ đúng dấu, có thể hai anh sẽ đoán ra. Tôi không là thủ khoa; đi học bỗng theo Chương Trình Kinh Tế Hậu Chiến” (1 PhD, 8 MA và 8 ngắn hạn 6 tháng, trong đó gần phân nửa là cựu SVQGHC) — khác với Chương Trình Kinh Tế Hậu Chiến của GS Vũ Quốc Thúc.

Trong đám phản chiến Mỹ Việt không quá 30 người cầm cờ Hippie Mỹ (US Flag with Peace Sign Hippie) phía bên kia đường, có một cậu sinh viên trẻ hình như lúc đó mới học năm thứ hai, mà nay là giáo sư Sử tại một tiểu bang nhỏ, thỉnh thoảng được các chương trình tiếng Việt của vài đài phát thanh Âu Mỹ phỏng vấn về tình hình chính trị quân sự Á châu; nghe kỹ thì nhận ra là các lời bình luận đều có lợi cho Hà Nội.  Dĩ nhiên! Nếu không, thì vị giáo sư này đành mất hết thành tích chông chiến tranh ả?  Trước đó, nhóm phản chiến của cậu ta có gọi điện thoại đến xin xem phim “Người Cày Có Ruộng” do anh em chúng tôi tổ chức tại phòng lounge của building VKC của USC, tôi có đặt điều kiện là nhóm anh ta phải chào cờ Việt Nam Cộng Hoà cùng với chúng tôi. Dĩ nhiên nhóm cậu ta không đến.  Và cũng để đối phó với tin đồn rằng đi đón phái đoàn VNCH, chúng tôi mỗi người nhận 30 đôla, tôi đã long trọng tuyên bố là “Tôi thề trên sinh mạng vợ và hai con tôi là trừ vài ba chục đôla dùng mua cột cờ và cờ VNCH (để tránh mang tiếng dùng tiền học bỗng của USAID), tôi không nhận thêm đồng nào của Tòa Đại Sứ VNCH ở Washington DC hay Tòa Tổng Lãnh Sự ở San Francisco”.  Anh chị em thành viên trong Ban Tổ Chức cũng tránh dị nghị đã không tham dự buổi tiệc do phái đoàn nhã ý khoản đãi, khi chúng tôi được cho biết cuộc họp báo với sự hiện diện của TT Thiệu đã được dự trù trước đây không thực hiện được vào giờ chót.  Sau đó, Ban Tổ Chức chia tay với lương tâm yên ổn, và một chút tự hào về bổn phận công dân của mình.

Buồn thay mọi sự xảy ra về sau cho đất nước không tốt đẹp như mong ước toát ra từ cái logo có  3 chữ “Cooperation in Peace” vẽ trên chiếc máy bay 727 chở phái đoàn VNCH.

Người viết sau đó cũng thêm một lần (1973) cùng anh chị em sinh viên Việt và nhóm YAP đến phản đối Jane Fonda qua mấy cái loa cầm tay “Debate! Debate! Fonda! Debate!” để “ phá”  cuộc nói chuyện của cô ta  sau chuyến cô ta thăm Hà Nội về. Tôi còn nhớ rõ cô ta mặc cái dress màu đen, đứng gần tượng đồng Trojan (biểu tượng của USC), mồ hôi nhuể nhại và mặt mày phấn son nhòe nhoẹt  (lúc đó là lunch time, đông sinh viên, trời nóng)  và chung quanh có 7-8 tay cận vệ mặc toàn đen, tên nào cũng đều lực lưỡng, cao cở  6 feet!  Thủa đó USC là trường của con nhà giàu (bị chế giễu là University of Spoiled Children), cha mẹ thì bảo thủ, nhưng đa số sinh viên lại cấp tiến, chống đối chính quyền Tổng Thống Nixon kịch liệt (bảng hiệu lưu thông STOP thì họ thêm vào chữ Nixon; chữ X trong tên Nixon được viết thành chữ Vạn Đức Quốc Xã; họ tổ chức biểu tình cởi truồng để chống Nixon bao che trong vụ bao che (coverup) Watergate,  vv. ) cho nên Jane Fonda mới có chỗ lai vãng. Bà Nixon và nhiều viên chức Tòa Bạch Ốc dính trong vụ Watergate lúc bấy giờ cũng từng là YAP của trường này, họ cũng quậy dữ lắm!

Sau này, cái huy chương Presidential Medal of Fredom mà Tổng Thống Obama trao cho Jane Fonda (Jane Hanoi) năm 2016 quả là cái huy chương đâm sâu thêm vào tim (bà đã từng đâm sau lưng rồi) của nhiều các cựu chiến binh Hoa Kỳ và cộng đồng người Việt hải ngoại mình.  Một người  … bị trao cho cái giải thưởng Nobel  Hòa Bình quá sớm (để đừng gửi quân Mỹ đi quậy phá thế giới và đã vô cùng hoan hỉ 6-7 năm kế tiếp ngồi tự xoa xoa cái đầu ít tóc  nhìn Trung Cộng mạnh dần … mạnh dần đến dư sức để tác oai tác oái Biển Đông, khi giật mình nghĩ lại, thì đã quá chậm rồi, dù có mấy ông Trump cũng không đảo ngược tình thế được)  đã tròng huy chương vào cổ … bà già cái giải … hòa mình với kẻ thù của hằng trăm ngàn lính Mỹ và lăng mạ mấy trăm tù binh Mỹ ở Hà Nội bằng những bài phát biểu trên đài phát thanh Hà Nội rõ ràng do Hà Nội viết sẵn (Xin đọc thêm Aid and Comfort: Jane Fonda in North Vietnam mà Henry Holzer và Erika Holzer là tác giả).  Người ta thường nói cái huy chương có hai mặt, tôi không rõ mặt trái cái huy chương  trao cho “Jane Hanoi” ra sao, chứ còn nửa cái giải Nobel Hòa Bình mà Kissinger chia với Lê Đức Thọ (không đến nhận) đã được trao bằng check, sau đó được đầu tư, có thể thành bạc triệu  rồi. Không rõ Ngài Kissinger có được mời đến dự lễ trao huy chương cho “Jane Hanoi” không.  Cũng không rõ “Jane Hanoi” có được Bộ Trưởng Quốc Phòng Nguyễn Chí Vịnh tặng cho vài bản chụp những bức thư (copied letters) mà gia đình gửi cho tù binh John McCain lúc ông ngồi tù ở Hà Nội để bà ta “tùy nghi” hay không.  (Trong chuyến công tác năm nay tướng  NCV đã trao tặng McCain bản chính (original copies) những bức thư này sau khi giữ chúng hơn 45 năm!) Riêng đối với nhiều nhà văn, nhà báo, nhà làm phim Mỹ khác, thì tội nghiệp thay những bản phác họa  mà họ dự tính viết về  những “siêu sao” Hà  Nội  sau 1975 đã bị họ lẵng lặng vất đi không thương tiếc!

Không bao lâu sau đó, tên của người viết những dòng chữ này và của các anh chị đại diện của các trường đã kể lại xuất hiện trên một trang quảng cáo trả tiền của tờ The Washington Post để phản đối Trung Cộng chiếm đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Viết lại đây tôi không có chút ý gì khoe khoang “thành tích”, mà chỉ muốn tường trình với độc giả thân mến rằng anh chị em chúng tôi thuở ấy cũng cố làm một chút gì đó.

Độc Tài Hay Không Độc Tài?

Từng là một học sinh, một sinh viên, một nhà giáo, tôi không quên rằng giữa điểm 0 và  điểm 10, cũng như giữa điểm F và điểm A , cũng còn nhiều điểm khác! Đến khi tiếp xúc “Nhập Môn Chủ Nghĩa Thực Dụng”, tôi mới “ngộ” ra rằng giữa  Đúng và Sai, Trắng và Đen, Yêu và Ghét, Xấu và Tốt, Thiện và Ác, Chánh và Tà, Đạo Đức và Vô Luân,  Duy Lý và Duy Nghiệm, Nhất Nguyên và Đa Nguyên, vv.  còn có những … cái khác nữa! Ngay cả giữa Nam và Nữ, từ ngàn xưa cũng đã âm thầm ẩn hiện … “những người khác” mà ngày nay ở Mỹ gọi tắt là LGBT. [Trong bộ truyện  “Ngàn Lẻ Một Đêm”,  sách dịch Miền Bắc đưa vào sau Tháng Tư Đen, những người này được gọi là “những kẻ hai lòng” (sic)] trong khi ở Miền  Nam, chúng ta thường gọi là “homo”, “đồng tính”, và người bình dân gọi là “bóng”].  Con người vốn đã quen với lý luận nhị nguyên (dualism), thậm chí nhất nguyên (monism), nên ít khi rộng lượng đối với kẻ đối thoại mà mình cho là HOÀN TOÀN SAI trong khi nghĩ mình là HOÀN TOÀN ĐÚNG –mặc dù đôi bên đều có đúng có sai.  Quan điểm nhị nguyên này đã đưa nhân loại đến biết bao nhiêu xung đột, từ trong gia đình cũng như ngoài xã hội và giữa các quốc gia với nhau.

 Để đáp lại thịnh tình của ông bạn già Texas nói từ đầu bài (Nguyễn)Trọng Đạt, một nhà giáo trước khi vào QGHC và mấy chục năm nay là nhà biên khảo nhiều sách báo đáng đọc về chiến tranh Việt Nam (trong đó có bài viết về bộ phim “The Vietnam War”  sau khi ông ấy … tức mình rồi tò mò ngồi xem từ đầu đến cuối), tôi xin bạo  dạn đưa ra ý kiến sau đây.  Cũng như hằng trăm tác giả Mỹ khác, hai nhà sản xuất trên đã đứng trên … rõ ràng làm phim theo quan điểm của “bên thua cuộc”.  Thua tức là kém, dỡ hơn “bên thắng cuộc”.  Nếu không, thì đâu có thua! Họ thấy có bổn phận phải ca tụng “bên thắng cuộc” bằng mọi giá, và đổ  lỗi cho “đồng minh thua cuộc” càng nhiều càng tốt,  để họ cảm thấy bớt tức hơn. Cuộc chiến Việt Nam xảy ra trong thời kỳ mà theo ngành quản trị học đương thời, sự thành công phải được đánh giá theo hai tiêu chuẩn thống soái: “hiệu  quả” (effectiveness) và “hiệu năng” (efficiency).  Nôm na là đem lại kết quả và ít tốn kém.

Theo phái đoàn cố vấn Michigan State University, cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người  đích thân theo dõi việc xây cất Học Viện QGHC của chúng ta.  Cũng chính ông là người đến khánh thành Học Viện năm 1962.  Khóa 10 là khóa đầu tiên học trọn vẹn 3 năm tại đây (các khóa 8 và 9 đã học một thời gian trước đó tại trụ sở Bộ Ngoại Giao). Học Viện là niềm hãnh diện của TT Diệm.  Ông đã hãnh diện mời nhiều quốc khách đến thăm viếng:  Quốc Vương và Hoàng Hậu Thái Lan trẻ đẹp;  Phó Tổng Thống Đài Loan Trần Thành hoạt bát  và rất vui tính, vv.  Đây là nơi các giáo sư và sinh viên thường xuyên thảo luận về hai tiêu chuẩn hiệu quả và hiệu năng nói trên, cùng với các công tác của nhà hành chánh theo POSDCORB (Planning, Organizing, Staffing, Developing, Coordinating Reporting, Budgeting, được đưa ra từ thập niên 1930, nhưng vẫn phổ biến nhiều thập niên sau đó) của Gulick & Urwick trong chỉ huy, quản trị công sở và ngân sách, cũng như trong các trường hợp hành chánh điển hình.

 Chúng ta hẳn biết rằng chiến tranh Việt Nam, từ nguyên thủy cho đến khi chấm dứt, đã trải dài qua 7 đời Tổng Thống, 3 vị trước Kennedy và 3 vị sau Kennedy. Đây là kể cả Tổng Thống Roosevelt, người mà trước và trong khi Hoa Kỳ tham gia Đệ Nhị Thế Chiến đã chủ trương giải phóng các nước thuộc địa một khi Đồng Minh chiến thắng. Ông đã cố công thuyết phục Stalin theo lập trường của mình, vì không hy vọng gì ở Churchill bởi lẽ nước Anh có cũng quá nhiều thuộc địạ không dễ gì chi/u buông, và ông không muốn Pháp trở lại Đông Dương   Ông cũng suy tính khá cẩn thận tầm quan trọng của Đông Dương, nhất là về kinh tế. Có thể nói chính Roosevelt và nhà ngoại giao George Kennan, người đưa ra chủ thuyết về việc kiềm chế sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản (sau đổi ý) đã lưu lại một dấu ấn lớn trong các chính quyền Mỹ sau đó về vai trò của Đông Dương trong chiến tranh lạnh. Tổng Thống Diệm và VNCH có thể sẽ may mắn hơn nếu được một nước “đồng minh” lãnh đạo bởi một chính quyền “ngộ” được giữa hai điểm A và F, còn có những điểm khác nữa.  Xin mở dấu ngoặc:  Tổng Thống Diệm đã từng được một giáo sư của MSU (khi trường này còn là một college) mời từ Nhật sang Mỹ làm counselor cho trường, và từ đó, giúp ông gặp gỡ một số nhà lãnh đạo tôn giáo và chính khách quan trọng của Hoa Kỳ. Khi về nước chấp chánh, ông đã mời một phái đoàn đông đảo MSU sang giúp. Trong khi cả phái bộ USOM chỉ có khoảng 165 nhân viên, phái đoàn MSU lúc nhiều nhất lên đến 32 người do Chính phủ  Hoa Kỳ  đài thọ  (chưa kể nhân viên người Việt khoảng 100 người do USOM và VN cùng đài thọ), đa số là giáo chức, dĩ nhiên có không ít nhân viên CIA  được cài vào (giới chức Saigon nhận ra họ ngay vì họ nói tiếng Pháp lưu loát hơn các giáo chức thực sự)  sang giúp soạn thảo chương trình đào tạo cũng như giảng dạy  sinh viên Học Viện QGHC, và Cảnh Sát Quốc Gia, hai ngành mà MSU tỏ ra  khá mạnh.

 Một vài nhân viên trong đoàn khi trở về nước đã viết báo công kích chính phủ VNCH, riêng biệt công kích kịch liệt bà Ngô Đình Nhu.  Do đó, sau 2 năm hết khế ước, TT Diệm không bằng lòng gia hạn. Những bài báo này đã đóng một vai trò không nhỏ phát khởi phong trào phản chiến tại các đại học Hoa Kỳ.  (Muốn biết thêm chi tiết về hoạt động của MSU tại Miền Nam dưới thời TT Ngô Đình Diệm, xin đọc Technical Assistance in Vietnam: The Michigan Sate University Experience  do hai giáo sư  Robert Scigliano và  Guy H. Fox viết, xb năm 1965;   Forging a Fateful Alliance: Michigan Sate University and the Vietnam War, tác giả là John Ernst, xuất bản năm 1998; Aid Under Fire: National Building and The Vietnam War, do Jessica Elking viết,  The University Press of Kentecky xb năm 2016, vv.)

Trong thời gian dài trước khi xảy ra cuộc đảo chính lật đổ TT Diệm năm 1963, Tổng Thống Kenneny đã nghe đầy tai về những than phiền chê trách, nhiều khi không đáng, về TT Diệm.  Chẳng hạn sau cuộc viếng thăm Saigon chỉ vài ba ngày, Đại Sứ Mỹ tại Ấn Độ John K. Galbraith, một giáo sư kinh tế của Harvard rất thân cận và tín cẩn của TT Kennedy, đã viết về Toà Bạch Ốc chê TT Diệm là quan liêu: đi công tác miền Trung về phi trường Tân Sơn Nhứt cũng “đòi” các Bộ Trưởng ra đón; từ phi trường về Dinh Độc Lập phải được tiền hô hậu ủng.  Những phiên họp của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia, ngay từ 1961 đã nêu lên sự can thiệp của Hà Nội, Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa và trách cứ chính phủ Saigon không cải tiến nỗi tình hình an ninh; đã coi hai lần mưu sát bất thành TT Diệm …  là những chỉ dấu của nền độc tài chuyên chế, không được lòng dân.  Vụ Phật giáo được truyền thông thổi phồng chỉ là một cái cớ lớn, là một giọt nước tràn.  Cái tiêu chuẩn “hiệu quả” và “hiệu năng” thời thượng của kinh tế gia Galbraith, của “nhà quản lý khoa học tài năng” Mc Namara, và của những “the best and the brightest”  cộng thêm giới truyền thông (cũng được xem là elites) thủa đó thúc đẩy TT Kennedy hành động khá vội vàng hấp tấp, nếu không gọi là quá bất công.

Tướng Hoàng Lạc trong chương có tên “Blind Design” đóng góp vào quyển sách có tựa đề Prelude to Tragedy: Vietnam 1960-1965 do Harvey Neese và John O‘ Donnel hiệu đính, và  Naval Institue Press xb năm 2001, tr. 70, đã ghi lại nhận xét của ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu, xin tạm dịch ra như sau: “Chống Cộng  đã khó rồi, nhưng đối phó với Hoa Kỳ với tư cách một đồng minh lại càng khó hơn.  Chính sách của Hoa Kỳ thay đổi thường xuyên với những mục tiêu thay đổi.  Những siêu quyền lực như những nhà tư bản Mỹ, cũng như những người Cộng Sản Liên Xô, không có bạn lâu dài hay kẻ thù lâu dài, cả hai chỉ có những lợi ích lâu dài mà thôi.” Những bài diễn văn đầy hứa hẹn của các TT Mỹ, những cuộc đón tiếp long trọng, những bắt tay thân mật … sẽ không còn giá trị nữa khi quyền lợi của họ thay đổi.  Điều an ủi cho dân quân Miền Nam, đặc biệt là sinh viên,  lúc đó là họ không bị chính quyền VNCH bắt bớ giam cầm khi họ biểu tình hay viết báo bày tỏ suy nghĩ và lập trường của mình đối với “những người bạn đồng minh.”

Trong quyển sách Friendly Tyrants: An American Dilemna (do Daniel Pipes và Adam Garfinkle hiệu đính, St. Martin’s Press xb năm 1991), bàn về những nhà độc tài bạo ngược thân hữu của Hoa Kỳ, Douglas Pike, một học giả về Việt Nam, có đóng góp một chương với tựa đề “South Vietnam: Autopsy of a Compound Crisis” (tr. 41 -61). Theo Pike, so với những nhà độc tài bạo ngược thời đó ở Á châu như Lý Thừa Vãng của Nam Triều Tiên, Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Ferdinad Marcos của Phi Luật Tân, thì Tổng Thống Diệm không nên được xem là nhà độc tài bạo ngược vì (1) thời gian tại chức của TT Diệm ngắn hơn nhiều; (2) không thể xếp ông theo tiêu chuẩn độc tài chuyên chế cổ điển hay đương thời của người Mỹ: Ông không tàn bạo, ích kỷ, hay ngạo mạn. Ông là người có học, từng đi đây đó nhiều nơi, và có đầu óc cấp tiến hơn nhiều so với Bảo Đại, người tiền nhiệm của ông. Quan trọng hơn nữa, ông không tùy tiện sử dụng lắm quyền hành.  (He was not brutal, mean, or arrogant. He was educated, cosmopolitan, and far more liberal than the Bao Dai that preceded him. More important, he did not dispose of very much authoritỵ); (3) đường lối  chính trị và quân sự của các chính phủ liên tiếp của Miền Nam hầu hết  đều là phản ứng đối với các áp lực càng ngày càng gia tăng của bên ngoài, đặc biệt  của Hà Nội, Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa, thì chính quyền Hoa Kỳ, qua các loại viện trợ, đáng lẽ phải tạo một trái đệm  cho sự tự phát triển của một chính quyền non trẻ, thì lại tạo thêm áp lực nặng nề chỉ vì họ bị sức ép mạnh mẽ của giới truyền thông và dân chúng Mỹ, cũng của chính những người trong chính quyền nhưng không thân thiện với VNCH.

 Theo Joseph G. Morgan trong quyển The Vietnam Lobby: The American Friends of Vietnam (1955-1975), do The University of North Carolina Press, xb n ăm 2000, thì hiệp hội  The American Friends  of Vietnam này quá nghèo nàn (vì không có sự đóng  góp của các công ty Hoa Kỳ; TT Diệm  không muốn người Mỹ đầu tư vào VN mà ông  chủ trương thành lập các công ty quốc doanh khi nền kỹ nghệ còn quá non trẻ, một chủ trương phát triển kinh tế phổ biến trên thế giới vào 2 thập niên 1950- 1960) nên không đủ khả năng vận động hành lang với các chính trị gia Hoa Kỳ.  Chính vì những lý do đó mà TT Diệm bị loại một cách oan uổng và tức tưởi, kéo theo sự suy sụp mấy năm liền sau đó của nền Cộng Hòa ở Miền Nam. Vả chăng, giàu có và dư thừa ngoại tệ (gần 20 tỷ đô la thủa đó, chỉ đứng thứ nhì, sau Tây Đức, nếu người viết nhớ không sai) để có thể lobby thêm, nhưng “nước Đài Loan” vào đầu thập niên 1970 cũng đành đau khổ nhìn cái ghế của mình bị mất tại Liên Hiệp Quốc, sau khi Nixon gặp gỡ Mao Trạch Đông. Biết làm gì hơn, khi mà mục tiêu của Hoa Kỳ đã thay đổi.  Tuy nhiên, lobby đã giúp Đài Loan tồn tại như hiện trạng.

Đôi khi nhìn lại, chúng ta tự hỏi có nên “tiên trách kỷ, hậu trách nhân” chăng? Nếu quản lý của chúng ta thật giỏi –đạt điểm A như họ muốn — về quản lý trong mọi phương diện chính trị, hành chánh, quân đội, thì có lẽ sẽ không có cảnh “đồng minh tháo chạy.”  Dĩ nhiên, khả năng của chúng ta không thể đạt được điểm A mà họ mong đợi!  Đòi hỏi một người làm những việc vượt quá xa  khả năng của mình,  có phải chăng là bất công –nếu không nói  là … mất trí?   Đây là cái vòng lẩn quẩn của kẻ ban phát viện trợ và người nhận viện trợ vậy.

Trên đây là đôi điều tôi xin lạm bàn với ông bạn chuyên viết cuộc chiến Việt Nam. Dưới đây xin thêm một lạm bàn khác, về “văn nghệ”, một lãnh vực mà tôi thực sự mù tịt.

Nhạc Vàng hay “Nhạc Vàng”?

Quý độc giả chắc hẳn đã lưu ý tới cái ngoặc kép trên.  Nhạc Vàng không nằm giữa hai ngoặc kép là chữ của chúng ta, bên bại trận — nếu quả thực nó có trước 1975.  “Nhạc Vàng” nằm giữa hai ngoặc kép, còn gọi là “Nhạc Vàng nháy nháy” là tiếng của “bên thắng cuộc”.

Sau khi chiếm được Miền Nam, Hà Nội tung vào những người mà họ xem là ưu tú nhất của mình, đặc biệt ca sĩ có giọng cao vút, các văn nghệ sĩ như Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Hoài Thanh (ông này đi vào rao giảng thành tích CNXH tại trại tù làng cô nhi Long Thành, giải lao bằng bia khiến công an quản giáo phải đỏ mặt), nhiều sách của nhà xuất bản Sự Thật (mà vị giám đốc xuất bản P.T.T. là bố ruột của một nhà văn chống Cộng nổi tiếng ở Miền Nam, và cũng là bố vợ của một cựu SVQGHC, vợ anh tự tử khi anh còn trong tù bỏ lại 4-5 đứa con thơ ) vv.   Có một bài ca mà câu mở đầu đã làm cho trên 3000 em chúng tôi lạnh suốt nhiều năm sau đó “Anh ở nơi nầy chưa thấy mùa đông” (?) Vâng, họ nhất quyết mang cái lạnh, cái đói cũng như những thử nghiệm, định chế, kỹ thuật –làm tàn hại ngoài Bắc chưa đủ– vào Miền Nam để cho cùng khổ bằng nhau, như hợp tác xã, nông trường, thuỷ lợi vv.

Trong sách vở, có những chữ mà người bình dân khó hiểu hay không thể hiểu; nhưng những người có tiếp xúc với chữ nghĩa Pháp, Anh thì nhận ra đưọc xuất xứ của chúng, chẳng hạn chủ nghĩa sô-vin, trang bị tận răng, mang dấu ấn thời đại vv.   Anh em tù chúng tôi nhận ngay ra đó là những chữ dịch, nhưng không rõ được dịch thẳng từ tiếng Anh, tiếng Pháp hay lại phải qua tiếng Nga, tiếng Hoa cho an toàn vì lý do chính trị (thân Tây phương, xét lại vv.). Khi còn trong tù, chúng tôi  thường tự hỏi hai nhóm từ “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” xuất phát từ đâu.  Ai cũng biết rõ là “nhạc vàng” được gán cho hầu hết các bài nhạc lưu hành trước đây, và “công đoàn vàng” chỉ các nghiệp đoàn lao động hoạt động trước 1975 ở Miền Nam.  Sơn phết màu vàng lên để chê bai chúng xấu xa, bệnh hoạn, không lành mạnh, và dĩ nhiên phải bị cấm đoán. Nhưng chúng được dịch từ đâu? Mà vì sao lại “vàng”? Tôi không tin là màu vàng này có liên quan gì đến màu cờ của VNCH cả.

Sau khi ra tù (cuối năm 1980), tôi kiếm sống bằng nghề đi dạy Anh Văn (cộng thêm nghề đi bán cà-rem cây ở một trường học).   Một hôm, một học viên người lớn hỏi, tại sao người ta dùng “nhạc vàng” để chỉ “nhạc ngụy, nhạc phản động”. Trong nhà tôi còn một quyển tự điển lớn tiếng Anh xuất bản đầu thập niên 1970 mà tôi mua giá rẻ với tư cách là hội viên của Books of the Month khi còn đi học bên Mỹ (May quá, nhà  ôi chưa bán cho mấy cô mua ve chai, giấy vụn.  Nếu bà ấy bán đi, cũng được chút ít tiền vì nó rất nặng ký).  Tra tự điển này, thấy có nhóm từ “yellow journalism” (báo chí vàng) và tôi liền đặt giả thuyết là “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” có liên hệ đến “báo chí vàng”.

Vì vậy mà khi đến Mỹ thấy trên vài tờ báo xuất bản ở Virginia có cái quảng cáo “Nhạc Vàng Chiều Chủ Nhật”, và khi nghe hai ca nhạc sĩ / MC trên một băng nhạc cũng dùng “nhạc vàng” để chỉ nhạc tình cảm, lãng mạn Miền Nam trước 1975, tôi liền viết vài trang trên blog “Đốc Sự 16”, do đồng môn tài hoa Vũ Hùng thiết lập, để bày tỏ suy nghĩ của mình. (Sau khi Vũ Hùng qua đời, họa sĩ Vĩnh Nguyễn tiếp nối với “Tiếng Thông Reo”, hy sinh nhiều thời giờ, công sức để tạo một forum rộng rãi và đẹp đẽ cho cựu SVQGHC và thân hữu.  Many thanks to our Websmaster/Blogger!).  Trong mấy năm nay, cụm từ “nhạc vàng” đã được hầu hết những nhà sản xuất băng đĩa nhạc lớn nhỏ — kể cả nhà sản xuất mà một MC được nhiều người xem là chịu khó nghiên cứu — truyền thanh, truyền hình, sách báo trong và ngoài Việt Nam, thân Cộng cũng như chống Cộng sử dụng không dè dặt để chỉ nhạc tình cảm lãng mạn ở Miền Nam viết ra trước 1975.

Bài viết nói trên không còn trong files cũ. Quyển tự điển to lớn nặng ký đó cũng không tìm mua được ở Mỹ mặc dù tôi đã lên nhiều websites sách cũ (hình như nó cái tên khá dài, mà tôi còn nhớ mang máng:  Webster’s New World Dictionary of the American English, Desk/ Index Dictionay- De Luxe, trong đó có phân biệt các chữ dễ lẫn lộn chẳng hạn tool/instrument /equipment vv. đã khiến tôi cẩn thận hơn khi dùng tiếng Anh, nhất là những chữ mà người ta cho là đồng nghĩa.)  Với vài tài liệu hiện có trong nhà, tôi xin cống hiến thêm một ít chi tiết về “yellow journalism”.

Tự điển Webster’s NewWorld College Dictionary, Fourth Edition do Michael Agnes hiệu đính, Wiley Publushing, Inc. xuất bản năm 2008, trang 1659, cho biết “yellow journalism” xuất xứ từ việc dùng mực màu vàng, nhằm thu hút độc giả, để in bộ tranh hài hước từng kỳ (a comic strip) có tựa đề là “ TheYellow Kid” trên tờ báo The New York World năm 1895, và định nghĩa “báo chí vàng” như sau: “sự sử dụng những phương pháp giật gân hay bừa bãi một cách rẻ tiền trong báo chí, vv. để hấp dẫn hay ảnh hưởng độc giả” (the use of cheaply sensational or unscrupulous methods in newspapers, etc. to attract or influence readers).  Câu chuyện về “Khỉ Cà Mau” đăng trên báo Sài Gòn Mới  của bà Bút Trà hồi thập niên 1960 là một thí dụ điển hình về  “báo chí vàng” ở Miền Nam trước đây, mặc dù câu chuyện không in trên nền mực vàng!

The Encyclopedia Britannica (15th edition), Volume 12, trang 832 còn đưa thêm chi tiết là cụm từ này được chế ra (coined) để mô tả chiến thuật cạnh tranh bằng tin tức giật gân do tờ The New York World sử dụng để cạnh tranh với tờ The New York Journal, mãi sang đến đầu thế kỷ sau tờ The World mới thôi.

 Tóm lại, trong mấy chục năm liền kể từ khi còn ở Việt Nam, tôi vẫn tin yellow journalism là nguồn gốc của “nhạc vàng”, nhưng đôi khi thấy không ổn khi nghĩ nó cũng là nguồn gốc của “công đoàn vàng” vì đối với Hà Nội, những nghiệp đoàn Miền Nam, trong đó có Tổng Liên Đoàn Lao Công, đều được coi là “phản động” đáng bị trừng trị!  (Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và Trường Cao Đẳng Quốc Phòng còn được gọi là “phản động nhất”)

Khi tôi đặt giả thuyết là chữ “vàng” trong hai cụm từ “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” (xin độc giả lưu ý là sau 1975 hai từ này thường đi chung) có thể xuất xứ từ cụm từ yellow journalism, thì một đồng môn vốn rời Saigon từ hồi tháng 4/75, đã ngạc nhiên buột miệng nói: “Cộng sản lại sophisticated (anh ta dùng tiếng Anh, tạm dịch lịch lãm, sành sỏi) đến thế à? Vậy mà tôi cứ tưởng … Người ta bảo họ gọi nhà bảo sanh là ‘xưởng đẻ’ đồng hồ có lịch ngày tháng là “đồng hồ có cửa sổ.” Đúng!  Sự thực là mấy anh bộ đội nhà quê thiếu từ dùng đã nói như thế.  Nhưng không phải tất cả “bên thắng cuộc” đều ngô nghê đâu! Tôi xin kể câu chuyện thật sau đây để độc giả suy gẫm.

Như nhiều độc giả biết, trại tù Cải Tạo Long Thành (Biên Hòa), mà lúc đầu nhà cầm quyền  gọi là Trường NV-15 ,  là nơi giam giữ hơn 3000 viên chức chế độ cũ,  phân ra 4 nhóm, ở trong nhiều dãy nhà  riêng biệt : Khối Cảnh Sát từ cấp Thiếu Tá trở lên; Khối Trung Ương Tình Báo từ Trung Cấp trở lên; Khối Đảng Phái từ cấp Tỉnh Hội trở lên; và Khối Dân Sự  gồm Hành Pháp (từ Phó Quận trở lên), Lập Pháp (Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ, Giám Đốc các văn phòng trực thuộc) và Tư Pháp (từ Biện Lý, Thẩm Phán trở lên).  Có thể đây là thành phần gạo cội (cream), trí thức của miền Nam. Một lệnh được đưa ra khi chúng tôi chưa bị khóa nhốt trong phòng với các máng vệ sinh:  Ban đêm ai muốn ra khỏi phòng để đi tiêu hay tiểu –cách phòng chừng 20-50 mét, thì phải hô to: “Báo cáo cán bộ, cho tôi đi ỉa.” hay “Báo cáo cán bộ, cho tôi đi đái.”  Xin quý độc giả thử nghĩ tới cảnh vị cựu Chủ Tịch Hạ Viện già nua, một cựu bác sĩ giám đốc bệnh viện lớn tuổi, một cựu thẩm phán tối cao pháp viện nghiêm nghị, vv. mà phải thốt lên các câu nói có mấy tiếng “ỉa, đái” như  vậy thì họ cảm thấy xấu hổ biết bao nhiêu!  Nhiều độc giả có thể nghĩ rằng tù và cai tù đều dùng ngôn ngữ giống nhau thì có gì là xấu hổ.

Sai, nếu quý vị nghĩ như thế!

Vì trại tù Long Thành là nơi giam giữ nhiều trí thức, chính trị gia “gạo cội” của Miền Nam (trong đó có cả cụ Vũ Hồng Khanh, từng làm Phó Chủ Tịch Nước dưới Hồ Chí Minh hồi 1945) cho nên Hà Nội thấy cần phải đưa bọn công an độc hiểm nhất của Miền Bắc vào cai quản để tìm mọi cách hạ nhục chúng tôi.  Thóa mạ, khinh bỉ chúng tôi bằng những nhóm từ “ngụy quân, ngụy quyền”, “cúc cung tận tụy”, “chó săn”, “ăn bơ thừa, sữa cặn” vv. họ chưa thấy đủ, họ còn buộc chúng tôi phải tự miệng mình thốt ra những tiếng “đái”, “ỉa” họ mới thấy hả dạ.  Dĩ nhiên, họ không dùng những tiếng “dơ bẩn” đó cho chính họ, mà dùng những tiếng “sạch sẽ “ hơn! Thật vậy, không lâu sau đó, khi tôi cùng vài bạn tù khác được lệnh ra khu doanh trại của đám cai tù để chạy dây điện, tôi đọc thấy những cái bảng viết rất đúng chính tả và dùng chữ cũng sạch hơn: “Chỗ tiêu”, “Chỗ tiểu”.  Đúng là ngôn ngữ cũng mang tính chất giai cấp. Hay nói rõ hơn, họ độc hiểm đến độ nhiều người trong chúng ta không nhìn ra nỗi!

Quyển tự điển nói trên (trang 1659) cũng định nghĩa yellow là cowardly (hèn); craven (nhát).  Một quyển tự điển lớn khác (Webster’s New Universal Unbridged Dictionary, Deluxe, Second Edition, 1985, trang 2118) định nghĩa yellow là cowardly (hèn); untrustworthy (không đáng tin cậy); lacking courage (thiếu can đảm).  Tôi cũng cảm thấy hiểu “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” theo những định nghĩa này thì cũng còn đáng nghi ngờ.   Trong cả hai định nghĩa này, yellow được xem là một từ không trang trọng (informal, colloquialism).

Có thể nguồn gốc của những từ được xem là dịch này phát xuất từ châu Âu chăng? Quyển tự điển The Dictionary of Phrase and Fable xuất bản năm 1975, tr. 1317-18, cho biết như sau: “Ở  Pháp những cánh cửa của nhà những kẻ phản bội được sơn hay phủ giấy màu vàng. Trong vài quốc gia, luật bắt buộc người Do Thái phải mặc quần áo màu vàng, bởi vì họ đã phản bội Chúa.  Juda trong các bức tranh thời Trung Cổ mặc màu vàng.“ Ấn bản 1975 này là bản in lại từ ấn  bản được hiệu đính năm 1894 mà thủa đó đã bán đến 100.000 quyển.  Còn bản đầu tiên ra đời năm 1870.Tác giả là nhà biên khảo là Rev. E. Cobham Brewer, LL.D., vốn là một nhà giáo.

Theo thiển ý, hai chữ “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” có thể xuất phát từ điển tích này. Nói rõ hơn: Màu vàng chỉ sự phản bội.  “Bên thắng cuộc” gọi chúng ta là những kẻ phản bội.  Chúng ta có nên tự nhận mình là những kẻ phản bội chăng?

Tóm lại, qua những giả thuyết trên, màu vàng được sử dụng để để nói xấu, để chê bai, để bài bác vv. chứ không có gì nên thơ (như lá vàng rơi!) hay phảng phất màu quốc kỳ VNCH cả như nhiều người đã nghĩ.  Trước 1975 ở Miền Nam, tuyệt đối không thấy hai cụm từ “nhạc vàng” và “công đoàn vàng.” Tiếc thay, tác giả của các nhóm từ “nhạc vàng” và “công đoàn vàng” có thể đã không còn sống nữa để cho biết mình dịch từ đâu. Nhiệm vụ lịch sử của các dịch giả đó đã hoàn thành tốt đẹp rồi!

Là kẻ bại trận trong một cuộc chiến tranh mà mình luôn nghĩ là mình có lý tưởng, biết rõ có chiến tuyến, thì cũng như nhiều bạn tù khác, tôi chấp nhận số phận hẩm hiu của mình: yếu nên thua, thua thì bị tù; ở tù thì bị khinh khi, hành hạ.  Đó là chuyện không có gì khó hiểu.

 Nhưng giờ đây, thật tình tôi cảm thấy không vui khi có nhiều người mà tôi thật tình nghĩ chỉ vì họ vô tâm, thiếu hiểu biết nên mới hân hoan đón nhận những thứ  độc hại mà “bên thắng cuộc”  đã khéo léo văn hoa sử dụng, rồi lại dùng phương tiện và uy tín sẵn có của mình mà ồn ào phổ biến cùng khắp qua các phương tiện truyền thông.  Khốn nỗi, độc giả và khán thính giả lại ngưỡng mộ và tin cậy họ.  Đó mới là điều nguy hiểm, rất đáng lo ngại. Xin mọi người hãy nghĩ lại! Nhưng thôi.  Đây cũng chỉ là một giả thuyết bên cạnh những giả thuyết khác!  Chứng minh đúng hay sai, xin tùy quý độc giả xét định.

Và trước khi chấm dứt mấy chuyện lạm bàn lẩm cẩm này, người viết thành thực xin quý độc giả thông cảm cho cái thói quen lắm lời và hay nhìn lỗi phải của ngưòi khác, một thói xấu dễ làm cho người khác khó chịu.  Xin quý vị tha thứ cho một nhà giáo vốn không được đào tạo chuyên nghiệp mà lại kiếm sống khá nhiều năm bằng cách “bán cháo phổi” từ khi còn học, và sau khi tốt nghiệp Cao Học (dạy Sử Địa ở Trung Học, kèm trẻ tại gia đủ thứ môn); dạy Kinh Tế ở vài Đại Học tư khi ở Mỹ về; đạp xe cọc cạch đi dạy Anh Văn trên khắp hang cùng ngõ hẻm ở Saigon sau khi ở tù 5 năm ra vv)!   Một lần nữa, xin quý vị lượng thứ.  Xin đa tạ!

Lê Văn Bỉnh

Virginia, Tháng 10 Năm 2017

Ngôn Ngoại

Tâm Thanh

Tôi về Việt Nam ăn Tết, khi trở ra, gặp một chuyện trên máy bay, tới bây giờ vẫn còn lấy làm lạ. Tôi cũng hơi áy náy nữa, nên mong bà ngồi bên tôi chuyến đó, ghế số 27E, tình cờ đọc được bài này sẽ cho tôi biết tin bà có bình an không, mặc dầu khi chia tay, bà ra dấu hiệu ‘Cứ yên tâm’.

    Đầu tiên khi lên máy bay tôi đã thấy bà chiếm chỗ của tôi, 27D, mà ngủ li bì. Lạ thật, mới lên máy bay đã ngủ. Tôi không dám đánh thức vì thấy mặt bà co giật một cách khổ não, chỉ sợ đụng phải lỡ bà lăn đùng ra thì mang vạ. Đấy, cái gì tôi cũng cứ nói thật, xin bà bỏ qua. Cuối cùng, vì bị hành khách đi sau thúc quá, tôi đành bước qua người bà mà vào chỗ ngồi tạm. Trước khi máy bay chuyển bánh ra phi đạo để cất cánh, cô tiếp viên tới kiểm soát, thấy bà chưa cài dây an toàn, lại bảo tôi cài cho bà. Một sự lầm tưởng tai hại. Nhưng tôi không đủ lanh trí để cải chính một cách tế nhị, chẳng lẽ tự dưng tôi nói ‘bả không phải vợ tôi’? Vả lại, cài giùm cái dây có cần gì phải là vợ chồng? Tôi nghiêng qua người bà tìm mối dây bên kia, nghe nồng nực mùi dầu cù là. Tôi nín thở cài khóa, tiếng kim loại ăn khớp kêu crắc xác nhận là tôi đã làm chu đáo một nhiệm vụ nhỏ, nhưng có thể trở thành lớn, nếu nói dại có trục trặc gì xảy ra. Nhưng máy bay cất cánh an toàn. Khi đèn báo hiệu cho phép cởi dây an toàn, tôi cởi cho mình, rồi tần ngần nghĩ đã cài cho bà, thì tôi cũng nên cởi cho bà.

    – Ê! Làm gì kỳ vậy, cha già mắc dịch!

    ‘Chát!’ Bàn tay tôi bị bắt quả tang đang thò sang lòng bà. Tôi vừa giận vừa xấu hổ, ức quá mà không dám gây sự lại. Thôi thì phải tự an ủi là bà chưa ngoác mồm tuôn ra một tràng xỉ vả nặng hơn nữa, và còn may là hành khách chung quanh coi bộ không ai chú ý tới lời ‘vu cáo’ trắng trợn kia. Tôi đành im lặng chịu trận cho tới khi nghe bà nói trổng:

    – Mắc đái thấy mụ nội. Bao giờ máy bay mới ghé đổ nước, cho hành khách đi đái không biết?

    Được dịp ‘đáp lễ’ sự lỗ mãng của bà bằng sự đàng hoàng và kẻ cả của mình, tôi chỉ giùm làm phước:

    – Toilette ở trước mặt kia kìa, bà.

    Bà ngơ ngác nhìn lên rồi ngơ ngác nhìn lại tôi:

    – ‘Toa với lết’. ‘Lết’ đi đâu cha nội? Tui mắc đái xón ra quần bây giờ nè. Chạy te không kịp, ở đó mà ‘lết’.

    Tôi bỗng nhận ra bên cạnh tôi là một người đàn bà, mặt thuôn dài, lưỡng quyền cao, khá đẹp, nhưng quê như một cục đất. Tôi hết giận:

    – Bà có biết đọc … xa tới đằng kia nổi không?

    – Chữ ta thì đánh vần được chớ, sao không? Mắc cái chữ Tây ôn dịch gì đâu. Mà biển gì kẻ chữ bằng con kiến!

    – Bà khỏi cần đọc chữ cũng được. Lên đó, thấy có cái cửa nào có vẽ hình ông Tây với bà Đầm, thì bà vào mà … đái.

    Bà vừa nhổm dậy đã bị sợi đai trì lại, la to:

    – Ối chu cha! Con mẹ đứa nào nó cột eo ếch tui, tế mồ tế mả nhà nó!

    Tôi im thin thít, không dám tự thú nhận ‘tội ác’ của mình, chỉ giúp bà mở khóa

dây. Giữa lúc không hề dám mong đợi, tôi lại được bà ban cho một nụ cười tươi rói, và một giọng ỏn ẻn:

    – Té ra hồi nãy chú tính cởi trói cho tui hả? Không biết đứa mắc dịch nào đi tầu đi xe mà còn phá.

    Rồi bà lảo đảo đi lên cầu tiêu, lâu lắm mới thấy trở lại:

    – Không thấy nhà cầu đâu hết. Chú giắt tui đi được hôn?

    Tôi tính nói ‘bảo đảm bà không kiếm ra cái cầu cá tra trên máy bay đâu’, nhưng lại im lặng hướng dẫn bà lên cầu tiêu, mở một cửa trống chỉ cho bà vào. Bà ngạc nhiên:

    – Thì hồi nẫy người ta cũng chỉ cho tui cái tủ kín bưng như vầy. Có cầu kiều mẹ gì đâu?

    Đã trót thì trét, tôi kéo bà vào hẳn bên trong, chỉ cho bà cách ngồi cầu, xé giấy, cách bấm nút xối cầu, rửa tay bằng xà bông, và thoa nước thơm, đủ lễ bộ. Để chắc ăn, tôi bảo bà làm ơn thực tập thử cái thủ tục quan trọng nhất là nhấn vào cái nút xối cầu. Bà vừa thò tay nhấn nút, tiếng cống hút rồ lên như cọp táp gà con, bà ôm chầm lấy tôi la:

    – Trời đất thiên địa ơi! Con gì nó rống quá trời!

    Khi tôi để bà ở lại và đi ra, có một một cậu Việt Nam đứng chờ, nhìn một cách hóm hỉnh nói nhỏ:

    – Ông bà tình ghê!

    Câu này, chắc hôm đó bà không nghe đâu, nhỉ? Về chỗ, tôi vẫn ngồi vào cái ghế đã bị đổi, đầu tràn ngập những dấu hỏi về người đàn bà kỳ lạ. Bà đi với ai? Đi đâu? Làm gì? Khi bà trở lại, lò dò mãi không tìm thấy chỗ, tôi phải vẫy tay, kêu:

    – Bà ơi! Đằng này nè!

    Tôi nghe từ hàng ghế sau, phía bên trái có giọng đàn bà, tiếng Việt:

    – Ông già lấy được bà vợ đẹp, chỉ tội quê không để đâu hết.

    Bụng tôi thon thót theo mỗi bước chân của bà, chỉ lo ngại cho những cái đầu người ngồi dẫy bìa bị tay bà quơ phải, lỡ mà bà nhằm cái đầu tóc giả của một ông Tây mà vịn thì tôi phải tuyên bố ‘ly dị’ ngay tại chỗ. Nhưng tôi thở phào khi cuối cùng bà tới được chỗ ngồi bình an, gieo bàn tọa cái rầm, thả ra mùi ‘eau de Cologne’ pha lẫn mùi dầu cù là lổn ngổn.

    – Bà đi máy bay lần đầu?

    – Chớ lần mấy?

    – Bà đi đâu ạ?

    – Phần-lan.

    – Bà đi thăm bà con bên đó, chắc?

    – Bà con hồi nào? Theo chồng.

    – Ông nhà sang Phần-lan lâu chưa?

    – Chả người Phần-lan …

    Bà kể bà làm nghề chèo ghe đưa khách tại bến đò Vĩnh Long. Chở bạn hàng cũng có, mà sau này chở khách du lịch cũng có. Thường thì bà chậm chân, không tranh được mấy mối khách du lịch béo bở. Một hôm bà để ý có một ông khách Tây cứ ngồi uống cà phê đá mà nhìn bà cả buổi, ‘cái đầu xồm không nhúc nhích’ và ‘cái môi đỏ chót liếm lia’. Cuối cùng ông đứng lên ra bến, đưa tay gạt hết mấy thằng giành mối ra một bên, mà tiến thẳng lại ghe bà, chẳng nói chẳng rằng, bước xuống, và bà chèo ghe cho ông coi cảnh trên sông Cổ Chiên. Bà nói tiếp:

    – Tối về chả rút bóp ra một xấp tiền đô. Tui hổng dám lấy. Thằng chả xòe ra biểu lấy một ít cũng được. Nhưng chú tính coi – ai lấy kỳ vậy?

    Cô tiếp viên đưa khay ăn tới. Tôi giúp bà hạ bàn con xuống, chọn nước uống, và chỉ bà cách dùng mấy thứ lỉnh kỉnh như dao nĩa, khăn ăn v.v. Và tôi ngạc nhiên tại sao một người chèo đò nhà quê mà có bàn tay búp mang đẹp như vậy. Bà cầm dao ăn như cầm búa, nhưng ăn vén khéo và rất … bạo -so với các mệnh phụ phu nhân khác. Vẻ tự nhiên của bà và những món ăn hấp dẫn với rượu vang khiến tôi phấn chấn tinh thần. Tôi thấy đã đủ thân mật để nói đùa:

    – Bà không lấy tiền, chứng tỏ bà mê ông rồi?

    Bà cười khinh khích:

    – Mê cái mốc xì họ. Bộ ghe chùa sao? Tôi lấy cái tờ có vẽ số 1.

    – Sao bà không lấy tờ vẽ số 10 hay 20?

    – Lấy đủ công mình thôi chớ.

    – Rồi sau đó?

    – Sau đó hả? Mấy bữa sau, bữa nào chả cũng trở lại thuê ghe tui đi chơi lòng vòng… Rồi chả đòi lấy tui.

    – Ý! Chết mẹ người ta chưa!

    Dầu biết trước bà đang trên đường đi về nhà chồng, tôi buông ra một câu sững sờ như thế vì hồi kết cuộc tới một cách đột ngột quá. Không ngờ tiếng reo của tôi đã đậm đà giọng của bà, thốt ra mà thấy sướng cổ họng.  Nhưng thấy sau đó bà im bặt, tôi lại lo bà giận tôi lỗ mãng.

    – Xin lỗi nhé!

    – Lỗi gì?

    – Dạ, không.

    Tôi chờ đợi một câu truyện hấp dẫn, có đầu đuôi hơn. Tôi muốn biết buổi hẹn hò đầu tiên ở đâu? ông tỏ tình thế nào? tại sao bà biết ông thương mình thiệt? cái gì làm cho bà thích ông? ông làm nghề gì? có tổ chức đám cưới không? Nhưng bà không kể nữa, tiếp tục ăn món tráng miệng, khen ngon.

    Tôi uống sang ly Cognac thứ ba, nghe ra giọng nhừa nhựa của chính mình:

    – Dô! Dô! Mừng cho mối tình của bà! Đẹp thấy … mẹ!

    Bà nhìn tôi, cau mặt:

    – Ê! Chú hổng nên bắt chước tui ăn nói cái kiểu ẩu tả đó.

    Thế ra bà vẫn biết mình ăn nói khác thường. Tôi chữa:

    – Bà nói ngon lành hết xảy, chứ đâu có … ẩu tả.

    – Chú nói thiệt tình hay xí gạt tui?

    – Tui xí gạt bà làm mẹ gì? Bà là người tốt muốn chết.

    – Chú coi bộ cũng được, nên tui khuyên chú đừng bắt chước tui. Tui trót học thói xấu, không sửa được. Không muốn sửa. Thằng khốn nạn đó …

    Tôi ngạc nhiên, tại sao mới ‘thằng chả’ thân mật đã lên cấp ‘thằng khốn nạn’?

    – Bà nói ai … khốn nạn?

    – Thằng chồng của má tui.

    – ‘Chồng của má’, tức thị là cha ?

    – Cha ghẻ tui đó. Mà tui có kêu chả bằng cha đâu.

    – Sao vậy?

    – Nó nhậu say rồi đánh đập mẹ tui tối ngày. Một hôm nó định giở trò súc vật  với tui, mẹ tui bắt gặp, nó đánh mẹ tui bất tỉnh nhơn sự, tui quơ con dao yếm, huơ cho nó ớn mà giang ra, ai dè nó tự lao thây vào lãnh dao, chết ngắt. Đúng là số chả chết. Bị thần Lưu Linh vật. Tui .. tui không cố ý. Ông ta cũng thông cảm cho tui như vậy. Tui chỉ bị ba năm cải tạo. Lúc má tui đau nặng, người ta lại thả cho về sớm gần năm để nuôi bả.

    Bà ngưng kể, khóc. Tôi im lặng để bà khóc tự nhiên, nhưng thấy bà khóc mãi, tôi an ủi:

    – Việc đã qua rồi. Bà đừng buồn nữa.

    Bà mủi lòng, khóc mùi hơn:

    – Tui nhớ má tui với thằng Mẫn quá. Tui bỏ đi thiệt là tệ. Không ai coi chừng má tui với nó hết trơn.

    – Thằng Mẫn là ai?

    –  Nó là em cùng mẹ khác cha với tui. Nó bị tàn tật, què giò.

    – Cha em là ai?

    – Thằng chồng mắc toi của mẹ tui, chứ ai?

    Tôi quay nhìn khuôn mặt hiền lành đẫm nước mắt và nghĩ có lẽ chính khuôn mặt này đã làm cho các quan tòa giảm khinh cho bà tội vô ý giết người. Phải tay tôi, đã cho bà trắng án. Rồi như bấm nút, bà nín bặt, chùi nước mắt, nói ráo hoảnh:

    – Bảy năm cãi lộn với thằng cha ghẻ và hai năm cải tạo, hết thảy chín năm, tui quen ăn nói ba trợn. Sửa lại thấy … miệng lạt nhách.

    Bà nói xong than:

    – Tui mắc ói quá. Trước khi lên máy bay đã uống ba viên thuốc, mà còn mắc ói.

    – Hèn gì bà vừa lên máy bay đã ngủ li bì.

    Tôi vừa kịp banh cái bao ói thì bà ọc ra. Bà lại lấy dầu cù là ra xức. Cái nồng nàn của những chuyến đò đêm, cái ngất ngưởng của những chuyến xe đò trưa nắng, cái bệnh viện lưu động đó, dầu cù là con hổ. Hai mươi năm mới gặp lại, gặp lại vẫn nồng. Tôi bật ghế cho bà nằm nghỉ. Tôi cũng ngả người, nhắm mắt, suy nghĩ miên man về câu truyện của bà. Thỉnh thoảng tôi hé mắt, thấy bà chăm chú coi phim trên bàn ảnh truyền hình. Tôi chỉ cho bà đeo ống nghe. Tay chạm phải bộ tóc thật rậm, khỏe mạnh.

    Không biết máy bay đã bay tới đâu và mấy giờ ở dưới mặt đất. Tôi có cảm tưởng thời gian và không gian như đọng lại ở một nơi xa lạ, không liên quan tới trái đất. Nhưng tôi vẫn tưởng tượng dưới đó hàng mấy tỉ người đang lao xao cười, khóc, nói thật và nói dối, thông cảm và ngộ nhận, bằng nhiều thứ ngôn ngữ, chân ngôn xen lẫn ngụy ngôn.

    Tôi thức giấc đã nghe nhiều người rục rịch. Bà đã bật ghế thẳng, ngồi đan áo, tôi hỏi:

    – Bà không ngủ?

    – Ngủ mẹ gì được. Vừa chợp mắt đã nghe tiếng gà gáy.

    Tôi ngạc nhiên:

    – Trên máy bay, làm gì có gà kìa?

    Bà không do dự:

    – Chắc nó gáy trong đầu tui. Bị ở nhà quê, nghe gà gáy riết, quen đi, cứ gần hừng sáng là nghe gà gáy trong tai.

    Hình như bà giao tiếp với thế giới bên ngoài bằng trực giác. Thuần trực giác. Tôi chắc người đàn ông gặp bà trên bến đò Vĩnh Long cũng có trực giác rất mạnh. Tôi thích nghe tiếp câu truyện về họ.

    – Tại sao ông không về Việt Nam … rước dâu?

    – Chú đừng kiêu ngạo tui… Chả đòi sang đó chớ. Nhưng tui không cho. Tui nói dìa chi tốn tiền. Tui xin món tiền đó cho thằng Mẫn ăn học, chả bằng lòng, gởi tiền dìa rồi.

    Khi bà dẹp len và kim đan để chuẩn bị ăn điểm tâm, tôi hỏi:

    – Bà đan áo cho ông?

    – Bển nghe nói lạnh lắm.

    Chúng tôi ăn xong, máy bay qua một vùng ‘ổ gà trời’, hổng lên hổng xuống. Đèn báo nhắc cài dây an toàn. Lần này tôi chỉ cho bà cái khóa. Hành khách đi máy bay gặp những báo hiệu cài dây thế nào cũng ít nhiều lo lắng. Rủi ro, ai biết? Loa phóng thanh loan báo có bão, nhưng hành khách có thể yên tâm. Tôi lòn tay dưới gầm ghế, lấy cái phao cấp cứu. Bà hỏi:

    – Cái gì vậy?

    – Cái phao cấp cứu. Tôi chỉ kiểm soát xem nó có đó không, để mình yên tâm.

    – Tui đi sông đi nước hai chục năm trời, chẳng phao phiếc gì, cũng chẳng chết. Hôm đầu thằng chả xuống ghe cũng bày đặt hỏi phao, tui nói không cần, chả cũng chịu. Riết rồi chả nói đi ghe với tui mà không mang phao mới thích.

    Bà không lộ một thoáng lo âu nào. Tôi có cảm tưởng người đàn bà này bay trên 10 ngàn bộ cao mà tưởng mình đang bơi xuồng trên sông Cổ Chiên, xuồng lật, chỉ việc nhào xuống nước bơi. Tôi cất phao trở lại chỗ cũ, hỏi:

    – Bà có chắc ông sẽ ra đón không?

    – Tui chắc mà. Tui biết ai là người tin được. Tui biết thằng cha này không bao giờ nói xạo.

    Tôi nhớ một sự tích trong Tân ước: Một hôm thuyền của các môn đệ gặp sóng gió, Chúa Giêsu đi trên mặt nước ra với họ, nhưng họ càng sợ hơn vì tưởng là ma. Chúa nói ‘Thày đây, đừng sợ’. Đại môn đệ Phêrô mừng quá nói ‘Nếu là Thày thì xin cho con đi trên mặt nước đến với Thày’. Chúa phán ‘Con lại đây!’ Phêrô bước xuống, đi trên mặt nước, được mấy bước, thấy sóng to quá, ông đâm hoảng, và chìm xuống, Chúa phải đưa tay ra đỡ lên thuyền. Ngài trách yêu ‘Cái đồ yếu lòng tin!’

    Tôi cảm phục lòng tin của bà lắm, bà ạ: Bà bước thẳng lên mây đến với chồng. Tôi nghĩ mọi người trên chuyến bay này đều biết trước về cuộc hành trình, và biết điểm tới. Chỉ có bà nhắm mắt mà bước lên mây, không biết điểm tới nằm chỗ nào trên mặt đất. Bà đi tới với chồng, chứ không đi tới một nơi nào cả. Không một giây hồ nghi. Câu hỏi ‘Liệu ông chồng có tới đón không?’ chỉ bám vào đầu tôi, một con người thường thấy quá nhiều sóng lớn trên biển đời, lòng tin thường bị nhận chìm, đến nỗi mỗi bước đi về sau trở thành một dấu hỏi.

    Tôi phải chờ bảy tiếng đồng hồ tại Copenhagen để được chuyển máy bay đi Oslo. Lịch trình bay đã ghi như vậy từ đầu. Còn bà, theo lịch trình lẽ ra chỉ phải chờ ba tiếng để chuyển máy bay, nhưng vì trục trặc đình công sao đó, phải thêm hai tiếng trễ nải. Chính hai tiếng trễ nải này khiến cho tôi lo ngại giùm bà. Tôi đề nghị:

    – Bà nên báo cho chồng bà biết máy bay trễ.

    – Chả biết mà … Cái gì chả cũng biết hết đó.

    ‘Cái gì chả cũng biết’, đã tin ắng đi như vậy, thì thôi, kệ bà. Tôi hướng dẫn bà  đi coi các gian hàng trong sân bay. Bà bị kích thích mạnh vì vẻ choáng lệ và đồ vật bày trong các cửa hiệu. Bà trầm trồ, reo vui. Tôi hỏi bà có định mua cái gì làm quà cho chồng không, vì đồ ở đây miễn thuế, rẻ hơn ở ngoài, bà nói:

    – Tui mang theo nhiều đồ lắm, khỏi cần mua. Chú đừng cười nghe, tôi may ba bộ birama, kho một nồi tôm, và mua năm ký bánh phòng tôm, hai ký kẹo dừa. Nghe nói mấy thứ này ở bên tây không có. Mèn ơi! Tây u gì mà nó thích ăn tôm kho tầu gì đâu …

    Đi với bà, tôi có cái vui thích như đi bên cạnh một đứa trẻ tò mò. Trẻ ngoan nữa, vì bà từ chối khi tôi đề nghị mua tặng một cái máy sấy tóc mà bà rất thích.

    – Ai lại để chú mua, kỳ chết. Để chả mua cho tui, nếu tui còn thích.

    Theo tôi, bà có một bộ tóc mây quá đẹp. Tôi hy vọng ông chồng sẽ thuyết phục được bà đừng uốn tóc. Tôi thăm dò:

    – Tóc bà để tự nhiên như thế đẹp hơn.

    – Biết đâu thằng chả.

    ‘Biết đâu thằng chả’, thế là cả nhan sắc bà cũng giao cho ông luôn.

    – Hèn gì.

    – Chú lẩm bẩm cái gì?

    – Dạ, không. À, tôi định nói con gấu bông kia nhỏ bé quá, hèn gì ai cũng muốn bồng.

    Tuy nhiên, bà càng tin tưởng, phó thác một cách ngây thơ, đầu óc đầy sạn của tôi càng nghi ngại. Rủi chồng bà không tới, bà sẽ xoay xở ra sao ở nơi xa lạ? Khi đi qua một trạm điện thoại, tôi đề nghị:

    – Bà nên điện thoại cho ông báo tin báy bay trễ, để ông khỏi lo.

    Bà ngẫm nghĩ, rồi trả lời:

    – Chú nói có lý. Nhưng làm sao ra nhà dây thép gió bây giờ?

    Tôi lấy cái thẻ nhựa của tôi tra vào máy điện thoại, và quay số bà ghi trong một tờ giấy nhét cẩn thận trong bóp. Chuông điện thoại reo. Bỗng tôi ngại ngùng, có thể nào người đàn ông nghe tiếng tôi ở đầu dây bên này, biết tôi đứng bên cạnh vợ ông và đâm ghen không. Tôi vội trao máy cho bà trước khi đầu dây bên kia trả lời. Tôi nghe bà la oang oang bằng tiếng Việt :

    – Ê! Ông Ron đó hả! Ê ông có nghe không, Ron, Ron, Ron?!

    Bà nói liên hồi, xăng xái. Bà bụm bàn tay trước ống nói mà hét lên, cũng không có tiếng trả lời. Tôi nhớ chúng ta thử lại nhiều lần, bà nhỉ. Nhưng không ai trả lời. Tôi an ủi:

    – Có lẽ ông đã đi đón bà, và đang chờ ngoài phi trường.

    Sắp tới giờ bà phải lên máy bay, tôi cần được giải đáp vấn nạn lớn nhất rằng tại sao một con người ăn nói mộc mạc như bà lại có thể làm cho một người đàn ông lạ say mê cưới làm vợ. Và, mặc dầu bà thường kể ‘chả biểu, chả nói’, nhưng nói bằng ngôn ngữ gì? Suốt cuộc hành trình, tôi biết bà không hiểu một chữ tiếng Tây tiếng Mỹ, làm cách nào ông bà hiểu nhau, hiểu một cách thâm sâu như thế? Cụ thể nhất là có thiệt ông hẹn bà sang Phần-lan chuyến này? Và có chắc tất cả mọi truyện không bắt đầu từ một sự … hiểu lầm nào đó do bất đồng ngôn ngữ? Tôi hắng giặng hỏi:

    – Tôi hỏi không phải, ông bà nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt hay tiếng Phần-lan?

    Bà xăng xái:

    – Tiếng Việt mình, thằng chả có hiểu con mẹ gì.  Còn cái tiếng quỉ tiếng ma gì của chả, tui cũng đách hiểu.

    Cũng hay. Nhờ không biết tiếng Việt, ông khỏi cần hiểu ‘con mẹ’ với ‘cái đách’ là gì. Có lẽ chỉ cần hiểu gật đầu là ‘có’ và lắc đầu là ‘không’ , hai tín hiệu mà nếu thông suốt, minh bạch, con người đỡ được bao nhiêu phiền trược trong cái biên giới u minh nửa không, nửa có, của ngôn ngữ. Tôi nghe nói bộ óc điện toán cũng chỉ biết ‘gật đầu’ và ‘lắc đầu’. Phương chi, con người, không phải chỉ có bộ óc, mà còn trái tim kỳ diệu. Điều này làm cho tôi, khi tiếng loa mời hành khách đi Helsinki vang lên, cảm thấy bớt áy náy. Cái gì làm cho một người đàn ông từ Helsinki sang tận bến đò Vĩnh Long gặp bà, thì cũng đang hướng dẫn bà từ Vĩnh Long sang Helsinki bình an.

    Bà le te ra cổng số 39, tươm tất trong cái áo vét xanh đậm và quần tây thẳng nếp. Tôi đứng ngoài, bịn rịn nhìn theo, bà quay lại vẫy tay. Cái vẫy tay cũng không giống ai, bàn tay đưa ngang vai, lòng úp xuống, ngón tay phẩy phẩy ra phía ngoài, như giục tôi cứ đi đi. Cứ yên tâm.

Tâm Thanh

Tình không biên giới

Nguyên Trần

Trời sinh chi cái nòi tình

Bướm ong rộn rịp đắm mình cuộc chơi

Trăm năm hưởng thú vui đời

Quan tài bên cạnh vẫn lời trăng hoa

 

 

 

 

 

 

Lời tác giả: Câu chuyện dưới đây hoàn toàn là hư cấu, nếu có sự ngẫu nhiên trùng hợp tên tuổi thì đó là ngoài ý muốn tác giả.

1) Cuộc tao ngộ kỳ thú:

Vinh đang ngồi ôm đầu với xấp hồ sơ mật của Ty Nội An và Ty Cảnh Sát Vĩnh Bình phúc trình những vụ xuống đường bạo động của nhóm sư sãi Phật Giáo Theravada dưới sự lãnh đạo của Đại Đức Thạch Sim, trụ trì chùa Ông Mẹt thì bỗng có tiếng gõ cửa rồi chú Sáu tùy phái bước vào nói:
– Thưa ông Phó ! Có một cô tên là Thanh Nguyên xin gặp về việc người cha bi bắt oan.
Vinh bực mình lẩm bẩm: “ Oan với ưng. Lại khiếu nại lôi thôi nữa đây”. Tuy vậy chàng cũng bảo chú Sáu mời khách vào.
Tiếng giày cao gót lụp cụp tiếp theo sự xuất hiện của một cô gái làm Vinh ngơ ngẩn đến lặng người. Trời ơi! Sao trên đời lại có người đẹp thế này! Nàng mặc nguyên cái áo dài màu xanh da trời đồng phục của tiếp viên hàng không Air VietNam với huy hiệu rồng vàng nổi bật trên cổ áo ôm lấy một bờ ngực vun đầy và vòng eo chết người. Gương mặt trái soan với đôi má hây hây điểm trên làn da trắng mịn màng, bờ môi mộng đỏ hình trái tim, cộng thêm đôi mắt bồ câu đen long lanh với viền mi cong vút dài rậm(thiệt đúng là chí lớn trong thiên hạ không đong đầy đôi mắt mỹ nhân). Tất cả như muốn nhốt cả hồn Vinh trong ngây dại chìm đắm. Nhìn mái tóc đen huyền mượt mà thả nhẹ xuống bờ vai thanh tú trên thân hình cân đối thon thả làm Vinh liên tưởng tới tứ đại mỹ nhân bên Trung Hoa thời xưa. Không lẽ mỹ nhân từ tiền kiếp nào lại hiện về đây với chàng. Sao giống như những chuyện liêu trai Bồ Tùng Linh quá vậy ta? Sự xúc động mê say làm Vinh ngẩn người ú ớ quên cả phép xã giao tối thiểu đến độ người đẹp phải nũng nịu cười lên tiếng qua giọng nói thật dịu dàng ngọt mật tới chết người:
– Ông Phó cứ nhìn em hoài mà không chịu mời em ngồi sao?
Tới chừng đó chàng mới hoàn hồn mà suýt soa :
– Ấy chết! Tôi vô ý quá, xin cô thứ lỗi cho. Mời cô ngồi.
Liền đó, cô gái dịu dàng lên tiếng:
– Trước hết, em xin tự giới thiệu với ông Phó em tên là Huỳnh thị Thanh Nguyên quê ở Song Lộc, là tiếp viên của Air VietNam, em cũng xin lỗi em vừa xong nhiệm vụ trên chuyến bay đi Vĩnh Bình hồi nãy là tới thẳng đây với bộ đồng phục vì em có chuyện gấp nhờ ông Phó giúp giùm. Có lẽ ăn mặc thế này không đàng hoàng lắm, xin ông Phó miễn chấp cho.
Vinh ấp úng nhìn người đẹp rồi thầm nghĩ rằng “ Nhưng mà người đẹp ơi! Tôi say mê cái “không đàng hoàng” này của cô lắm rồi đó cô ơi!”. Một lúc sau chàng mới giựt mình lên tiếng:
– À! Không sao cả. Vậy là hôm nay tôi đươc vinh hạnh diện kiến cô Thanh Nguyên, một dòng suối trong sáng. Tưởng đâu chứ Song Lộc thì gần Trà Vinh quá rồi. Tôi có thể giúp cô chuyện gì đây hở dòng suối trong sáng?
Người đẹp Air VietNam mỉm cười duyên dáng và e ấp chết người trước lối ví von của ông Phó trẻ rồi nàng cũng dí dỏm lại:
– Dạ! Dòng suối nầy đang chờ ánh nắng mặt trời đây.
Vinh liền đùa lại liền:
– Nếu vậy thì ánh mặt trời sẽ không bao giờ tắt để mang tia nắng dịu dàng tỏa lên trên dòng suối trong xanh.
Thanh Nguyên cám ơn những lời galant của Vinh rồi bắt đầu kể lể:
– Tuần trước sau khi xảy ra vụ cầu Ô Chát bị Việt Cộng giựt sập, tiểu đoàn 404 Địa Phương Quân đi ruồng bắt một số người ở xã Song Lộc trong đó có ba em là ông Huỳnh văn Phấn . Xin thưa thiệt với ông Phó quả tình là ông bị bắt oan. Ba em có con cái là lính Cộng Hòa là mấy anh của em, riêng ông thì cả đời chỉ biết làm ruộng mưu sinh nuôi con chứ đâu có dính dáng gì đến Việt Cộng. Em xin ông Phó xét lại cho gia đình em nhờ. Riêng em thì suốt đời em không bao giờ quên ông Phó.
“ Riêng em thì suốt đời em không bao giờ quên ông Phó”. Hình như nàng cố tình nuốt gọn đi chữ ơn để chỉ nói “quên ông Phó” thay vì “quên ơn ông Phó” chắc để cho người đàn ông ngồi đối diện mình chết luôn đây mà. Câu nói ngọt như mía lùi được thoát ra từ cửa miệng ngọc ngà của một giai nhân thì nói thiệt là có bảo Vinh nhảy vào lửa chắc chàng cũng nhắm mắt mà lao đầu vào chớ nhằm nhò gì ba cái chuyện lẻ tẻ là “xét lại cho gia đình em nhờ”. Nói không cường điệu chút nào thi câu nói “suốt đời em không bao giờ quên…” nghe thật tình tứ mời mọc như vậy thì đến mười ông Phó Vinh cũng chết chứ nói chi có một ông. Trong lòng Vinh lúc bấy giờ là bằng mọi cách phải trổ tài : “anh hùng cứu …cha mỹ nhân”.
Mặc dù thần hồn nát thần tính nhưng Vinh cũng còn chút sáng suốt cuối cùng là chàng đã không hứa hẹn gì mà chỉ nhỏ nhẹ trả lời người đẹp:
– Tôi rất thông cảm và tin những lời Thanh Nguyên nói, (đến đây thầy tuồng chưa phựt đèn màu mà ông Phó nhà ta đã nuốt mất chữ “cô” cũng giống như hồi nãy nàng Thanh Nguyên nuốt mất chữ “ơn” vậy), nhưng để tôi xem lại hồ sơ với Ty Cảnh Sát rồi mới có ý kiến được. Tôi chỉ xin hứa với Thanh Nguyên là tôi sẽ cố gắng cứu xét trong những điều kiện thuận lợi cho bác trai.
Nghe lời nói hứa hẹn đầy triển vọng của Vinh, lại nhìn thấy nét mặt “ngẩn ngơ như ốc mượn hồn” của chàng, Thanh Nguyên biết rằng ông Phó đã “thấm đòn mỹ nhân” của mình rồi, như vậy thì ba nàng có hy vọng lắm nên nàng liền bắn phát súng “ân huệ ”cuối cùng bằng giọng oanh thỏ thẻ ngọt ngào như để dứt điểm ông Phó:
– Mọi việc em chỉ trông cậy có ông Phó thôi. Rán giúp giùm em nghe. Em xin kết cỏ ngậm vành ơn nầy đó.
Nói nào ngay khi đánh bạo xin vào gặp Phó Vinh, Thanh Nguyên chỉ hi vọng là nhờ xem xét lại trường hợp ba nàng chứ ai ngờ diễn tiến cuộc gặp gỡ ra chiều thuận lợi như vậy. Điều nàng biết chắc là qua ánh mắt ngây dại của Vinh thì sắc đẹp nàng đã đóng một vai trò không nhỏ trong sứ mạng gia đình này. Thanh Nguyên thừa biết mình đẹp lắm, chẳng thế mà hồi còn học ở trường Trung Học Vĩnh Bình, mấy chàng học sinh và có cả thầy dạy đã say mê nàng như điếu đổ, thi nhau trồng sây si chật nứt trước nhà nàng. Và gần đây ngay trong kỳ thi tuyển hôtesse de l’air, nàng cũng đã đứng đầu, phần lớn nhờ vào bóng sắc mỹ nhân chứ thực ra phần ứng xử kiến thức nàng cũng tầm thường thôi.
Trong khi chuyện vãn, Thanh Nguyên với giọng điệu êm ái nhẹ nhàng cộng với sắc đẹp quyến rũ đã làm Vinh xao xuyến bần thần nếu không muốn nói là nàng đã hạ knocked out chàng ngay hiệp đầu tiên. Đến lúc chào từ biệt Vinh, nàng nhìn chàng với đôi mắt đắm đuối gợi tình (chắc là Thanh Nguyên muốn câu con cá cho chắc ăn đây mà) làm Vinh thấy cả vùng không gian chung quanh như mơ hồ tan biến vào một cõi bồng bềnh huyền hoặc mơ hồ mong manh. Trong một thoáng nào đó chàng muốn liều lĩnh bước tới ôm choàng lấy Thanh Nguyên để thỏa cơn sóng tình đang rào rạt dâng tràn nhưng rồi lại sợ nàng giận dữ rồi tát cho một bạt tay thì hư bột hư đường hết trọi. Sau một lúc yên lặng, Thanh Nguyên lại còn hôn nhẹ vào má Vinh rồi chào từ giã và quay gót bước đi để lại mùi hương nhẹ nhàng thoang thoảng bay cùng khắp cả không gian mờ ảo huyền hoặc của văn phòng . Nếu cụ Nguyễn Du diễn tả lúc chàng Kim Trọng tương tư Thúy Kiều qua 2 câu thơ trữ tình:
Mành tương phất phất gió đàn
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
Nhưng cái tơ tưởng của Kim Trọng có thể hiểu được vì chàng Kim xa vắng nàng Kiều đã lâu chứ còn ở đây thì Thanh Nguyên chỉ mới rời khỏi văn phòng có 5,10 phút thôi mà Vinh đã vấn vương vì hương yêu người đẹp rồi thì nhà em xin chịu thua thói đa tình của ông Phó ta. Sau cái hôn người đẹp ban cho, Vinh bỗng thấy ngây ngất bàng hoàng thiếu điều muốn chết đứng như Từ Hải vậy đó.
Từ lúc ra trường Quốc Gia Hành Chánh, chàng sinh viên Nguyễn tấn Vinh được bổ nhiệm về tỉnh Vĩnh Bình giữ chức vụ Phó Quận cho tới thăng cấp Phó Tỉnh Trưởng đã hơn năm rồi, đây là lần đầu tiên chàng diện kiến một cô gái đẹp gợi cảm như vậy. Vinh vốn thuộc nòi tình háo sắc đa tình nên rất mềm yếu trước những người đẹp, tuy nhiên nhờ trời thương hay nói thẳng ra là sợ “mất ghế” nên dù động lòng rung cảm thế nào đi nữa, thì trên công việc chàng cũng ít khi vượt lên nguyên tắc luật lệ để hành xử khuất tất. Trường hợp Thanh Nguyên cũng không ngoại lệ, Vinh phải hỏi Ông Cò Trung Tá Nguyễn Ngọc Phúc, trưởng ty Cảnh Sát, cũng là bạn thân tình với chàng, để xem hồ sơ của ông Huỳnh văn Phấn này ra sao rồi hội ý với người bạn nầy mới được.
Đến đây thiết tưởng cũng nên nói sơ qua về thủ tục bắt giữ và xét xử tôi phạm chính trị vào những năm đầu thập niên 70. Vì tình hình chiến sự sôi động và khẩn cấp nên mỗi tỉnh có thiết lập một Ủy Ban tên là Ủy Ban An Ninh Phụng Hoàng Tỉnh (PPSC: Provincial Phoenix Security Committee) để xét xử những phần tử hoạt động nằm vùng thuộc hạ tầng cơ sở Việt Cộng (mà ta thường gọi là VCI = VC Infrastructure ) bị bắt giữ. Thành phần Ủy Ban gồm có:
Tỉnh Trưởng : Chủ tịch
Chánh Án : Ủy viên
Chủ tịch Hội Đồng Tỉnh : Ủy viên
Trưởng Ty Cảnh Sát : Thuyết trình viên (không quyền biểu quyết )
Trưởng ty Nội An : Thư ký (không quyền biểu quyết)
Cố vấn trưởng Tỉnh: Quan sát viên(không quyền biểu quyết)
Trên thực tế, vì vị tỉnh trưởng rất bận rộn nên thường ủy nhiệm Phó tỉnh trưởng thay thế mỗi khi họp.
Theo phúc trình của Ty Nội An, Vinh có biết sơ qua vụ cầu Ô Chát bị Việt Cộng giật sập và ngay sau đó quân ta hành quân lục soát bắt một số tình nghi mà trong số có ông Huỳnh văn Phấn, ba của Thanh Nguyên và tuần tới này, Ủy Ban Phụng Hoàng Tỉnh sẽ họp xét.
Để có đầy đủ dữ kiện, chàng gọi cò Phúc mang hồ sơ ông Huỳnh văn Phấn qua văn phòng để thảo luận. Sau một hồi lâu, Phúc tới với đầy đủ tài liệu nội vụ mà Vinh đọc kỹ thấy ghi là khi toán hành quân tới vây quanh khu vực cầu sập thì ông Phấn đang lảng vảng gần đó nên bị bắt về để điều tra. Trong biên bản hỏi cung thì ông ta khai là sáng đó ông ra rạch Ô Chát để thăm mấy lưỡi câu giăng tôm gặp đúng lúc lính Địa Phương Quân hành quân vùng đó bắt ông. Ông cũng khai là có con đi lính quốc gia (y như lời Thanh Nguyên nói và có giấy chứng nhận đàng hoàng). Hơn nữa từ trước đến nay ông chưa có hồ sơ lý lịch thành tích gì hoạt động cho Cộng Sản. Xem xong, Vinh hỏi ý kiến Phúc thì bạn ta nói rằng thực ra chưa đủ yếu tố để buộc tội ông Phấn, nếu Vinh muốn thì cũng có thể xếp hồ sơ với đề nghị để theo dõi tiếp. Thế cho nên đến ngày họp Ủy Ban Phụng Hoàng, Phúc thuyết trình từng hồ sơ đến phần ông Phấn, Phúc đưa ra những lý lẽ không gắt gao mấy nên Vinh thừa dịp đó đề nghị là trả tự do cho đương sự chỉ tiếp tục theo dõi mà thôi. Và may mắn là đề nghị được toàn thể Ủy Ban chấp thuận. Và ngay cả Đại Tá Harold Hayden cố vấn trưởng cũng không thắc mắc.
Mấy ngày sau đó, Vinh mong Thanh Nguyên trở lại để báo tin lành và nhất là để kiếm điểm với người đẹp. Chàng trông ngóng từng giờ phút trong văn phòng cho tới độ không dám bỏ đi đâu vì sợ nàng đến mà không gặp. Thế mà dòng suối trong sáng vẫn biền biệt âm hao làm chàng xốn xang bứt rứt mấy ngày trời. Có khi ngay tại nhà đang đùa giỡn với đám con mà chàng cũng thẩn thờ với ý nghĩ sao mà nàng quá vô tâm thờ ơ thậm chí…còn không biết điều nữa. Giúp cho cha nàng khỏi vòng lao lý không phải là một cái ơn lớn ư! Chẳng nhẽ nàng vô ơn vô tình đến thế! Nhưng chàng tự cố yên ủi là có thể nàng bận rộn bất ngờ vì những phi vụ Air Viet Nam nên chưa kịp tới ngỏ lời cám ơn chàng. Cái câu “thi ân bất cầu báo” nếu có thì chàng chỉ dùng để cho những người khác thôi chứ còn với nàng tiên Thanh Nguyên, chàng cần “cầu báo” lắm đó chứ, đó là báo đền một thứ nợ tình. Những ý nghĩ oán trách cứ dằn vật tâm tư làm chàng luôn ngẩn ngơ như ốc mượn hồn tới độ Huyền vợ chàng nhận thấy hỏi:
– Sao hổm rày công việc Tòa Hành Chánh có gì không ổn mà em thấy anh có vẻ bối rối quá vậy.
Vinh giật mình chống chế:
– Không! Không có gì đâu em! Chắc tại anh hơi yếu trong người.
Huyền lo âu và thúc giục:
– Để em cạo gió cho anh nha? Hay là em đưa anh đi bác sĩ ?
Ăn ở với nhau đã hơn 5 năm và đã có 2 mặt con, Huyền biết tính ý chồng ít khi lo lắng ưu tư, mà trái lại rất vui vẻ linh hoạt cho nên gương mặt “đưa đám” của Vinh mấy ngày nay làm nàng lo sợ. Nàng lại giục Vinh đi bác sĩ nhưng chàng trấn an:
– Không sao đâu em. Sức khỏe anh tốt lắm, anh biết mà , em đừng lo ( anh chỉ chờ tin của người đẹp mà anh mới quen biết thôi-Sic)
Và trong phút giây nào đó, chàng thấy thương yêu Huyền vô vàn vì cảm thấy tội lỗi với nàng quá. Trong cuộc sống lứa đôi, Huyền lúc nào cũng nhẫn nhục hy sinh và chiều chuộng chồng con và luôn tin tưởng chàng.. Vậy mà bây giờ anh chàng còn ngoại tình trong tư tưởng nữa đây? Nhưng ngay sau đó chàng tự trấn tỉnh là chỉ mơ mộng viễn vông văn nghệ nhất thời chứ lúc nào thì chàng chẳng là “ vợ cái con cột”.
Mãi hơn một tuần sau, Thanh Nguyên mới trở lại văn phòng để ngỏ lời cám ơn Vinh làm chàng vui mừng còn hơn trúng số. Nàng nhỏ nhẹ phân trần:
– Xin lỗi ông Phó, vì em bận đi bay liên tiếp nên đến hôm nay mới rãnh mà gặp ông để cám ơn. Em và cả gia đình không bao giờ quên ơn trời biển nầy.
Vinh rạng rỡ đáp lời:
– Khỏi cần lỗi phải gì. Sự có mặt của Thanh Nguyên hôm nay như liều thuốc hồi sinh cho tôi rồi đó.
Rồi chàng tiếp lời tán tỉnh người đẹp:
– Mấy ngày nay, tôi cứ trông Thanh Nguyên mãi.
Thanh Nguyên cười ranh mãnh:
– Ông Phó trông em chi vậy? Tính đòi nợ hả?
Vinh cớt nhã:
– Muốn đòi nợ thiệt đó mà không phải là nợ tiền đâu à nghe!
Thanh Nguyên ởm ờ vừa cười cười lả lơi quyến rủ:
– Món nợ đó em cũng muốn trả lắm nhưng sợ bà Phó bả giết em chết
Hai người vui vẻ tâm sự một lúc thì Thanh Nguyên đứng lên giã từ Vinh. Chàng bước lại kế bên nàng chỉ kịp liều mạng nói câu “Anh yêu em” rồi bất thình lình ôm choàng lấy người đẹp đang khép hờ đôi mắt như mời gọi để chàng đặt lên đôi môi mộng đỏ hình trái tim một nụ hôn say đắm ngọt ngào. Thanh Nguyên cũng nồng nàn đón nhận và vòng tay ôm chặt lấy chàng trai đa tình. Vinh cảm nhận được bờ ngực vun tròn mềm mại của nàng đang ép sát vào người chàng. Và cứ thế hai kẻ say tình như chết ngất đi trong chuỗi hôn dài đê mê bất tận. Những hương tình ngọt mật thơm ngát từ bờ môi Thanh Nguyên làm Vinh như hớp phải men yêu say sưa chất ngất. Thời gian như lắng động chìm sâu theo nhịp thở của hai người. Sau phút giây thần tiên rung cảm, Thanh Nguyên âu yếm lấy khăn lau vết son dính trên môi Vinh và cười nói :
– Để em lau sạch son môi cho anh bằng không về tới nhà chỉ thấy thì anh có nước chết làm em buồn lắm đó.
Rồi nàng liếc mắt cười duyên và từ giã Vinh trong nỗi bàng hoàng luyến tiếc của chàng.
Ngồi một mình mơ mộng trong văn phòng còn thoang thoảng dư hương của người đẹp, Vinh thấy nhẹ nhàng sảng khoái nhưng cũng giật mình khi nhớ lại giây phút điên cuồng ôm đại Thanh Nguyên, Vinh thấy mình ẩu thiệt, lỡ nàng giận dữ rồi xáng cho một bạt tay nổ đom đóm mắt lại còn đưa ra Tòa về tội sexual harassment như bên mấy nước Âu Mỹ thì thí mồ luôn. Nhưng mà may quá, nàng chẳng những không cự tuyệt mà còn tình tứ hưởng ứng. Thiệt đúng như ông bà mình nói:
Đẹp trai hổng bằng chai mặt
Thời gian sau đó, Vinh đã sống như người mộng du với nụ hôn tuyệt vời cùng Thanh Nguyên. Không lẽ từng tuổi đầu nầy rồi mà chàng còn tương tư hay sao? Cho đến một hôm lối hai tuần sau, chàng nhận được thư nàng, mặc dù chưa biết trong thơ nói cái gì nhưng Vinh đã nôn nao vui mừng không tả. Hình như là Phật Bà thương chàng nên đang rưới vài giọt cam lồ vào trái tim “ngục tù ” của chàng ( Nói đùa chơi chút thôi chứ Phật Bà nào mà thương cái thứ đàn ông trăng hoa lăng nhăng nầy đâu).
Chàng nôn nao mở thư ra đọc:
Vinh yêu thương,
Trước hết em cảm ơn anh đã cứu cha em thoát khỏi cảnh tù tội nhục hình, cái ơn mà không biết tới đời kiếp nào em mới trả nổi dù trong muôn một. Em cũng rất xúc đông trước tình yêu mà anh dành cho em, một tình yêu mà em sẽ nâng niu trân quý suốt đời. Và Vinh ơi! Em cũng yêu anh nhiều lắm. Qua hai cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng đầy tình ý vừa rồi nhất là với chân tình anh dành cho em, em cũng đã bị tiếng sét ái tình đánh phải và em tin rằng chính anh là người sinh ra cõi đời nấy để em yêu, yêu mê đắm như từ tiền kiếp cho tới bây giờ. Người ta bảo rằng hai trái tim khi đã cùng một nhịp đập thì chỉ một phút đầu tiên sơ ngộ cũng đủ mang cả hai tâm hồn quyện hẳn vào nhau trong tình yêu đê mê ngút ngàn. Có lẽ đó là trường hợp của anh và em trong lần gặp hôm ấy phải không anh yêu? Nhưng Vinh ơi! Định mệnh đã đưa hai chúng mình tới trễ một bước. Lỡ làng hết rồi anh yêu ơi!. Anh và em đều có gia đình và những trách nhiệm ràng buộc nhất là anh đang có trong tay một người vợ xinh đẹp hiền lành và hai đứa con dễ thương kháu khỉnh mà cho dù yêu thương anh đến đâu, em cũng không đành lòng phá nát cái hạnh phúc trong tay của người em thực sự yêu thương. Yêu nhau là phải hy sinh cho nhau. Thôi thì mỗi người chúng ta nên trở về với những bổn phận riêng, nhưng mối duyên tri ngộ êm đềm thắm thiết vừa qua em nguyện giữ mãi trong lòng cho đến ngày nhắm mắt. Nếu thực sự cõi nhân sinh có thuyết luân hồi thì em thề sẽ là người yêu thương săn sóc anh suốt kiếp sau đó nghe anh. Đời em từ nay nếu có hình bóng nào như bóng râm che mát em trên từng bước em đi thì hình bóng đó chính là anh.
Xin đừng tìm em nghe anh. Cố xem như tình mình tuy đẹp mà không tới vậy thôi.
Thay mặt Ba, Má và cả gia đình, em vô vàn cảm tạ anh.
Yêu anh suốt đời,
Em,
Thanh Nguyên

Lá thư chỉ có vậy nhất là có vẻ mang tín hiệu huề vốn nhưng đối Vinh là cả một kho tàng vô giá mà chàng trân quý nâng niu. Chàng nghĩ rằng nàng cũng cảm kích trước tâm lòng chàng nhưng vì trách nhiệm gia đình mỗi bên nên cả hai đành phải đi trên hai con đường song song suốt đời vậy.
Và từ đó theo dòng thời gian lạnh lùng trôi với bao công việc bề bộn hằng ngày cộng thêm hạnh phúc với mái ấm gia đình vợ con làm Vinh quên lần đi cuộc hạnh ngộ lý thú và cho nó qua như một thoáng mây bay trong vùng trời kỷ niệm của một thời hoa bướm..

2) Trôi theo vận nước:

Thế rồi cuộc đổi đời bi thảm tháng Tư đen năm 1975 mang tai ươn đến mọi người dân miền Nam. Theo vận nước nghiệt ngã, Vinh phải trình diện học tập tại trường Nữ Trung Học Gia Long dành cho các cựu công chức mà bọn Việt Cộng gọi sách mé là ngụy quyền, để đi tù nhưng chúng gọi mỹ từ là học tập cải tạo trong một tháng. Tại địa điểm tập trung, Vinh đã gặp lại nhiều đàn anh và bạn bè trong cùng tâm trạng là muốn học tập cho xong để được yên thân. Ở tại trường Gia Long ba hôm thì tất cả được đưa tới làng cô nhi Long Thành để suốt ngày lao động cực nhọc và hai lỗ tai bị tra tấn bằng những luận điệu tuyên truyên rẻ tiền một chiều ngu xuẩn về ba dòng thác cách mạng và những ưu việt của đỉnh cao trí tuệ loài người. Ban quản giáo trại là những tên mán rừng ngu dốt về thành loại răng đen mả tấu chuyên cướp của giết người chứ dạy dỗ ai cái ngữ chúng nó.
Thắm thoát mà đám tù khổ sai đã lao động nhục nhằn ở tại trại tù Long Thành hơn một tháng. Kỳ lạ quá! Đã hết hạn “học tập” rồi mà sao không nghe ban quản giáo hé môi gì về ngày về của mình. Đã vậy trong nhưng buổi tối học tập chính trị một chiều sau những giờ lao động vất vả cực hình, tụi cán bộ luôn nói “các anh phải phấn đấu học tập tốt để sớm được trở về với gia đình. Vì các anh mang nợ máu quá nhiều với nhân dân nhưng Cách Mạng noi theo gương đạo đức của Bác Hồ anh minh vĩ đại nên đã không trừng trị mà chỉ khoan hồng đưa các anh vào đây để giáo dục các anh trở thành công dân tốt của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa siêu việt. Vậy các anh hãy khắc phục mà học tập tốt lao động tốt để được sớm trở về với gia đình chung lo xây dựng đất nước. Ngoài ra các anh cũng phải thành khẩn khai báo hết các tội lỗi đối với nhân dân và cách mạng”. Thằng nào thằng nấy cũng chỉ có câu kinh nhật tụng duy nhất này để tập ăn nói trước đám tù cải tạo nghe thật vô cùng nhàm chán. Ủa ! Thế còn thời gian một tháng học tập là cái gì mà không nghe thằng nào nhắc đến. Giữa lúc tinh thần các người tù hoang mang căn thẳng thì ở bên ngoài các bà mẹ, bà vợ , con cháu cải tạo viên cũng lo sợ không kém, họ liều mạng kéo nhau tới Ủy Ban Quân Quản để hỏi tại sao nhà nước tuyên bố gom chồng con họ đi học tập một tháng thôi mà nay đã mấy tháng rồi chưa thấy tăm hơi thì được chúng trân tráo trả lời:
– Ai nói với bà con là đi học tập một tháng trở về. Bà con có đọc kỹ thông báo chưa? Nhà Nước chỉ nói rằng mang theo thức ăn khô trong một tháng chứ có nói đi học một tháng rồi về đâu. Đó là vì trong bước đầu quản lý khó khăn nên Nhà Nước mới nhờ chồng con các bà tự mang theo lương thực một tháng đấy chứ. Bây giờ thì khâu quản lý tốt rồi có thể lo cung cấp thức ăn cho các cải tạo viên để họ an tâm học hành tốt, lao động tốt , thành khẩn và thấu triệt chính sách khoan hồng của Nhà Nước ta là về sớm thôi.
Trước lời nói tráo trở lưu manh đó, mấy bà chỉ biết gạt nước mắt kéo nhau ra về. Đúng là nói láo như Vẹm.
Sau khi lao động khổ sai ở Long Thành được hơn một năm thì các tù nhân bị di chuyển ra Bắc bằng những chiếc tàu thủy chật hẹp tồi tàn dơ dáy nhất là thiếu điều kiện an toàn đến độ có người đã chết trên tàu trước khi tới trại tập trung. Sau ba ngày đêm vật vả rã rời, đoàn người chiến bại cũng tới được miền Bắc và bị phân tán thành nhiều toán đi tản mác khắp nơi. Riêng Vinh thì bị đưa tới trại Phú Sơn ở mạn Trung Du Bắc Việt. Những người “có tội ác với nhân dân” thực sự đã bắt đầu kiếp sống nhục nhằn trâu ngựa từ đây. Mỗi ngày những người tù khổ sai phải đốn cây, khuân đá, trồng trọt canh tác trong những điều kiện thiếu thốn trầm trọng từ việc ăn uống, thuốc men cho tới cả các phương tiện thực hiện công việc lao động. Đã vậy, họ còn bị bọn quản giáo cai tù chửi rủa đánh đập tàn nhẫn. Không bút mực nào diễn tả được sự ác độc phi nhân của bọn Việt Cộng đối với những người thua cuộc bất hạnh cũng như nỗi nhục nhã ê chề đắng cay mà tù nhân gánh chịu. Nhiều người không chịu nỗi cơn đói khát bệnh tật và sự hành hạ thù hằn của bọn cán bộ đã nhắm mắt ra đi, có người đốn cây bị cây ngã đè chết, bỏ lại vợ con nơi phương trời xa xăm biền biệt và đau đớn hơn cả là những người thân yêu nầy nào biết tăm hơi chồng, con, cha …họ giờ ở phương nao. Khốn nạn hơn và bi hùng hơn là có những người phẩn uất trước sự bạo tàn vô luân của bọn Việt Cộng nên đã đứng lên phản đối thì bị chúng giam xà lim trừng phạt dã man đến chết thảm. Những ai không chịu nỗi chế độ ngục tù kinh hoàng thì tổ chức vượt trại để nếu không bị bọn Việt Cộng bắt lại và bắn bỏ tại chỗ để làm gương tù nhân khác thì cũng bỏ mình nơi rừng sâu núi thẳm vì cọp beo rắn rít , lam sơn chướng khí hay vì kiệt lực đói khổ. Ít có ai mà vượt thoát thành công. Ôi! Trận hồng thủy tháng 4 năm 1975 đã nhận chìm tất cả người dân miền Nam xuống tận cùng hỏa ngục.
Thắm thoát gần 4 năm kể từ ngày Vinh bước chân vào ngục tù Cộng Sản với những đòn thù tàn ác phi nhân. Thân thể chàng bấy giờ chỉ còn da bọc xương, đôi mắt tinh anh ngày trước bây giờ lờ đờ như hai lỗ trũng vô hồn, tinh thần thì suy sụp khủng hoảng tới độ chàng cầm bằng như đã chết rồi. Nhiều lúc quẫn trí vì hoàn toàn tuyệt vọng, Vinh muốn liều mạng giựt súng tên bộ đội canh tù rồi bắn chết vài thằng để cho chúng hạ sát chàng nhưng nhớ tới vợ con sẽ đau khổ đến thế nào khi nhận hung tin nầy nên chàng phải cắn răng mà ôm trọn nổi tủi nhục căm hờn. Những lúc đó, chàng chỉ buồn rầu hối hận là ngày 30 tháng 4 đã quyết định vô cùng sai lầm là ở lại để ngày nay chịu khổ chẳng những cho bản thân mình mà còn khổ lây cho vợ con. Cuộc đời con người ai cũng có những phút giây mà quyết định chẳng những ảnh hưởng đến chính bản thân mà còn liên lụy đến gia đình, Vinh đã trải qua những phút giây quan trọng đó và chàng đã có sự chọn lựa vô cùng nhầm lẫn để bây giờ nhận lấy hậu quả thảm khốc nầy. Không biết giờ nầy ở ngoài trại tù lớn (thực ra người dân sống trong chế độ Cộng Sản phi nhân có khác gì ở trong một nhà tù lớn hơn đâu) Huyền và 3 con thơ dại của chàng sống còn thế nào? Tất cả đều biệt vô âm tín từ ngày chàng trình diện “học tập”.

3) Cố nhân tái ngộ:

Một hôm trong lúc Vinh đang lao động đốn cây trong rừng cùng các bạn tù khác thì tên cán bộ trực trại đi với tên cai tù đến gặp chàng nói:
– Anh Nguyễn tấn Vinh đi theo tôi về trại.
Lo lắng là không biết lại tai ương gì nữa đây, chuyển trại hay biệt giam …Vinh mệt mỏi lê bước theo tên cán bộ giữa những cặp mắt lo âu của bạn bè. Tới nơi tên này mở cửa văn phòng quản giáo trại thì Vinh sửng sốt kinh ngạc nhưng cố đè nén để khỏi bật thành tiếng kêu là vì trước mắt Vinh là tên quản giáo Thượng Úy Tư Đồn đang ngồi khúm núm trước một nữ bộ đội.…và Trời ơi! người đó chính là Thanh Nguyên, người đẹp ngày xưa đã một thời dạy cho chàng bài học tương tư. Mặc dù đang bàng hoàng kinh ngạc nhưng Vinh vẫn còn nghe được giọng nói nhỏ nhẹ của tên cán bộ trực trại trình báo Thanh Nguyên:
– Thưa đồng chí Đại Tá, đây là anh Nguyễn tấn Vinh.
rồi quay bước ra ngoài. Tên Tư Đồn nhìn Vinh rồi nghiêm giọng:
– Anh Vinh, hôm nay đồng chí Sáu Nguyên là Giám Đốc sở Công An thành phố Hồ Chí Minh ra tận đây để làm việc với anh.
Vinh cúi đầu chào Thanh Nguyên trong quân phục bộ đội nhưng vẫn còn nét đẹp mê hồn của hơn 7 năm về trước. Trong phút chốc, nhất là qua ánh mắt của nàng, chàng linh cảm nàng đến đây là một điều có lợi cho chàng nên thấy phần nào an tâm hơn.
Đồng chí Sáu Nguyên từ tốn nói:
– Anh Vinh, qua điều tra, tôi được biết là ngày xưa khi anh còn tại chức ở Vĩnh Bình, anh và tên tỉnh trưởng Hoàng văn Kiểm đã xung đột trầm trọng trong vụ lùa dân xây núi Thiên Ân ngoài đầu vàm Trà Vinh để ngăn chặn sự xâm nhập của Cách Mạng. Tôi muốn biết thêm nhiều chi tiết về vụ nầy để triển khai thêm tội ác của tên Kiểm nên sẽ chuyển anh về thành phố để tiện việc điều tra. Vậy anh có một tiếng đồng hồ để chuẩn bị đi với tôi.
(Đến đây tưởng cũng mở thêm dấu ngoặc về vụ núi Thiên Ân, thực ra ngày xưa , tên Hoàng văn Kiểm có bày đặt vụ tập trung nhân lực toàn tỉnh xây núi Thiên Ân ngay tại vàm Vĩnh Bình nói là để chận đường Việt Cộng. Vinh phản đối không phải vì chàng có “tinh thần giác ngộ cách mạng” mà là vì tên Kiểm lợi dụng việc nầy để tham nhũng bằng cách thâu tiền của đồng bào giàu có thương gia nào không muốn làm sâu kiểu dân công)
Sáu Nguyên vừa dứt lời thì tên quản giáo Tư Đồn vuốt đuôi theo:
– Đồng chí Giám Đốc đã nói vậy thì anh sắp xếp hết đồ đạc để về thành phố.
Vinh chào từ giã hai người với bộ mặt ra chiều bối rối rồi hối hả về láng để “dọn nhà” trong tâm trạng hân hoan vui mừng vì chàng tin tưởng rằng quới nhơn Thanh Nguyên hôm nay đã đến để mang điều lành cho chàng. Cũng may là trong láng lúc đó chẳng có ai bằng không thì bạn bè phải ngờ vực “ cái thằng bị chuyển trại mà sao hí hửng thế kia!”
Lối hơn nửa tiếng đồng hồ sau, Vinh ôm một gói đồ hành trang gia sản của người tù theo đồng chí 6 Nguyên ra chiếc xe du lịch Falcon đen đậu trước cổng trại trước những cặp mắt tò mò của những trại viên công tác nhà bếp, an ninh và những bệnh nhân miễn lao động.
Lên xe, đồng chí 6 Nguyên ngồi đàng trước với tài xế, còn Vinh ngồi sau với người bộ đội mà chàng đoán là cận vệ. Cả hai trông rất trẻ chắc là dân nghĩa vụ quân sự. Xe ra khỏi cổng một khoảng đường là Thanh Nguyên hối tài xế chạy nhanh trên con đường mòn gập ghềnh khúc khuỷu trước khi ra lộ lớn. Ngay lúc đó nàng quay lại sau bảo Vinh với giọng nhẹ nhàng:
– Anh Vinh, chắc anh cũng đoán biết được mọi chuyện rồi. Nhưng để cho an toàn vì đường từ đây về Sài Gòn còn xa lắm và có nhiều trạm kiểm soát, vậy anh lúc nào cũng giữ thân phận tù nhân, tuyệt đối im lặng còn mọi chuyện khác để em và hai đứa cháu đây lo liệu.
Nghe lại tiếng nói của dịu dàng của người xưa báo tin lành, lòng Vinh thấy nhẹ nhàng thoải mái của một người thoát củi sổ lồng, và cái cảm giác lâng lâng rung động tại văn phòng chàng ngày nào đó lại hiện về. Chàng nhìn nàng với ánh mặt vừa vui mừng vừa biết ơn.
Sau hai ngày đường trường thiên lý, xe về tới Sài Gòn, Thanh Nguyên đưa Vinh về nhà nàng là một biệt thự trên đường Yên Đỗ nghe nói trước đây là của một viên chức cao cấp trong chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Nghỉ ngơi một lúc, Thanh Nguyên bắt đầu kể chuyện đời nàng từ lúc tìm gặp Vinh ở Vĩnh Bình cho tới nay. Thực ra, ngay từ lúc đó, nàng đã có một đứa con gái 2 tuổi và chồng là giáo sư Trung Học, và cả hai vợ chồng nàng đều là cán bộ Mặt Trận nằm vùng công tác nội thành. Cha nàng cũng là một cán bộ xã ủy Song Lộc Trà Vinh. Như vậy lúc Thanh Nguyên tới tìm Vinh để xin giúp đở, nàng thật sự đã đứng bên chiến tuyến kẻ thù. Nghe tới đây, lương tâm Vinh dấy lên nỗi dày vò cắn rứt. Trời ơi! Như vậy chàng đã vô tình giúp kẻ thù, nối giáo cho giặc và vô hình chung phản bội lại quốc gia dân tộc mà đó cũng là một đóng góp dủ nhỏ nhoi để kiến cho cả miền Nam thân yêu sụp đổ. Trong khi Vinh đang hối hận lỗi lầm xưa thì Thanh Nguyên tiếp tục tâm sự là trước hành động nhân bản rộng lượng (hay là vì mê gái)mà Vinh thả cha nàng, nàng thấy rất cảm kích xúc động nếu không muốn nói là yêu Vinh vì lúc đó tình cảm giữa nàng và chồng không có gì cả ngoài tình đồng chí cán bộ công tác cùng nhau. Đó chỉ là tình yêu tính toán thường tình của con người đảng viên Cộng Sản. Để rồi khi gặp Vinh với ánh mắt yêu đương, cử chỉ tình tứ nồng nàn, phong cách phóng khoáng của con người quốc gia và thêm cái ơn cứu cha, Thanh Nguyên thấy lòng mình xao xuyến rung động nhưng khi nhớ lại là chàng và nàng đều có gia đình con cái với bao trách nhiệm ràng buộc và nhất là hai người đứng hai chiến tuyến khác nhau nên nàng đành phải giã từ Vinh trong đau đớn ngậm ngùi. Đấy! Khi yêu thì người đàn bà còn lý trí hơn đàn ông nhiều lắm.
Dòng đời tiếp tục lạnh lùng trôi trong lãng quên. Cũng có lúc Thanh Nguyên nhớ Vinh nhiều lắm nhưng định mệnh đã đặt hai người trên hai lối đi khác nhau thì đành chịu vậy. Thôi xin hẹn kiếp sau nhé Vinh nếu đời người có kiếp luân hồi.
Một thời gian sau, tổ công tác nội thành của chồng nàng bị bể nên anh ta phải trốn ra khu, còn nàng ở lại bị chính quyền điều tra rất phiền toái lôi thôi nhưng nhờ không có đủ bằng chứng nên nàng chưa bị bắt. Tới ngày 30 tháng 4, chồng nàng trở về trong đoàn quân chiến thắng với quân hàm Đại Tá còn nàng được mang cấp bậc Trung Tá và để bù đắp lại cho thành quả đóng góp cho cách mạng cũng như những hiểm nguy gian khổ mà hai vợ chồng gánh chịu trong suốt thời gian hoạt động, chồng nàng được thăng cấp thiếu tướng và chỉ định giữ chức vụ Giám Đốc Sở Công An Thành Phố còn nàng thăng cấp Đại Tá và làm phụ tá. Tới năm 1979 , chồng nàng qua đời sau cơn bạo bệnh và nàng được bố trí lên thay thế nhờ cả một quá trình công tác đấu tranh cách mạng.
Từ sau cuộc đổi đời oan nghiệt năm 1975 , Thanh Nguyên cố tìm tông tích Vinh nhưng chàng như bóng chim tăm cá. Hỏi lại những người Vĩnh Bình xưa thì họ nói chàng đổi đi Phan Thiết từ năm 1973. Không nản chí nàng tiếp tục tìm tin tức chàng ở tận Phan Thiết thì được biết là chàng đã di tản vào Sài Gòn ngay sau khi Phan Thiết thất thủ. Như vậy là đành bó tay. Thanh Nguyên cầu mong chàng đi được với gia đình ra ngoại quốc trong ngày 30 tháng 4, hi vọng là như vậy nhưng biết đâu chàng đang đọa đày lao khổ trong trại cải tạo. Nghĩ đến đây lòng Thanh Nguyên oặn đau nhưng nàng không dám dò hỏi nhiều vì sợ chồng phát giác mãi cho tới khi chồng chết và nàng lên thay thế, Thanh Nguyên mới phăng rõ ngọn nguồn từ Bộ Nội Vụ thì may mắn thay, nàng biết được Vinh đang ở trại học tập Phú Sơn. Thanh Nguyên cũng được biết do bà con nàng ở Vĩnh Bình nói là sau khi thả cha nàng ít lâu sau, Vinh bị tên tỉnh trưởng Hoàng văn Kiểm trù dập (vì chàng phản đối vụ hắn ta xây núi Thiên Ân ) tới độ bị đổi đi ra Phan Thiết. Sau mấy ngày suy nghĩ và cũng tìm biết tên Kiểm đang giam ở trại Hà Nam Ninh, Thanh Nguyên bèn lợi dụng sự sơ hở, vô tổ chức và thiếu thông đạt giữa các cấp chính quyền Cộng Sản, nàng liền làm một lệnh giải giao “tên” ác ôn Nguyễn tấn Vinh về thành phố để giúp công việc điều tra về tên ác ôn khác là tên Kiểm nặng ký hơn. Và kết quả hành động liều lĩnh đánh tapis của nàng là Vinh được tự do và đang ngồi trước mặt nàng đây. Thanh Nguyên nói tiếp:
– Vấn đề tạm thời là bây giờ anh ở đây với em, nhà nầy chỉ có em với đứa con gái em nay đã 10 tuổi. Vì sự an toàn cho anh và cho ngay cả em, xin anh hãy cố tự giam mình trong ngôi biệt thự này. Nay mai em sẽ tìm cách liên lạc với vợ con anh để báo tin anh đã về nhưng vì lý do bảo mật an toàn, anh và chị phải tránh tiếp xúc nhau để em còn lo điều quan trọng nhất là sẽ tìm đường dây cho cả gia đình anh vượt biên. Em tính như vậy, anh thấy được không anh?
Từ nãy giờ Vinh ngồi lặng yên nghe Thanh Nguyên kể hết sự tình cũng như cách tính toán qui củ mạch lạc của nàng kiến chàng đi từ ngạc nhiên nầy đến ngạc nhiên khác. Chàng thấy lòng mình nao nao xúc động khi thấy nàng thực sự lo lắng cho mình quá nhiều, nhất là nhìn gương mặt kiều diễm của người con gái một thời làm chàng say mê mơ tưởng, Vinh có cảm giác lênh đênh bềnh bồng như nhắp phải men say dịu dàng thơm ngát. Sau giây phút chìm đắm vào không gian chìm lắng trong hương tình rào rạt, chàng run run nói với Thanh Nguyên:
– Ơn cứu tử của em, anh không biết kiếp nào đền trả. Em đã bất kể những hiểm nguy lo cho anh ra tù mà còn dự tính cả tương lai tươi sáng cho gia đình anh. Anh chỉ xin kết cỏ ngậm vành mà thôi. Thân anh bây giờ như cá chậu chim lồng, được em thương mà tính như vậy thì thật là không có gì quý hơn.
Thanh Nguyên dịu dàng trả lời chàng:
– Anh đừng có bận tâm gì hết. Vậy chớ ngày xưa, anh cứu mạng ba em thì sao?
Hai hôm sau, Thanh Nguyên đi làm về trao cho Vinh lá thơ của Huyền, Vinh mừng rỡ vội mở ra đọc ngay:

Anh yêu,
Hồi nãy, cô Thanh Nguyên có đến báo cho em hay anh đã được về. Trời ơi! Em vui mừng như chết đi sống lại vậy. Mấy đứa nhỏ cũng nhảy dựng lên trong nỗi hân hoan trước tin cha về. Không ngờ trên đời nầy vẫn còn có chuyện giấc mơ thành sự thực. Đó là chuyện em vì quá lo buồn cho anh rồi cứ mơ ước viễn vông là một ngày nào đó anh sẽ về. Vậy mà ngày đó đã thực sự đến. Mắt em đang nhòa lệ vì sung sướng. Anh ơi! Cô Thanh Nguyên còn hứa sẽ đưa cả vợ chồng mình và ba con vượt biên. Quả là phúc đức ông bà để lại nên mình mới gặp được thiên thần hộ mệnh là cô Thanh Nguyên. Cô cũng nói với em là anh hiện đang ở nhà cô để được an toàn và vợ chồng mình không nên gặp nhau cho tới ngày đi. Em và các con vẫn khoẻ và vô cùng hạnh phúc với ý nghĩ sẽ đoàn tụ cùng anh sau hơn 4 năm trời xa cách. Vậy anh hãy yên tâm tịnh dưỡng mà chờ ngày sum họp gia đình và đi tới một chân trời tự do hạnh phúc nghe anh!
Em và các con luôn thương nhớ anh.

Đọc xong thư Huyền, Vinh bồi hồi xúc động và thương cảm người vợ lúc nào cũng hi sinh và lo lắng cho chồng. Chàng mong mỏi Thanh Nguyên sớm tìm ra tổ chức vượt biên để chàng đưa vợ con tới bến bờ tự do mà ở đó cả tương lai rạng ngời đang chờ đón các con chàng. Nhưng ngay sau đó, tim chàng lại oặn đau khi nhớ đến lúc…phải xa Thanh Nguyên biết chàng có chịu nổi không!!! Khi yêu thì nó khổ đau mâu thuẫn như thế đó.
Kể từ ngày rước Vinh về, thì mỗi ngày, Thanh Nguyên đi làm như thường lệ, Phượng Nguyên đứa con gái nàng đi học thì Vinh ở nhà làm ông nội trợ. Mặc dầu nàng bảo sẽ lấy cơm tháng cho 3 người nhưng Vinh rất sợ ở không nên tình nguyện nấu ăn cho mẹ con nàng để giết thời giờ và hơn nữa chàng cũng muốn chứng tỏ mình không phải là kẻ vô tích sự.
Nhà có 3 phòng ngủ , sao mà nó đúng với kích thước gia đình nầy quá! Nó vừa đủ cho Thanh Nguyên, Phượng Nguyên và chàng mỗi người một phòng. Nếu trước đây, mỗi đêm Thanh Nguyên phải kèm bài vở cho con gái thì bây giờ nàng giao công việc gia sư đó cho Vinh để còn rảnh rang theo dõi diễn tiến việc vượt biên sắp tới cho chàng.

4) Tình đã thăng hoa:

Ông bà mình thường nói rằng “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Nhất là ở trường hợp này, ngọn lửa Thanh Nguyên tỏa ánh hào quang rực trời thì đốt cháy cả lâu đài thành quách cũng còn được chớ nói gì đến cộng rơm Nguyễn tấn Vinh. Thử hỏi gái góa chồng, trai đi cải tạo hơn 4 năm trời ở chung một nhà vắng vẻ và hơn thế nữa trong cái thế “ tình trong như đã mặt ngoài còn e” từ bấy lâu của Thanh Nguyên và Vinh thì có khác nào lò thuốc súng đang âm ỉ chực chờ ngày bùng nổ. Và cái ngày đó đã đến.
Một đêm sau khi Vinh dạy kèm Phượng Nguyên và đưa cháu đi ngủ thì cũng vừa lúc Thanh Nguyên tắm xong đang ngồi trên sofa sấy tóc vừa xem TV ở phòng khách.
Em ngồi sấy tóc mây đen mượt
Thổi những sợi tình vô mắt anh
Nhìn mái tóc thề mượt mà bay nhè nhẹ dưới chiếc sấy tóc, Vinh bỗng bồi hồi nhớ lại gần gặp gỡ đầu tiên, người đẹp cũng với mái tóc dài óng ả nầy tưởng đã trói chặt hồn mình vào cuộc tình vô định, lòng Vinh tràn ngập cảm xúc và trong một thoáng nào đó, chàng thấy mềm lòng và ngồi xuống cạnh nàng thì thầm:
– Em để anh sấy tóc cho em
Thanh Nguyên thối thoát một cách yếu ớt:
– Thôi! anh không biết làm rồi cháy tóc em hết bây giờ
Vinh cương quyết :
– Có gì mà hổng biết em.
Rồi chàng cầm lấy máy sấy từ tay Thanh Nguyên và nhẹ nhàng lướt phớt trên tóc nàng. Không hiểu ngày xưa khi Huy Cận ru người yêu ngủ:
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây
thì nhà thơ rung động như thế nào chớ bây giờ ngồi sát bên người yêu với những va chạm thân thể nồng ấm và mùi hương thiếu phụ đang xuân thoang thoảng nhẹ nhàng quyến rũ từ người đẹp làm cho Vinh rung rẩy tay chân và qua ánh mắt Thanh Nguyên, chàng cũng cảm nhận được rằng nàng cũng đang xao xuyến rung động. Không dằn nỗi cơn sóng tình, Vinh quăng cái sấy tóc tội nghiệp qua một bên và quên luôn cả đất trời với vợ hiền con dại để vòng tay ôm Thanh Nguyên thật chặt và cuối xuống hôn trọn môi nàng. Thanh Nguyên cũng đồng tình khép hờ đôi mắt và hé bờ môi hàm tiếu đón nhận nụ hôn cuồng nhiệt của người tình. Sau một đợt hôn dài đê mê, hai người buông nhau ra mà thở hổn hển. Thanh Nguyên trách yêu Vinh:
– Làm gì mà dữ vậy. Em còn đây chớ có biến mất đâu. Làm em muốn ngộp thở luôn.
Vinh chống chế:
– Em thông cảm cho anh. Tình yêu em tích tụ cả 7,8 năm nay nên nó mãnh liệt như vậy đó chứ!
Nói xong, chàng liền xáp lại ôm nàng nữa và lần tay xuống dưới chiếc áo ngủ mong manh của nàng để cảm nhận được cả vùng ngực căng tròn. Thanh Nguyên nói nhỏ như một lời mời gọi ngọt ngào:
– Đi vào phòng ngủ em đi anh. Ở đây rủi con nó thức giấc thì kỳ lắm.
Vinh náo nức đứng lên dìu nàng vào chốn Thiên Thai. Dưới ánh đèn lung linh mờ ảo, chàng thấy Thanh Nguyên đẹp hơn bao giờ hết với ánh mắt ngây dại trên khuôn mặt e ấp đỏ hồng. Rồi một lúc sau đó, một thân hình diễm tuyệt của nàng gói trọn trong vòng tay cuồng nhiệt của Vinh, cả hai thân thể rực lửa quyện lấy nhau và hai người như chìm vào cõi mộng Thiên Thai ngây ngất quên cả đất trời với những hơi thở dồn dập.

—————————————————

Sau phút giây ân ái tuyệt vời, Thanh Nguyên nằm gối đầu lên cánh tay người yêu thì thầm:
– Mình tội lỗi quá anh ạ! Từ lâu, em thực ra cũng muốn đền đáp món nợ ân tình lớn lao ngày xưa lúc anh thả ba em ra nhưng không có cơ hội. Còn bây giờ thì anh cũng đã gần ra đi rồi nên em lấy làm hạnh phúc mà dâng hiến cho anh như một đền đáp ân tình và cũng vì em rất yêu anh. Nhưng thân phận chúng mình như bình thủy tương phùng, bèo mây hạnh ngộ rồi biết tới chừng nào mình gặp lại nhau nữa đây. Thôi thì hãy vui nhau trong những giây phút cuối cùng phù du này như một kỷ niệm đẹp cho hai đứa. Em đành phải đắc tội với chị Huyền và mấy cháu vậy.
Vinh âu yếm vuốt ve làn da ngọc ngà của nàng trong vòng tay nóng rực lửa tình và nói:
– Trước đây anh đã từng thầm yêu trộm nhớ em thì nay sau khi được “đài gương soi thấu dấu bèo” , anh lại càng yêu em điên cuồng hơn. Thanh Nguyên ơi! Em chính là người đàn bà mang đến cho anh những cơn lốc đam mê tuyệt vời bất tận. Anh mong thời gian chúng ta bên nhau sẽ kéo dài theo nhịp thở đồng điệu của hai đứa.
Kể từ :
Cái đêm hôm ấy đêm gì
Bóng gương lồng bóng trà mi chập chùng
Vinh qua ngủ luôn trong phòng của Thanh Nguyên luôn, cả hai mặc nhiên xem như đôi vợ chồng son đang ngụp lặn trong hạnh phúc triền miên, tạm quên những trái ngang hệ lụy đang chờ đón họ.
Cho đến một hôm, vào ngày thứ sáu, Thanh Nguyên bất ngờ chạy về nhà rồi trong dáng điệu hớt hải buồn rầu báo tin cho Vinh hay:
– Anh ơi! Thứ bảy tuần tới nầy anh đi rồi. Tiền bạc chi phí cho nguyên gia đình anh, em trả trước phân nửa. Tới đảo rồi anh cần viết ít chữ cho gia đình chủ tàu gởi về em để xác nhận thì em sẽ trả nốt phần còn lại cho họ.
Nói xong câu “từ biệt” như một bản án khai tử cho cuộc tình đang thăng hoa, đôi mắt long lanh của Thanh Nguyên rơm rớm qua màn lệ mỏng. Vinh bỗng giật mình hốt hoảng rồi nói lớn lên như một phản xạ kinh hoàng:
– Trời ơi! Sao sớm vậy em? Chỉ còn có một tuần nữa thôi à !
Con người có những mâu thuẫn tự chính mình một cách lạ kỳ. Nếu trước đây, cả hai người đều mong chuyến đi được nhanh chóng. Với Thanh Nguyên thì để cho người yêu được sớm an toàn thoát khỏi những hiểm nguy ngục tù đang chờ đón, còn với Vinh thì đưa vợ con tới chốn an bình tự do với tương lai sáng lạn. Thế mà nay, tin vui đã đến thì cũng chính cả hai lại ruột thắt gan bào trong nỗi đau khôn cùng vì họ sắp chia tay để có thể cả đời không gặp lại nhau. Tình yêu nó khốn khổ đọa đày đến thế kia vậy mà thiên hạ ai cũng “ thèm yêu” hết.
Sau cơn “ sốc” ban đầu, Vinh và Thanh Nguyên lại lao đầu vào cuộc chơi một cách cuồng nhiệt vội vả như để tận dụng những giây phút phù du cuối cùng còn sót lại của một cuộc tình không tới. Thanh Nguyên xin nghỉ nguyên tuần lễ đó để được gần gủi cận kề bên người yêu trước khi xa cách ngàn trùng??? Tuy không nói nhưng cả hai người đều biết phải tận dụng thì giờ vàng ngọc còn có nhau.
Nàng nghẹn ngào nói nới Vinh:
– Anh ơi ! Trên đời em sợ nhất là chữ cuối cùng vì nó là biểu tượng cho một sự phân ly tan tác, hay hơn nữa là một sự mất mác đớn đau. Thế mà bây giờ em sắp phải trực diện với nó đây. Làm sao em chịu nỗi anh ơi!
Vinh thờ thẩn vuốt mái tóc óng mượt của nàng vừa thì thầm:
– Không có cuối cùng chia cách đâu em ơi! Sang bên đó anh sẽ cố tìm mọi cách để liên lạc với em mà.
Những ngày còn lại quý báu bên nhau rồi cũng qua mau, những mảng hạnh phúc sót lại rồi cũng phải tan theo khói sương của một cuộc tình tức tửi. Sáng ngày G thứ bảy đã đến.. Trên đời nầy có cảnh biệt ly nào không mang đến bao đau thương nước mắt. Nhưng giây phút chia tay của Thanh Nguyên và Vinh lại càng não nề tang thương hơn vì cả hai đều biết rằng với tương quan chính trị quốc tế của chế độ khép kín hiện nay thì có thể hai người sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau. Lại càng đau đớn hơn sau khi chàng và nàng vừa trải qua những ngày ân ái mặn nồng đắm đuối để rồi phải đánh mất tất cả. Đây chắc là một chuyến ra đi để ngàn đời xa nhau. Ngay chính Phượng Nguyên cũng mủi lòng trước cảnh chia tay. Nó ôm Vinh mếu máo nói:
– Cậu đi bỏ mẹ con con sao cậu ? Rồi ai dạy dỗ con học hành. Cậu không còn săn sóc thương yêu con nữa sao?
Vinh cũng không cầm được nước mắt cầm tay Phượng Nguyên mà hứa chắc rằng:
– Thế nào rồi cậu cũng sẽ liên lạc với mẹ và con mà.
Rồi chàng ôm chặt Thanh Nguyên với nụ hôn vĩnh biệt tiếp theo tiếng thì thầm của Thanh Nguyên:
– Thôi anh đi. Em nguyện cầu anh đến nơi bình an. Đừng bao giờ quên suốt đời em vẫn yêu anh.

5) Một cuộc sống mới:

Để lên đường an toàn, Thanh Nguyên cho đứa cháu tài xế lấy xe của sở Công An thành phố đưa vợ chồng Vinh xuống tận Rạch Giá ngay trong chiều hôm đó để kịp chuyến ra đi trong đêm. Nhờ sự sắp xếp khéo léo của chủ tàu và cũng nhờ vào may mắn, con tàu vượt biên tới thẳng đảo Pulau Bidong sau 4 ngày thủy trình trên biển cả. Sau khi tạm ổn định cuộc sống trên đảo, Vinh hỏi những người đi trước cách thức liên lạc về Việt Nam để thư cho Thanh Nguyên thì được biết là bưu tín trên đảo không nhận thư gởi Việt Nam. Chàng liền kiếm chủ tàu nhờ họ qua bà con ở Canada gởi lá thư có chữ ký chàng xác nhận đã đến nơi cho Thanh Nguyên chồng hết số tiền còn lại. Như vậy là chàng đành chịu không liên lạc được với Thanh Nguyên cho tới khi đinh cư. Ở đảo 3 tháng sau là gia đình Vinh có danh sách đi Canada và tháng 9 năm 1980, họ tới Toronto để bắt đầu một cuộc sống mới.
Đầu tiên chàng cùng vợ con tới sở Nhân Lực (Man Power) để làm các thủ tục thường trú và thẻ an sinh xã hội, nhân viên tham vấn thấy record background của Vinh nên liền gởi chàng vào làm Human Resources Office của một hãng lớn chuyên về Airlines Catering. Huyền theo học một khóa 6 tháng Anh Văn ESL, còn ba con của chàng đi học tại một trường gần nhà. Sau khi Huyền mãn khóa học, nàng thi lại lấy bằng dược sĩ rồi mở một nhà thuốc tây lúc đầu còn lưa thưa khách nhưng càng ngày cộng đồng Việt Nam càng phát triển nên công việc làm ăn trở nên phát đạt . Riêng Vinh thì làm hãng lớn nên được lương khá và có benefit đầy đủ, hơn nữa vị manager Human Resources thấy khả năng quản trị điều hành tổ chức của chàng nên cất nhắc chàng lên vị trí phụ tá. Từ đó vợ chồng chàng mới thấy cuộc đời mới được ổn định mà yên tâm nuôi dưỡng con cái học hành.
Mặc dù rất bận rộn bước đầu, Vinh vẫn thấy nhớ thương Thanh Nguyên da diết. Nhất là với tâm trạng “ăn quen nhịn không quen”, chàng cứ hình dung lại những lần ân ái trong tận cùng hoan lạc với người đẹp mà thấy lòng dâng lên nỗi nhớ nhung khao khát. Giờ đây đã nghìn trùng xa cách rồi, mỗi người một chân trời góc biển, biết đến bao giờ gặp lại nhau. Riêng Huyền thì cũng không bao giờ quên thâm ân của Thanh Nguyên đối với gia đình nàng nên luôn nhắc nhở chồng gởi thư thăm hỏi Thanh Nguyên. Nàng ngay tình chứ nào biết rằng mình “đang nối giáo cho giặc”. Vinh đã sốt sắng ( lẽ dĩ nhiên dại gì mà không sốt sắng) nghe lời vợ mà viết thư tạ ơn mẹ con Thanh Nguyên nhưng có điều là ngoài những lời thăm hỏi thông thường, chàng cũng không quên “đính kèm “ thêm những lời nhớ thương tha thiết người yêu lỡ làng đang cách xa nửa vòng trái đất. Chàng còn cẩn thận dặn Thanh Nguyên “ viết thư cho anh, em hãy khéo léo sợ Huyền nhận thư thì bể mánh hết. Để từ từ anh mượn địa chỉ khác cho mình tự do liên lạc hơn”.
Thư gửi đi xong, chàng đếm từng ngày để mong nhận thư hồi âm của nàng. Với cuộc sống tất bật nên thời gian qua rất mau, thư gởi đi đã gần hai tháng mà vẫn chưa thấy âm hao, chàng nghĩ chắc Bưu Điện Việt Cộng chậm chạp nên rán chờ thêm một tuần…rồi một tuần cho tới trọn tháng nữa mà tin tức người yêu vẫn biền biệt. Chàng bèn than phiền với Huyền là sao tới bây giờ vẫn chưa thấy Thanh Nguyên trả lời. Tội nghiệp vợ chàng lại cứ tiếp tục “ vẽ đường cho hưu chạy” bằng cách thúc giục chồng gởi tiếp lá thư thứ hai cho người ơn mà Huyền có biết đâu cũng là “tình địch” xem sao. Vinh “được lời như cởi tấm lòng” gởi tiếp một lá thư nữa. Tiếp theo là một chuỗi khắc khoải chờ đợi rồi cũng y như số phận lá thư thứ nhất là tin đi không có tin về. Nếu lần trước không được thư hồi âm của Thanh Nguyên, Vinh còn nghĩ là thư từ thất lạc nhưng lần nầy thì chàng thực sự lo lắng đứng ngồi không yên, bao nhiêu câu hỏi cứ lẩn quẩn trong đầu óc rối bời của chàng:
– Đã xảy ra chuyện không hay gì cho mẹ con nàng?
– Hay là nàng muốn hi sinh dứt khoát để chàng yên tâm lo tròn bổn phận với vợ con
…………………..
Cứ mỗi một câu hỏi, chàng tự đặt ra giả thuyết rồi tự đắm mình trong ưu tư sầu khổ với hoang mang. Trong nỗi tuyệt vọng não nề nhưng không bỏ cuộc, chàng viết thêm lá thư thứ ba cho đúng câu “nhất quá tam” luôn và lần này thì thư cũng chẳng khác tráng sĩ Kinh Kha ra đi không hẹn ngày trở lại.
Bấy giờ thì chàng hoàn toàn thất vọng, tâm tư tan nát, thần trí thẩn thờ làm chàng ngã bệnh luôn. Tội nghiệp Huyền tưởng chàng làm việc vất vả và lo lắng tương lai gia đình mà sinh bệnh nên ép chàng đi bác sĩ. Nhưng cũng may là một thời gian sau, Vinh nguôi ngoai nỗi sầu tình. Và lần lần hồi phục để cùng Huyền chung lo xây dựng hạnh phúc gia đình và dạy dỗ 3 con học hành.
Thôi thì mối tình vụn trộm với Thanh Nguyên xem như một kỷ niệm đẹp trong đời hãy cho qua đi và cho vào dĩ vảng:

Cầm bằng như nước đôi dòng lạ
Gặp gỡ nhau rồi xa cách nhau

Nhiều lúc thấy vợ vất vả nhọc nhằn và mấy con ngoan ngoản chăm học cũng như phụ giúp viêc nhà, Vinh thấy lương tâm áy náy vì cuộc tình tội lỗi vừa qua nên định “thành khẩn khai báo” nhưng kịp nghĩ lại nên dẹp ý nghĩ ngông cuồng đó vì “ ngu gì mà lạy ông tôi ở bụi nầy”. Chuyện đã qua rồi cơ mà. Hơn nữa chàng vẫn yêu thương lo lắng cho Huyền và 3 con một cách chu toàn. Thôi thì cứ xem như một phút đam mê thoáng qua trong đời vậy thôi. Giờ thì còn gì đâu nếu có chăng là một chút dư hương của cuộc tình nóng bỏng còn đọng lại như sương khói mong manh.. Vả lại, ông bà mình đã chẳng từng nói là:
Đàn ông năm bảy lá gan
Nửa về với vợ nửa toan cùng người
đó sao? Thôi thì đã lỡ sinh ra giống đa tình cũng đành chịu “trong đê mê ” chứ biết làm sao? Sao mà Vinh “đành chịu” khôn thế! Có một nữ sĩ bạn thơ đã phạng cho Vinh hai câu thơ:
Đa tình cho lắm rồi than khổ
Cũng tại nơi mình chứ tại ai
Thời gian vèo bay như bóng câu, thắm thoát thế mà các con chàng đều đã tốt nghiệp Đại Học và công ăn việc làm đàng hoàng. Đức, con trai đầu lòng là bác sĩ chuyên khoa Tropical Diseases đang làm việc tại bệnh viện Toronto, Diễm đứa con gái thứ nhì chuyên viên computer cho hãng IBM và Thúy con gái út actuary expert cho cơ sở tài chánh KPMG. Nhưng có điều làm chàng lo lắng là trong lúc hai con gái đều đã chồng con đề huề thế mà Đức đã 34 tuổi rồi mà vẫn còn độc thân. Ai cũng bảo chàng rằng con trai mà lo gì nhưng thực ra đâu phải cứ là con trai thì phải lập gia đình trễ đâu. Đàng nầy cậu ta cứ hợp tan tan họp với bao nhiêu cô gái rồi mà chẳng đi đến đâu, có lẽ phần lớn do tính ít nói năng không hoạt bát của cậu. Ngoài ra, Đức có những cái nhìn và sự suy nghĩ về cuộc đời rất đặc biệt chẳng hạn như nghề nghiệp của cậu ta, ai đời thuở nào ở ngay cái xứ văn minh tiến bộ Canada mà cậu đi học chuyên môn về ngành tropical diseases là bệnh chỉ thường thấy ở mấy xứ chậm tiến thì trị bệnh cho ai đây. Chính vì thế mà cậu chỉ làm ở nhà thương trị bệnh chiếu lệ hằng ngày cho dăm ba người còn thì chú tâm về nghiên cứu mấy cái bệnh thường xảy ra ở xứ nghèo đói. Vợ chồng Vinh hỏi tại sao học cái ngành “ác ôn côn đồ giải phóng miền Nam” nầy thì cậu trả lời gọn ơ:
– Trước hết quan niệm sống của con là không cần nhiều tiền để phải học chuyên môn như cardiologist, radiologist, ophthalmologist…Thứ hai là tại các nước nghèo đói con người dễ sinh bệnh tật mà lại thiếu bác sĩ chuyên môn. Con muốn giúp những người đó vì họ rất cần bàn tay y sĩ.
Nghe cậu nói vậy thì vợ chồng Vinh phải chịu thua chứ làm sao cãi lại tinh thần “ lương y như từ mẫu” của cậu ta được.
Thời gian vẫn trôi nhanh trong cuộc sống êm đềm của gia đình Vinh. Một hôm Đức đi làm về nói có chuyện quan trọng muốn thưa với vợ chồng Vinh. Vinh Huyền theo chân cậu ta vào phòng khách với hy vọng là đó là tin cậu phải lòng cô nào. Sau khi mọi người an tọa, Đức chậm rãi thưa:
– Đã từ lâu, con muốn về Việt Nam để giúp trị bệnh cho đồng bào mình vốn khốn khổ từ sau 75 nhưng vì bên đó thiếu thốn mọi phương tiện y học nên con còn chần chừ. Hôm nay có bệnh viện của Đức ở Sài Gòn mới thành lập, họ đang cần bác sĩ. Con muốn xin ba mẹ cho con qua bên ấy để thực hiện hoài bảo mình là đem khả năng và kinh nghiệm chuyên môn để phục vụ đồng bào. Nếu ba mẹ cho phép con sẽ apply thì trong vòng một tháng đi liền vì bên ấy họ cần gấp. Lương rất cao so với giá sinh hoạt Việt Nam, nhưng điều đó không quan trọng. Điều chính yếu là con có cơ hội giúp đở đồng bào mình cũng như phát triển nghề nghiệp.
Xong cậu ta còn nói đùa bằng cách chơi chữ là:
– Con tên Đức thì làm việc cho bệnh viện Đức là đúng quá rồi.
Huyền nghe xong phản đối liền vì nàng lo buồn phải xa con và sợ con ở một mình bên Việt Nam rồi không ai lo miếng ăn giấc ngủ, nắng gió trở trời nhất là môi trường tệ hại. Riêng Vinh thì thực tế hơn vì chàng biết rõ cá tính của con trai mình, cậu ta đã quyết định rồi mới thưa sau với vợ chồng chàng, có ngăn cản cũng đâu có được.
Thế là một tháng sau, Đức từ giã cha mẹ, các em cháu để lên đường sang Việt Nam “cứu nhân độ thế” theo tâm niệm của cậu.

6) Mối tình tiền định:

Vì bệnh viện rất cần bác sĩ ngoại quốc- chứ không phải bác sĩ quốc doanh-nên Đức với tư cách là một bác sĩ chuyên khoa tốt nghiệp tại Canada- được nhiều ưu đãi, đã lương cao cộng thêm phụ cấp nhà cửa xe cộ và luôn cả tài xế. Cậu làm việc với tất cả lương tâm nhiệt tình lại hòa mình cởi mở nên được mọi người từ ban giám đốc, nhân viên, bệnh nhân thảy đều quý mến. Ngoài ra, cậu nói tiếng Việt khá rành nên sự thông đạt với những người chung quanh cũng dễ dàng. Những lúc rỗi rảnh, cậu thường phone về Toronto để nói chuyện và thăm hỏi ba mẹ và các em cháu. Tội nghiệp Huyền nóng ruột con trai cưng nên cứ hỏi cậu ăn ngủ được không? Làm việc cực không? Có quen khí hậu Việt Nam không? Nàng yêu cầu con cứ 5,3 tháng bay về thăm nhà cho nàng đỡ nhớ. Nhưng cậu con say mê công việc nên gần cả năm mà chưa về một lần.
Tại bệnh viện, có một cô trưởng phòng kế toán tên Thủy thiệt là đẹp và duyên dáng, cô cũng rất vui vẻ hiền hòa nên thu phục cảm tình nhiều người trong đó có Đức. Thủy tốt nghiệp đại học Kinh tế Tài chánh và Anh văn nên được thu dụng ngay vào bệnh viện.
Nếu ngày xưa ở Toronto, Đức ít nói bao nhiêu thì bây giờ cậu hoạt bát mau mắn bấy nhiêu nhất là đối với cô trưởng phòng kế toán xinh đẹp. Riêng về Thủy thì xem ra cô cũng quý chàng bác sĩ vừa phúc hậu lại vừa goodlooking. Có một điều cô không ngờ là chính cô là người đã làm cho một người mà ngày xưa rất hà tiện lời ăn tiếng nói là Đức mà bây giờ lại chịu khó mở miệng. Theo thời gian, mối giao hảo của hai người đã đến độ “tình trong như đã mặt ngoài còn hoa lá cành trăng lên lều vải” chút chút vậy thôi.
Có một lần, hệ thống computer nhà thương bị down hơi lâu nên lương tháng của tất cả nhân viên chậm trễ. Đây là trở ngại kỹ thuật chung chứ có gì quan trọng lắm đâu mà cô trưởng phòng chận bác sĩ Đức lại để thanh minh thanh nga:
– Em xin lỗi bác sĩ vì computer hư nên lương tháng nầy của bác sĩ hơi chậm trễ nha. Bác sĩ thông cảm giùm nha!.
Nghe giọng nói ngọt như mật “ nha!nha!” của người đẹp, Đức thấy lòng xao xuyến rung động, cậu cười tủm tỉm đáp:
– Trước hết tôi xin Thủy cho tôi “mua đứt” hai tiếng bác sĩ đi vì nó nghe xa cách quá đối với hai người cùng làm chung cơ quan với nhau. Thứ nữa, Thủy đừng bận tâm vì phát lương trễ, thực ra Thủy giữ luôn cũng được cơ mà.
“Thủy giữ luôn cũng được cơ mà” Thủy vừa ngạc nhiên vừa bồi hồi sung sướng thấy ông bác sĩ nhìn mình cười cười rồi nói một câu sao mà giống thả trái balloon ái tình quá vậy nên nàng cũng vui vẻ trêu lại Đức:
– Em không thèm giữ một tháng lương của bác sĩ đâu. Em chỉ muốn giữ lương cả đời luôn.
Sự thể đến đây thì Đức không còn đường tháo lui mà phải đánh tapis luôn và đổi cách xưng hô liền:
– Nếu Thủy muốn giữ lương của anh suốt đời thì xin nhốt cả trái tim anh luôn đi Thủy.
Thủy cũng lên tông ngay:
– Biết anh có thực sự muốn cho em giữ trái tim anh hôn?
Vị bác sĩ trẻ chụp ngay cơ hội bằng vàng:
– Nếu được em bằng lòng giữ chặt tim anh thì đó là diễm phúc cả đời anh vậy.
Đó! Tình yêu hai người khởi sự như thế đó. Lúc bấy giờ, Đức đã 35 tuổi còn Thủy mới 25 xuân xanh. Kể từ hôm đó, bệnh viện Đức quốc có hai tâm hồn cùng một nhịp đập trong hạnh phúc tuyệt vời. Riêng Đức thì chưa bao giờ cậu thấy quyết định về Việt Nam phục vụ thật tốt đẹp cho bằng lúc nầy. Giá mà trước đây, cậu nghe lời mẹ ở lại Canada thì thiệt là uổng phí hết đời trai và mất cả một cơ hội tuyệt vời như vậy.
Kể ra thì Đức cũng tốt số lắm vì trước đó có rất nhiều vương tôn công tử đỏ vây quanh tán tỉnh Thủy, nhiều chàng hỏi xin cưới nàng với của hồi môn hàng triệu mỹ kim tham nhũng của ông cha còn cộng thêm lời hứa sẽ mang nàng đi sống tại các quốc gia Âu Mỹ bằng thế lực đảng viên cao cấp, nhưng nàng thẳng thắn từ chối vì nàng thực sự không thể có mối cảm tình- chứ đừng nói tới yêu – cái đám người trẻ tuổi loại công tử đỏ ngu dốt, du thủ du thực thiếu nhân cách chỉ biết dựa thế đại gia của cha ông gian ác cửa quyền để hống hách và phá của. Nhưng kể từ khi gặp Đức rồi thấy tâm lòng vị tha hy sinh cũng như tư cách đứng đắn phúc hậu của chàng, Thủy cảm nhận ngay chàng chính là con người lý tưởng mà nàng đã từ lâu mơ ước. Riêng phần Đức tuy đã giao du với bao nhiêu cô gái xinh đẹp trí thức ở Toronto nhưng chưa có cô nào hòa hợp được tính tình bình dị chân thật và nhất là lòng yêu thương nhân loại bao la của chàng cho tới lúc gặp Thủy thì chàng tin rằng Trời Phật đã mang nàng đến cho chàng rồi đây. What a match up!
Gia đình Thủy chỉ có hai chị em, chị nàng có chồng con ở Cần Thơ, ba Thủy mất từ lâu nên chỉ có mình nàng ở với mẹ. Khi vừa mới yêu nhau, Thủy dẫn Đức về nhà thăm mẹ. Đó là người đàn bà tuổi đã ngoài lục tuần nhưng trông vẫn còn xuân sắc và yêu kiều. Thực vậy, ngày xưa với nét đẹp chín muồi của gái hai con, bà đã có nhiều người theo đuổi nhưng bà nhất quyết ở vậy nuôi con.
Sau khi nghe Thủy giải bày là đã có người yêu là một chàng trai ở Canada trí thức khiêm tốn và có lòng nhân, bà đã bảo Thủy dẫn Đức đến gặp bà.
Và không như một số các bà mẹ khác nghe con có người yêu Việt Kiều là tươm tướp gài độ cho dính, trái lại trong lần gặp gỡ đầu tiên, bà đã đã điều tra cặn kẻ thiếu điều như hỏi cung Đức về gốc gác gia đình chàng. Và Đức đã hết sức thành thật khai báo mọi chi tiết. Nghe xong bà có vẻ hơi ngạc nhiên rồi ôn tồn bảo chàng trai:
– Nếu cháu thực sự yêu con Thủy và muốn tính chuyện gia đình với nó thì cháu phải mời anh chị sang đây để nói chuyện với bác.
Được lời như cởi tấc lòng, chàng Đức nhà ta vội hối hả mua vé máy bay gấp về Toronto với lý do chính đáng là để thăm ba mẹ và các em. Nghe tin nầy cả nhà mừng quýnh lên nhất là Huyền lăng xăng chuẩn bị đón rước thằng con trai cưng.
Đức trở về lại home town sau hơn năm trời xa cách trong nỗi vui mừng nghẹn ngào của những người thân yêu. Thiệt đúng là con trai muốn vợ, ngay sau bữa cơm đoàn tụ gia đình, chàng đã vội vàng trình bày thẳng vấn đề với ba mẹ trước mặt mấy đứa em. Chàng xúc động nói:
– Ba mẹ! Hôm nay con về đây trước là thăm ba mẹ với mấy em, sau nữa con có câu chuyện quan trọng muốn thưa cùng ba mẹ.
Huyền nhanh nhẩu trong hồi họp hỏi con trai:
– Chuyện gì vậy con? Vui hay buồn vậy con?
Đức chậm rãi vào đề luôn:
– Theo con nghĩ là chuyện vui. Đó là trong thời gian ở Việt Nam vừa qua, con có thương một người con gái tên Thủy 25 tuổi, cùng làm chung nhà thương với con. Cô ấy xinh đẹp hiền lành nết na và gia thế cũng đàng hoàng. Con muốn cưới Thủy làm vợ thì mẹ cô nói ba mẹ phải qua Việt Nam hỏi cưới đàng hoàng. Con biết ba mẹ từ lâu cũng mong muốn con có gia đình thì dịp đó đã đến. Con xin ba mẹ thương con mà chịu khó về Việt Nam trước là thăm lại quê hương sau nữa lo bề gia thất cho con.
Nghe đến đây cả Vinh lẫn Huyền đều lặng người sửng sốt với hai tâm trạng khác nhau. Vinh thì nửa mừng nửa lo, mừng là con đã có ý nghĩ lập gia đình ổn định cuộc đời còn lo là không biết cô Thủy này có đúng là nề nếp gia phong như lời Đức nói hay không hay là cậu ta vì yêu thương quá đổi rồi sơn son phết vàng, tô lục chuốt hồng thêm cho cô nàng. Còn Huyền thì với bản năng bà mẹ thương con lúc nào cũng muốn gìn giữ con như gà mẹ muốn bảo vệ gà con cả đời nên cảm nghĩ đầu tiên là nàng nghi ngờ cô Thủy nầy muốn đi ngoại quốc nên chài mồi con trai nàng. Cả hai đều thẳng thắn nói ra ý nghĩ mình về “nàng dâu tương lai”. Đức như đoán được ý cha mẹ nên đã chuẩn bị lời ăn tiếng nói sẵn sàng mà trình bày rành mạch về gia đình Thủy nề nếp, kiến thức, tư cách hiền hòa phúc hậu của nàng cũng như nàng đã nhắt quyết từ chối những cơ hội giàu sang phú quý kể cả việc xuất ngoại mà bao người sẵn sàng dâng cho vì họ thuộc những gia đình cán bộ bất nhân và bất lương. Chàng cũng ca ngợi bà mẹ nàng như một biểu tượng người đàn bà tiết hạnh Việt Nam thờ chồng nuôi con.
Riêng Diễm, Thúy hai em gái chàng với quan niệm sống cởi mở hơn nên hai cô tán đồng việc hôn nhân của anh và đề nghị ba mẹ về Việt Nam một chuyến để xem tình hình ra sao.
Với sự thể như vậy và cũng vì lòng thương con, hơn nữa hai vợ chồng Vinh cũng đã về hưu nên thu xếp về Việt Nam một tháng không khó khăn gì.

7) Những chuyện bất ngờ trong mối lương duyên:

Vợ chồng Vinh theo Đức đáp chuyến bay Air Canada tới Sài Gòn. Thủy cùng tài xế của Đức ra đón họ tại sân bay. Nghe Đức nói Thủy đi đón mình, thoạt tiên Vinh và Huyền cứ nghĩ rằng sẽ gặp một cô gái phấn son lòe loẹt ăn mặc tóc tai đợt sóng mới theo kiểu thời trang đua đòi lố bịch ở Sài Gòn bấy giờ nhưng tới chừng gặp Thủy thì cả hai vợ chồng bật ngửa ra vì trước mặt họ là một cô gái trẻ đẹp đoan trang thùy mị nói năng lễ phép dịu dàng và mặc chiếc áo dài màu thiên thanh trang nhã. Những thành kiến lúc ban đầu lần lần tan biến nhất là sau nói chuyện với Thủy, họ càng thấy nàng một mực lễ phép, khôn khéo tế nhị nên từ ác cảm đã đột nhiên trở thành thiện cảm trong lòng vợ chồng Vinh lúc nào không hay. Nói tóm lại, chỉ trong môt buổi gặp gỡ ban đầu, Thủy đã chiếm trọn cảm tình cha mẹ chồng tương lai của mình. Người sung sướng nhất là Đức vì chàng đã cảm nhận mọi việc diễn tiến một cách tốt đẹp. Chàng nhìn người yêu với ánh mắt đầy cảm phục yêu thương.
Nghỉ ngơi tại Sài Gòn một ngày cho tạm quen giờ giấc rồi sau đó phút giây trọng đại đã đến:vợ chồng Vinh tới thăm mẹ của Thủy để tính chuyện hôn nhân.
Nhà Thủy ở đường Tự Đức quận Nhứt Sài Gòn trong khu gia cư sang trọng êm ả. Mẹ Thủy ra tận cổng ngoài đón khách…nhưng khi gặp nhau, Vinh bỗng giật mình biến sắc run run và kinh ngạc mà cho dù nằm mơ chàng cũng không dám mơ như vậy…vì…vì mẹ của Thủy chính là…là…Thanh Nguyên ngày xưa. Hình ảnh yêu kiều của cố nhân mà cho dù đã cách xa 26 năm, chàng cũng không bao giờ quên dù cho thời gian có nhạt nhòa theo năm tháng. Trời ơi! Thanh Nguyên đây sao? Còn Huyền thì cảm thấy người đàn bà nầy sao hơi quen quen, hình như mình đã gặp ở đâu rồi. Riêng mẹ Thủy thì không hiểu bà có cảm giác gì hay không mà thấy bà cười cười tỉnh bơ vui vẻ mời khách vào nhà.
Sau khi hối Thủy mang trà nước ra cho khách, mẹ Thủy bảo nàng và Đức ra vườn nhà sau chơi để người lớn nói chuyện. Bà nhìn vợ chồng Vinh rồi bắt đầu câu chuyện:
– Không biết anh chị có còn nhận ra em không chứ riêng em thì em nhớ rõ anh là anh Nguyễn Tấn Vinh còn chị là Lê thị Huyền. Còn em là …
Ngay lúc đó Vinh cướp lời:
– Huỳnh thị Thanh Nguyên
Rồi trong phút bàng hoàng xao xuyến, chàng trầm giọng tiếp theo bằng một câu đầy ý nghĩa:
– Anh…..và chị không bao giờ quên em.
làm Thanh Nguyên xúc động nhìn chàng.
Sau đó, chàng đã thay mặt vợ kể lại tuần tự chuyện ngày xưa, chàng đã tìm mọi cách liên lạc Thanh Nguyên từ hồi còn ở đảo cho tới 3 tháng sau lúc định cư Toronto đã gởi liên tiếp cho nàng nhiều thơ nhưng vẫn biệt vô âm tính làm cho vợ chồng chàng lo rầu biết bao là không biết chuyện gì xảy đến cho Thanh Nguyên. Sau đó chàng chỉ biết cầu nguyện ơn trên ban phước lành cho nàng.
Huyền cũng nhắc lại chuyện thôi thúc Vinh thư từ thăm hỏi và tỏ lòng tri ơn nàng nhưng tất cả chỉ là tuyệt vọng.
Thanh Nguyên bồi hồi cám ơn thâm tình của Vinh Huyền rồi nghẹn ngào kể:
– Chuyện hôn nhân của Đức – Thủy đã đến nước này thì em phải đánh liều bất kể danh giá hậu quả để kể rõ ngọn ngành cho anh chị nhất là chị nghe:
Số là trước khi đưa anh chị xuống tàu ở Rạch Giá Vượt biên, anh Vinh ở tại nhà em. Thú thực là trước đó em đã yêu anh Vinh rồi nhưng em cố ngăn cơn sóng tình bộc phát vì thấy tội lỗi quá nhất là quý mến chị. Kịp đến khi anh ở chung với em thì hoàn cảnh lửa gần rơm lại thêm cảm cái ơn cứu mạng ba em và hơn nữa cứ nghĩ là trong thời gian ngắn nữa là vĩnh viễn xa nhau nên em đã mềm yếu ngã vào vòng tay Vinh. Sau khi anh chị đã đi rồi em tưởng rằng mọi việc đã chấm dứt nhưng không ngờ chỉ một tháng sau, em phát giác ra rằng Vinh đã để lại một giọt máu trong em. Em không ân hận gì cả vì có đứa con với người mình yêu là điều hạnh phúc cho dù người đó đã ở một phương trời xa thẳm cách biệt nào rồi. Nhưng vấn đề là danh tiết em đối với xã hội và sở làm. Mặc dù là con người Cộng Sản vô thần không biết đến đời sống tâm linh danh giá nhưng với riêng em, tiết hạnh là cả một vấn đề nhất là em vốn tự hào là đã thờ chồng nuôi con cho dù em không thực sự thương yêu chồng em mà vẫn muốn mang cái võ hư danh đó. Thế nên em phải dấu nhẹm việc không chồng mà chửa bằng một hy sinh thật lớn lao là từ bỏ chức vụ Giám Đốc Sở Công An thành phố và xin giải ngủ luôn để về làm phục viên bình thường tại Vĩnh Bình. Chính vì thế mà anh chị không liên lạc được với em còn em thì cũng không có cách nào để biết anh chị ở đâu mà thư từ thăm hỏi. Từ đó, em cùng con Phượng Nguyên ở ẩn dật trong tình thương của ba má em cho tới ngày sanh đứa con gái đặt tên là Huỳnh thị Bình Thủy. Sở dĩ em đặt tên con là Bình Thủy vì anh Vinh nhớ có lần em nói với anh là thân phận chúng mình như bình thủy tương phùng…nên em lấy hai chữ đó mà đặt cho con. Em và hai con thơ ở Vĩnh Bình tới lúc Phượng Nguyên lên Đại Học Sài Gòn thì em cũng lên thành phố mua căn nhà nầy để dễ dàng lo việc học hành hai con. Sau đó Phượng Nguyên tốt nghiệp ngành giáo dục đổi xuống Cần Thơ rồi có chồng con dưới đó luôn, còn Thủy làm ở bệnh viện Đức Quốc rồi quen biết và yêu thương Đức. Hôm nó dẫn Đức tới thăm em. Em đã hỏi cặn kẻ gia thế Đức thì em muốn chết giấc khi biết Đức…là con trai anh chị. Trời ơi! Sao mà định mệnh ác độc chi thế nầy! Anh em cùng máu mủ mà lại yêu nhau. Lúc phát giác ra sự thật động trời em sửng sờ nín thở và điếng hồn muốn té xỉu luôn. Sau đó em dần tỉnh lại và làm ra vẻ tự nhiên rồi quyết định bằng mọi cách phải chia cách chúng. Em bảo Đức mời anh chị sang đây gặp em để chúng ta bàn tính giải quyết để ngăn cản chúng. Từ ngày xưa, em nói với Thủy là ba nó đã mất lúc nó còn nhỏ cho nó yên tâm mà học hành, em cũng định một ngày nào đó sẽ cho nó biết sự thực ba nó là anh Vinh ngày đó cũng đã đến rồi mà đến trong đại họa. Bây giờ anh chị phải tiếp tay với em trong cái oan trái nầy, chớ còn em thì rối trí quá rồi đó.
Nghe xong câu chuyện thì Huyền choáng váng cả mặt mày, đầu óc quay cuồng. Trời ơi ! không ngờ người chồng mà nàng hằng yêu thương tin tưởng và người đàn bà mà nàng xem như là người ơn và luôn quý trọng lại cùng nhau phản bội nàng. Nhớ lại lúc nàng hối thúc Vinh thư từ cho Thanh Nguyên mà nàng thấy tức tối vô cùng, đúng là nàng đã nối giáo cho giặc. Cảm thấy quá ấm ức trong lòng, nhưng với bản chất khoan hòa và nhất là đối với công ơn lớn lao của Thanh Nguyên nên nàng còn cả nể, nàng chỉ biết quay sang cằn nhằn ông chồng đa tình quá quắc của mình:
– Thấy chưa? Ông quậy quá trời tới không để đức cho con cháu mà.
Vinh trả lời cũng ăn trớt đi ngoài câu chuyện “đại họa”
– Hổng để đức mà tụi nó nên danh phận hết à!
Thanh Nguyên nóng ruột:
– Thôi! Em xin anh chị đừng đôi co nữa và xin chị hãy rộng lượng tha thứ cho em về chuyện xưa giữa anh Vinh và em. Bây giờ chuyện cấp bách là mình hãy bàn thẳng vấn đề con Thủy thằng Đức.
Rồi nàng chặc lưỡi tiếp:
– Mà cũng hổng hiểu Trời Đất gì lại xui khiến hai anh em đứa phương Đông đứa trời Tây mà lại xáp nhau làm chung một chỗ rồi yêu thương nhau mới khổ như vầy đây.
Vinh tỉnh bơ trả lời:
– Thì cái đó mới gọi là duyên nợ đó chớ!
Thanh Nguyên bực bội:
– Giờ phút nầy mà anh còn giỡn được hả anh Vinh?
Vinh trả lời :
– Anh đâu có giỡn hồi nào đâu!
Thanh Nguyên sẵn giọng:
– Vậy chớ chuyện anh em ruột thịt lấy nhau mà anh bảo là duyên nợ cái gì?
Vinh lại ỡm ờ:
– Anh nói hai đứa kết duyên nhau cũng được mà.
Hết chịu đựng nỗi nữa, Thanh Nguyên giận dữ:
– Anh nói cái gì kỳ mà bậy bạ vậy anh Vinh? Anh muốn hai đứa nó loạn luân với nhau hả? Tui hổng thèm nói chuyện với anh nữa đâu. Còn chị Huyền chị tính can ngăn cách nào đây hả chị?
Đến bây giờ Huyền mới chậm rãi lên tiếng:
– Nói thiệt với cô Thanh Nguyên là thằng Đức vốn không phải là con ruột của vợ chồng tôi…Số là ngày xưa, anh Vinh và tôi ăn ở nhau bốn năm trời mà không có con làm cha mẹ hai bên đều lo lắng. Sẵn con em gái tôi nó cứ đẻ sồn sồn năm một nên má tôi bảo tôi xin đứt một đứa mà là con trai để làm con nuôi lấy hên nên tụi tôi mới xin thằng Đức, lúc nó mới hơn một tuổi. Vợ chồng đứa em gái thấy thương tụi tôi, vả lại giao con cho Dì ruột nuôi thì cũng như trong nhà nên mới thuận cho và làm khai sanh lại cho Đức là con ruột của vợ chồng tôi. Từ đó cả hai gia đình chị em tôi giấu biệt vụ nầy luôn vì sợ con cái nó buồn. Như vậy con Thủy và thằng Đức đâu cùng huyết thống gì nên anh Vinh mới nói tụi nó lấy nhau vẫn được là vậy đó.
Tới lúc nầy, Thanh Nguyên tươi cười vừa thở phào nhẹ nhỏm như trút được gánh nặng ngàn cân, nàng thành khẩn chắp tay rồi lâm râm khấn vái “con tạ ơn Trời Phật có lòng thương chứng giám lời nguyện của con”. Xong nàng quay sang nói với vợ chồng Vinh:
– Thiệt em mừng còn hơn trúng số độc đắc. Từ mấy tháng nay, bị cái chuyện rầu buồn nầy mà em có ăn ngủ gì được đâu. Muốn bịnh luôn vậy đó. Đúng là anh chị đã mang tin mừng và may mắn đến cho em.
Huyền căn dặn thêm:
– Lỡ xảy ra chuyện oái oăm vừa qua nên tôi mới tiết lộ bí mật cho cô biết nhưng mình cũng nên tuyệt đối giữ kín chuyện nầy nhất là với tụi nhỏ nha cô Thanh Nguyên.
Thanh Nguyên nói nhỏ như sợ Đức Thủy nghe mặc dù tụi nó đã dẫn nhau ra gốc mít sau nhà để tâm tình từ lâu rồi:
– Trời ơi! Chuyện tày trời nầy thì sống để bụng chết mang theo chứ ai mà dám tiết lộ. Trước đây em định nói sự thực cho con Thủy nghe để ngăn cản việc hôn nhân của nó chứ bây giờ sự việc sáng tỏ như thế nầy, thì ai ngu gì mà nói. Mà con Thủy như vậy vừa là con gái anh Vinh vừa là con dâu thì cũng tốt quá rồi.
Sau đó Thanh Nguyên gọi Thủy – Đức vào nhà để cả ba người lớn đồng thanh tuyên bố chấp nhận tác hợp cho đôi trẻ trong tiếng cười hân hoan hạnh phúc của Thủy Đức. Thừa thắng xông lên, Đức hăng hái thưa:
– Tụi con vô cùng cám ơn ba và hai má đã thương tình chấp thuận cho hai con nên vợ chồng. Ông bà mình có nói là “Cưới vợ thì cưới liền tay- Đừng để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” nên tụi con xin ba và hai má có thương thì thương cho trót cho phép tụi con được làm đám cưới ngay trong thời gian ba má còn ở Việt Nam”
Vinh cười trả lời:
– Cái thằng ăn nói phải giữ lời, mầy cứ “ba và hai má, ba và hai má” hoài, rủi ai nghe được người ta hiểu lầm tao sao mậy!
Đến đây thì Huyền và Thanh Nguyên cùng hè nhau sáp lại mỗi người một bên véo ông chồng và người tình một cái đau điếng và cùng nghiến răng:
– Cho bỏ tật nghèo mà ham. Già rồi mà khoái nói bậy.
Sau cùng thì cả “ba” và “hai má” cùng đồng ý làm đám cưới cho Đức – Thủy trong 3 tuần nữa . Vinh hân hoan bảo con :
– Tụi bây thiệt đúng là cuộc tình không biên giới.
Vừa nói chàng vừa liếc Thanh Nguyên ngụ ý với nàng là “tình mình ngày xưa cũng là tình không biên giới vậy, phải không em?”.
Riêng Phượng Nguyên thì rất vui mừng khi biết em gái mình sắp trở thành dâu của “cậu Vinh”, người mà nàng từng thương như cha ruột và cũng là người yêu tuyệt vời của mẹ nàng, và nay mới biết cậu Vinh cũng là cha của em gái nàng. Nàng cười tươi nói với Vinh:
– Cậu thiệt là giữ đúng lời hứa là sẽ trở về với mẹ con của con. Bây giờ biết Bình Thủy (hổng phải bình thủy đựng nước sôi đau nha) là em một mẹ khác cha với con nhưng con thực sự xem nó như là em cùng cha cùng mẹ vì từ lâu con đã xem cậu như ba của con rồi.
Trong buổi tiệc cưới, thấy Vinh đường hoàng ngồi giữa Huyền và Thanh Nguyên trên bàn danh dự, bạn bè cũ ở Việt Nam thời trước bèn hỏi đùa:
– Ông ngồi chính giữa hai bà như vậy thì ai mà biết bà nào là bà xã còn bà nào là bà sui.
Vinh cười ha hả rồi phán ra một câu mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu nổi:
– Bà nào cũng là bà xã mà bà nào cũng là bà sui cả. Phải không hai em? Ha! Ha! Ha!
Nghe thấy vậy, cả Huyền và Thanh Nguyên cùng nguýt Vinh bằng hai cái đuôi con mắt dài sọc.

Nguyên Trần

Toronto Dec 17, 2008

 

Một Nụ Cười

Bửu Uyển

Vào dịp cuối năm 1994, một buổi họp mặt các cựu tù nhân chính trị được tổ chức ở San Diego. Xướng ngôn viên của buổi lễ cho biết : “Khi tôi xướng tên trại nào, nếu quý anh là trại viên của trại đó, xin đứng dậy và tự giới thiệu tên của mình để các anh em khác được biết”. Nhiều trại cải tạo ở miền Bắc được lần lượt xướng tên như “Phong Quang”, “Yên Báy”, “Vĩnh Phú”, “Thanh Cẩm”, “Lý Bá Sơ”, “Nam Hà”, “Phú Sơn” v.v Trại nào cũng có năm bảy anh đứng dậy và giới thiệu tên của mình. Khi xướng tên trại Nam Hà, tôi đứng dậy và có thêm bốn anh nữa , trong đó có một anh, tự giới thiệu tên của mình là Lê Trung Đạo. Tôi lẫm nhẫm Lê Trung Đạo, Lê Trung Đạo…sao tên nghe quen quá, hình như anh ấy ở chung đội với tôi thì phải. Khi phần giới thiệu các anh em trại Nam Hà chấm dứt, tôi đi đến bàn của anh Đạo, đứng đối diện và nhìn kỹ anh ấy. Tôi nhận ra anh Đạo ngay. Tôi ôm chầm lấy anh, và anh ấy cũng ôm tôi trìu mến. Tôi thì thầm bên tai Đạo : “Em còn nhớ anh không? ” Đạo trả lời ngay: “Anh Uyển, mà sao em có thể quên được, thật vui mừng được gặp lại anh. Em trông chờ ngày này đã lâu lắm rồi!

            Khi cùng sống trong cảnh đọa đày nơi trại Nam Hà, phân trại C, tôi và Đạo nằm gần nhau. Ra đồng, bắt được con cua, con cá, tôi và Đạo cùng chia sẻ với nhau. Đạo là một Thiếu Úy Cảnh Sát Đặc Biệt, mới ra trường, không biết làm Trưởng G hay H gì đó..mà bị đày ra cải tạo ở miền Bắc.Anh còn quá trẻ, khoảng 24, 25 tuổi. Tôi xem anh như một người em của tôi và tôi rất quý mến anh. Đạo chưa lập gia đình. Anh chỉ còn một mẹ già đang sống ở Vĩnh long. Vì vậy, từ ngày bị đưa ra Bắc, Đạo chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân từ trong Nam gởi cho anh. Anh sống hiền hòa, vui tính, nên anh em trong đội ai cũng mến anh. Đạo xem tôi như một người anh trong gia đình, anh tâm sự với tôi : “Đời em chẳng còn gì nữa, chỉ có một người mẹ, mà từ ngày bị đày ra Bắc, đã trên 5 năm rồi em chẳng có tin tức gì của mẹ em. Không biết bà còn sống hay đã ra người thiên cổ

            Đạo nắm tay tôi và cảm động nói: “Giờ đây em chỉ có anh là người duy nhất thương mến em, cho em chút an ủi để sống qua ngày!

            Như có một động lực nào thúc đẩy, Đạo tâm sự với tôi : “Anh ạ,mình phải sống chứ anh, mà muốn sống, dù là cuộc sống thấp nhất, cũng phải có một ước mơ gì đó để mà mộng tưởng, để tiếp sức cho mình. Các anh em ở đây , dĩ nhiên ai cũng mơ ước sớm được trở về với gia đình. Ngoài xã hội thì kẻ này mơ trúng số, kẻ kia mơ nhà cửa , ruộng vườn v.v. Nhưng sống nơi địa ngục trần gian này, anh em mình mơ ước điều gì đây? Tất cả đều nằm ngoài tầm tay của mình. Em chợt nhớ lại một câu chuyện cổ tích của Pháp, tựa đề là “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide” kể lại câu chuyện một ông lão nghèo khổ, sống cô đơn một mình trong căn lều nhỏ bé, trống trước, trống sau. Bổng một bà tiên hiện ra và cho ông một điều ước. Bà tiên cứ nghĩ, thế nào ông lão nghèo nàn này cũng sẽ ao ước có một căn nhà, hoặc ao ước có nhiều tiền bạc..v..v. Nhưng bà tiên vô cùng ngạc nhiên, khi ông lão nghèo khổ ấy chỉ xin “Một Nụ Cười”

            Đạo như chợt tỉnh, ông lão bất hạnh trong câu chuyện cổ tích, đã chỉ cho Đạo một mơ ước, mà dù trong hoàn cảnh nào cũng có thể đạt được, đó là một nụ cười. Không cần phải là nụ cười của giai nhân, mà chỉ cần một nụ cười thân ái của ai đó, chân thành trao cho anh, vì yêu mến anh, có thế thôi.

            Cuộc sống tù đày cứ kéo dài triền miên trong đói khổ, vô vọng. Nhưng khi nghĩ đến một nụ cười, Đạo thấy tâm hồn mình có chút an ủi, nhẹ nhàng. Hằng ngày , Đạo ước mơ nhận được nụ cười. Đêm đêm Đạo cũng ước mong trong giấc mơ, anh sẽ gặp được một nụ cười. Nhưng buồn thay, những giấc mơ đến với Đạo chỉ là những cơn ác mộng mà thôi.

            Nhưng thật kỳ diệu, từ ngày Đạo ôm ấp ước mơ có được một nụ cười, anh thấy cuộc đời của anh có chút ý nghĩa, vì dù sao anh cũng có một ước mơ, để mà thương, mà nhớ, mà mong chờ.

            Một hôm, đội được dẫn đi gặt lúa, khi đi ngang qua cổng cơ quan, Đạo thấy nhiều chiếc áo vàng đứng ở đó. Nhìn lướt qua, Đạo chợt thấy một nữ cán bộ nhìn anh mỉm cười. Anh không tin ở mắt mình, anh nghĩ rằng có thể cô ta cười vu vơ gì đó, chứ đâu phải cười với anh. Anh quay lại nhìn một lần nữa, vẫn thấy cô ta nhìn anh và mỉm cười.

            Từ ngày ấy, mỗi khi đội đi ngang qua cỗng cơ quan, Đạo đều bắt gặp nụ cười của người nữ cán bộ dành cho anh. Vì vậy khi đi lao động, Đạo luôn luôn đi cuối hàng để dễ đón nhận nụ cười của cô nữ cán bộ. Đạo cũng cười đáp lễ với cô ta. Đạo bắt đầu thấy cuộc đời của mình, có một chút gì thi vị, đáng sống. Khi ăn, khi ngủ, nụ cười đó luôn luôn theo anh, cho anh niềm an ủi, và chút lạc quan để sống. Anh em trong đội đều biết mối tình mắt nhìn mắt và trao đổi nụ cười của Đạo và cô nữ cán bộ.

            Không những Đạo nhớ đến nụ cười, anh còn nhớ đến đôi mắt như muốn nói với anh muôn ngàn lời, anh nhớ đến người con gái ấy. Ban đầu anh nghĩ rằng cứ giã bộ vui vẻ cho qua ngày. Nhưng trong tâm trí anh, luôn luôn nhớ đến cô gái ấy và anh nhận ra rằng anh đã yêu cô ta. Đạo nhớ lại ngày xưa Elvis Presley đã hát một bài hát nỗi tiếng là bài Don’t Gamble With Love nay thật đúng như trường hợp của Đạo. Bây giờ Đạo không còncho rằng lao động là khổ sai nữa, mà anh trông chờ mỗi buổi sáng được đi ngang qua cỗng cơ quan, để đón nhận nụ cười của người nữ cán bộ.

            Một buổi chiều khi đi lao động về,nghe các anh em Công Giáo tập hát bài “Đêm Đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”, Đạo mới biết, đêm nay là đêm Noel. Khi cửa phòng giam đóng lại, anh em Công Giáo vội vã thiết trí một ngôi sao Giáng Sinh và hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh” ở vách tường cuối phòng. Họ nắm tay nhau ca hát, đọc kinh, cầu nguyện. Đạo nằm mơ màng, lơ đãng nhìn về cuối phòng, chung quanh hàng chữ “Mừng Chúa Giáng Sinh”, Đạo tưởng tượng như có những bóng đèn màu chớp sáng. Anh mơ hồ nghe như có tiếng nhạc bài Silent Night dịu dàng thoảng đi trong gió…Anh thiếp đi trong giấc ngủ yên lành.

            Vào một buổi sáng chúa nhật, chúng tôi được gọi ra sân để nhận quà của thân nhân từ trong Nam gởi ra. Thường thì 80 đến 90 phần trăm anh em đều nhận được quà. Riêng Đạo thì chưa bao giờ nhận được quà của thân nhân. Nhưng thật bất ngờ, hôm nay cán bộ lại kêu tên Đạo lên nhận quà, ai cũng ngạc nhiên và mừng cho Đạo.Anh nhận một gói quà bình thường, nhưng cách gói quà , khác với những gói quà từ trong Nam gởi ra. Đạo sững sốt nhận gói quà, đem về phòng, cẩn thận mở ra. Một mãnh giấy nhỏ nằm trên những gói đồ ăn, anh đọc vội hàng chữ “Trìu mến gửi anh Đạo – Em : Kim Chi”. Với mấy chữ ngắn gọn đó, Đạo biết ai gởi cho anh món quà tình nghĩa này. Anh ôm gói quà vào lòng. Anh không ngờ  người nữ cán bộ có nụ cười dễ thương đó, lại dám liều lĩnh gởi quà cho anh. Hai hàng nuớc mắt chảy dài xuống má, đây là những giọt nước mắt hạnh phúc mà từ lâu anh không hề có.

            Trại Nam hà, Phân trại C, nơi chúng tôi đang ở, phía sau là con đường làng. Trại chỉ ngăn cách với bên ngoài bởi những bụi tre thấp và hàng rào kẽm gai. Dân chúng đi ở ngoài, chúng tôi có thể thấy họ. Thường vào buổi chiều, sau khi ăn cơm xong , chúng tôi hay ra ngồi chơi ở sân sau đó, nhìn người qua lại. Một hôm, chúng tôi thấy cô cán bộ Chi đi lui, đi tới ở ngoài hàng rào, rồi thình lình quăng vào trong một cái gói nhỏ. Chúng tôi biết cô ấy gởi gì đó cho Đạo, chúng tôi mang vào cho anh. Đạo không biết Chi gởi gì cho anh, nhưng anh cảm động lắm. Anh em hiếu kỳ đứng quanh giường của của Đạo, để xem cô Chi đã gởi gì cho anh: đó là một gói xôi và một con gà vàng rộm. Đối với tù nhân, đói triền miên như chúng tôi, thì gói xôi gà này là cao lương mỹ vị bậc nhất trên thế gian này. Đạo rất hào phóng, anh chia đều xôi, gà cho tất cả 32 anh em trong đội, mỗi người được một muỗng xôi và chút ít thịt gà. Có người ăn ngay, nhưng cũng có vài anh em để đó, hít hít mùi thịt gà cho đỡ thèm.

            Đạo thấy thương Chi quá, vì yêu anh, nàng đã gan liều làm những việc như vậy, vì nếu bị phát giác, nàng ở tù như chơi. Đạo càng thương Chi khi nghĩ đến tương lai : một cán bộ công an yêu một sĩ quan cảnh sát ngụy..thì đời nào có thể sum họp được. Anh thở dài !

            Vào một sáng chúa nhật, một anh trật tự đến phòng chúng tôi, bảo anh Đạo chuẩn bị ra có người thăm nuôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên, vì từ bao năm nay, Đạo thuộc diện con mồ côi, chưa hề có ai gởi quà cho Đạo, nói gì đến chuyện thăm nuôi.Thế mà hôm nay, lại có người thân nào đó đến thăm  Đạo. Chúng tôi mừng cho Đạo. Khoảng 9 giờ sáng, anh được cán bộ dẫn ra nhà thăm nuôi. Chúng tôi hồi hộp chờ Đạo trở vào để xem anh nhận được những quà gì của thân nhân đem đến.

            Nhưng chúng tôi chờ mãi…đã ba , bốn giờ chiều rồi, vẫn chưa thấy Đạo trở vô trại. Thường một trại viên được gặp mặt thân nhân khoảng 15, 20 phút, tối đa là nửa giờ. Thế mà , Đạo ra nhà thăm nuôi đã hơn bốn, năm tiếng rồi mà chưa thấy vô. Chúng tôi bắt đầu lo lắng cho Đạo, không biết chuyện gì đã xảy ra cho anh, lành hay dữ. Và từ đó, chúng tôi không còn biết tin tức gì về Đạo nữa.

            Hôm nay gặp lại Đạo, tôi đem chuyện ấy ra hỏi Đạo, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây:

Anh nhớ không, ngaỳ chúa nhật hôm đó, em được dẫn ra nhà thăm nuôi, nói là có thân nhân đến thăm. Em vô cùng ngạc nhiên vì em đâu có thân nhân nào từ trong Nam có thể ra thăm em. Bước vào nhà thăm nuôi, em thấy Chi và một ông Thượng Tá công an ngồi ở đó.Chi vội vã đứng lên giới thiệu : “Đây là cậu Du của Chi, đang công tác ở tỉnh Thái Bình, em nhờ cậu ấy đến thăm anh.” Đạo bối rối nhìn Chi, nhìn ánh mắt, nụ cười của Chi. Chi mặc đồ công an, trên cổ áo có đeo quân hàm Thiếu Úy. Chi biết Đạo ngõ ngàng, thắc mắc nên cô nói ngay : “Anh đừng lo, em bảo anh làm gì thì cứ làm theo, chớ có hỏi han gì hết”. Chi dẫn Đạo vào một căn nhà ở gần nhà thăm nuôi, nhà không có ai cả.  Chi bảo tôi cởi bộ áo quần tù ra, và mặc ngay bộ đồ công an đã để sẵn ở đó; ngoài áo quần, có cả nón, cặp da và giấy chứng nhận đi công tác miền Nam. Tôi như trên trời rớt xuống, nhưng không có thì giờ để hỏi Chi, việc gì đang xảy đến cho tôi. Khi tôi đã mặc xong bộ đồ công an, Chi nhìn tôi mỉm cươì , rồi kéo tôi ra ngỏ, bảo tôi leo lên một chiếc xe Jeep nhà binh đậu sẵn ở đó., và chạy ra ga xe lửa Phủ Lý. Chi bảo tôi cứ ngồi trên xe, Chi vào mua vé xe lửa đi về Sàigòn. Khi đưa tôi lên xe lửa, Chi ân cần căn dặn: “Không nên về nhà, cũng đừng liên lạc với mẹ, mà tìm một người bà con nào đó ở tỉnh khác xin trú ngụ vài ngày, rồi tìm đường vượt biên. Tốt nhất là đi đường bộ qua ngã Campuchia”. Chi đưa cho tôi một gói giấy và nói: “Đây là ít tiền để anh tiêu dùng, nhớ là phải vượt biên ngay nhé!”. Chi cầm tay tôi và chân thành nói : “Em là vợ của anh, anh đừng quên em!”. Tôi ôm Chi vào lòng, nước mắt ràn rụa. Chi cũng khóc trên vai tôi. Xe lửa từ từ lăn bánh, hình ảnh Chi cô đơn đứng một mình trên sân ga, nhỏ dần, nhỏ dần.. Tôi thấy nhiều lần Chi đưa tay lên lau nước mắt. Trong tim tôi, mối tình mà Chi dành cho tôi quá sâu đậm, đã chiếm trọn cuộc đời tôi. Tôi vỗ vỗ vào trái tim của mình “Đạo, Đạo, mày phải sống xứng đáng để đền ơn đáp nghĩa cho Chi nghe chưa”

            Khi xe lửa dừng lại ở ga Bình triệu, Sàigòn, tôi không về nhà tôi ở Vĩnh Long, mà đến nhà dì tôi ở Cần Thơ xin trú ngụ.Chồng của dì tôi là một Đại úy Công Binh Việt nam Cộng Hòa, trước năm 1975, ông phục vụ ở Tiểu Đoàn 24 Công Binh Kiến tạo, mới được trả tự do. Gia đình dì, dượng tôi đang âm thầm chuẩn bị vượt biên. Dì, dượng tôi vui vẻ chấp thuận cho tôi cùng đi theo. Tôi đã đưa gói tiền mà Chi trao cho tôi, cho dì tôi để bà tiêu dùng. Mở gói ra xem, dì bảo tôi : “Tiền đâu mà cháu có nhiều vậy?” Tôi trả lời ngay : “Của vợ con cho đó!”

            Vào một đêm tối trời, ghe máy chở cả nhà ra cữa biển Đại Ngãi, vì tàu lớn đang đậu ở đó. Sau 3 ngày và  4 đêm, tàu của chúng tôi đã đến hải phận Thái Lan, được tàu tuần duyên của Thái Lan đưa về trại Sikiew. Trong cuộc phỏng vấn thanh lọc, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc hỏi tôi rất ít. Tôi nghĩ là họ có đầy đủ hồ sơ cá nhân của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt. Họ chỉ hỏi tôi là làm Trưởng G hay Trưởng H, tôi trả lời. Người nhân viên đó lấy trong tập hồ sơ ra một tấm ảnh, anh nhìn tôi rồi gật đầu.Thế là tôi vượt qua cuộc thanh lọc. Mấy tháng sau, họ chuyển tôi qua trại Pulau Bidong ở Mã Lai, để chờ chuyến bay đi định cư ở Mỹ.

            Tôi mau chóng gởi thư cho má tôi ở Vĩnh Long, báo tin tôi đã bình yên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai, đang chờ chuyến bay để đi định cư ở Mỹ. Khoảng 2 tuần sau, tôi vui mừng nhận được thư hồi âm của má tôi, và một bất ngờ thú vị đến với tôi là có cả thư của Chi nữa! Má tôi đã viết cho tôi : “Đạo con, má rất vui mừng nhận được tin con đã đến nơi bình yên. Má cho con biết là Chi đang ở đây với má. Chi đã kể cho má nghe hết mọi chuyện. Má rất hạnh phúc có được một con dâu hiếu thảo như Chi, má mừng cho con”

            Đạo run run mở thư của Chi ra đọc: “ Anh Đạo yêu quí của em, nghe anh đã đến đảo và đang chờ chuyến bay để đi Mỹ, má và em mừng quá anh ơi. Khi anh đi về Nam chưa đầy một tháng, họ đuổi em ra khỏi ngành công an. Em đã về Vĩnh Long ở với má, em thay anh phụng dưỡng, săn sóc má, anh yên tâm ! “

            Với lời lẽ chân tình, mộc mạc, tôi uống từng chữ, từng lời trong bức thư ngắn gọn của Chi, tôi áp bức thư vào ngực và đi vào giấc ngủ.

            Năm 1982, tôi được đi định cư ở Mỹ. Khi có thẻ xanh, tôi đã làm hồ sơ bảo lãnh Chi. Trong thời gian ở với má tôi ở Vĩnh Long, không biết Chi hỏi thủ tục bảo lãnh ở đâu mà nàng ra Thái Bình, nhờ người cậu Thượng Tá Công An của nàng, làm một giấy hôn thú của tôi và Chi, có đầy đủ chữ ký và khuôn dấu đỏ xác nhận của chính quyền địa phương.

            Năm 1987 khi tôi được nhập quốc tịch Mỹ, tôi đã bổ túc hồ sơ bảo lãnh. Chi đã nhanh chóng được phỏng vấn. Lúc này, những trường hợp gian dối chưa xảy ra nhiều, nên việc chấp thuận cho chồng bảo lãnh vợ tương đối dễ dàng nếu có đầy đủ giấy tờ chứng minh.

            Vào một ngày se lạnh ở miền Nam Cali, tôi và vài bạn bè thân quen đến đón Chi ở phi trường Los Angeles. Tôi ôm Chi vào lòng, vì quá cảm động, tôi chỉ thốt lên được một tiếng “Em!”  Chi cũng vậy, nàng thổn thức trên vai tôi “Anh!”. Chỉ 2 tiếng “Anh” “Em”, nhưng đã gói trọn cuộc tình mà chúng tôi nghĩ là không bao giờ có thể sum họp được. Tạ ơn Trời Đất !  

            Đạo xây qua người đàn bà ngồi bên cạnh anh, và giới thiệu với tôi : “Thưa anh, đây là Chi, vợ em” Chi bẽn lẽn cúi đầu, che dấu nụ cười đã đem lại sức sống và hạnh phúc cho Đạo.

            Tôi đã được nghe , được biết nhiều mối tình ly kỳ, éo le lắm. Nhưng nếu nói đến một mối tình thật lãng mạn, mà người con gái đã dám hy sinh sự nghiệp và cả tính mạng mình cho người yêu, thì không thể không nói đến mối tình của nàng Kim Chi và chàng Trung Đạo.

Bửu Uyển  

Tháng 6-2016

Vô Tình

Phạm Thành Châu

Ðây là chuyện kể về một người đàn ông chán chường với đàn bà và một cô gái lớn tuổi nhưng cô đơn. Lần đầu, gặp người đàn ông đó, từ tiểu bang khác đến, cô đã xao xuyến. Tình cảm bất chợt bao giờ cũng rất mãnh liệt và khó quên. Cô tìm mọi cách cho người vô tâm kia hiểu được cô và đáp lại tình cảm của cô. Vì mỗi năm chỉ có thể gặp một lần nên cô phải bạo dạn nhưng ông ta vẫn vô tình!

Ông Tâm, tuổi trên năm mươi, vóc dáng, gương mặt không có gì đáng để phái nữ chú ý. Ông Tâm nghỉ phép thường niên (vacation), từ miền đông Hoa Kỳ qua Texas, thăm các bạn. Ông có nhiều bạn ở các tiểu bang Texas, California. Ông đến bạn nầy vài hôm, qua bạn khác vài hôm. Ở Mỹ, nhà nào cũng có nhiều phòng cho con cái. Khi chúng lớn, như những con chim rời tổ, chúng có gia đình, ở nhà riêng. Thành thử, nhà bố mẹ có những phòng trống, dành cho bà con, bạn bè đến thăm, ở lại. Ông Tâm cũng biết, đến nhà người ta, dù bạn thân cũng làm xáo trộn nếp sống thường ngày của gia chủ, nên ông thường ở motel, bạn đến mời về nhà ăn bữa cơm gia đình hoặc đưa đi thăm viếng địa phương. Ðôi khi, bạn thật tình, khẩn khoản lắm, ông cũng chỉ ở vài ngày là tối đa. Khi người trong nhà đi làm thì ông lang thang ngoài đường một mình, ngắm cảnh hoặc vào siêu thị nhìn thiên hạ. Ở Texas và California, nhiều người Việt nên ông cảm tưởng như đang ở quê nhà thời trước. Một buổi trưa, đi mỏi chân, ông vào tiệm McDonald, sắp hàng mua bánh. Vào giờ đông khách, ông Tâm đứng cuối một dãy dài. Ðang nhìn vơ vẩn, ông thấy một cô, (ông đoán là người Việt) bước vào, đứng sau lưng ông. Ông bước lùi lại, nhường chỗ “Mời cô!” Cô bước tới, nói nhỏ “Cám ơn chú!” rồi ngước nhìn ông Tâm, nhoẻn miệng cười. Cô đứng gần đến độ hai người như muốn chạm nhau. Bỗng cô quay lại, nhìn sửng ông, ánh mắt sáng lên, như vui mừng được gặp lại bạn thân, rồi cô lại cười. Tự nhiên, ông Tâm cũng vui lây với cô. Niềm vui bất chợt và đơn giản mà ông chưa hề cảm nhận được lần nào trong đời. Hình như cô đang thở mạnh. Ông nói “Cô cho tôi được mời cô, nghe!” Cô không quay lại “Cám ơn chú!” Tuổi cô chưa đến bốn mươi nhưng cô gọi ông bằng chú, có lẽ để khỏi ngại ngùng.

Hai người ngồi ăn cùng bàn. Chuyện trò cũng chỉ mưa nắng, những nhận xét về cộng đồng người Việt, về thời sự. Cả hai, đôi khi có nói về mình như một cách tự giới thiệu. Ông Tâm cho biết. Ông làm việc ở một thành phố miền đông Hoa Kỳ. Nghỉ vacation hai tuần. Ông cũng được biết cô tên Trang, có một tiệm buôn nhỏ ở thành phố Austin, về Houston mua hàng “Từ Austin, cháu về đây hết mấy giờ lái xe. Cháu lái xe chậm lắm. Chú có biết Austin không?” “Tôi chưa đến, có thể tôi sẽ đến đó cho biết” “Khi nào chú đến Austin, nhớ gọi cho cháu. Cháu sẽ đến thăm chú”  “Tôi sẽ gọi cô. Tôi có vài người bạn ở đó” Cô ngạc nhiên “Sao ở đâu chú cũng có bạn cả?” Ông Tâm cười “Bạn văn, thơ, báo chí với nhau. Có người chưa hề gặp mặt mà thân nhau lắm. Gặp nhau trên email, trên điện thoại thôi. Nhưng cuối tuần nầy tôi qua San Antonio rồi” “Nếu thấy tiện, khi đến San Antonio, chú gọi cháu. Cháu cũng định ít hôm nữa về đó mua một ít hàng hóa” “Tôi sẽ gọi cô trước khi đi San Antonio. Sao hôm nay cô không đi San Antonio mua hàng cho gần?” “Cháu có bạn ở đây. Về thăm bạn. Ở Austin ít người Việt, cháu chỉ có người quen chứ không có bạn ở đó” Ăn xong, ông Tâm đem giấy, ly bỏ vào thùng rác. Lúc quay lại, thấy cô Trang ngồi nhìn vào khoảng không, vẻ bồn chồn. Ðột nhiên cô gọi “Chú!” rồi cúi xuống, không nhìn ông Tâm. Ông Tâm nói “Vì chuyện trò với tôi mà cô trễ hẹn với bạn, phải không? Tôi xin lỗi” Cô ngước lên, lắc đầu “Không có đâu! Giờ cháu phải lái xe về Austin. Cháu ngại quá. Ðường xa quá!” “Sao phải vội? Ở lại với bạn vài hôm cho vui” “Cháu cũng định như vậy. Nhưng bạn cháu ngày mai phải đi làm. Cháu chỉ một mình ở đây” “Cứ ở lại với bạn. Sáng mai mát trời, chạy xe thong thả, thoải mái hơn. Sáng mai tôi mời cô với bạn cô đi ăn điểm tâm trước khi bạn cô đi làm. Ðược không?” Cô cười vui vẻ “Cho cháu mời chú. Chú định đến tiệm ăn nào?” “Tôi chẳng biết tiệm nào ăn được. Tùy cô” “Sáng mai, nếu bạn cháu phải đi làm sớm thì cháu đến đón. Chú cho cháu số điện thoại…” “Tôi cũng cần số điện thoại của cô để sau nầy còn có thể gọi hỏi thăm nhau.  Ðến nơi lạ mà có người quen cũng đỡ lẻ loi” “Chú có cần cháu đưa chú về nhà bạn chú không?” “Nhà ở gần đây. Với lại, cô cần đi gấp, không dám làm phiền cô” “Chú bảo cháu ở lại, sáng mai hãy đi nên cháu không vội” “Vậy thì mình ngồi nói chuyện một lúc nữa” Cô lại cười “Cháu cũng định nói như thế” Chuyện trò cũng chỉ quanh quẩn, linh tinh, không đầu không đuôi nhưng cả hai đã qua khỏi giây phút e ngại, trở nên thân mật. Ông nhận thấy cô Trang thông minh, dịu dàng và rất dễ mến. Cô thường lắng nghe và khuyến khích ông nói tiếp “Rồi sao nữa chú?” Ông Tâm kể về bạn bè, về thời còn đi học, về công việc  của mình. Ông thường thêm thắc vào những chuyện vui khiến cô Trang thích lắm, ngồi cười mãi “Chú kể tiếp đi!” Hai người chuyện trò đến gần hai giờ chiều mới đứng lên. Cô Trang đưa ông Tâm về. Sáng hôm sau, ông Tâm báo với bạn “Bữa nay tôi có bạn đến đón đi ăn điểm tâm” Người bạn cười đoán chừng “Bạn gái phải không? Tay nầy giỏi thiệt! Tôi ở đây bao nhiêu năm mà vẫn cô đơn. Thấy ông dậy sớm, định rủ ông đi điểm tâm. Nay có người khác mời thì thôi. Làm li cà phê nầy cho sáng suốt tâm trí mà tán tỉnh người đẹp” Vừa lúc có chiếc xe dừng lại trước nhà, ông Tâm vội vã đi ra. Ông thấy cô Trang hơi lạ và đẹp hơn hôm qua. Một chút phấn hồng, đôi mắt viền đen, chiếc áo điểm hoa trang nhã nhưng sang trọng. Cô nhìn phía trước như chăm chú lái xe vì biết ông đang ngắm cô. Ông Tâm nói “Ðến nơi lạ, tôi khó ngủ, bây giờ hơi mệt” “Cháu cũng vậy. Lạ chỗ. Cháu thức trắng đêm” Ông Tâm cười nói “Ðồng bệnh tương lân” “Nghĩa là sao, chú?” “Cùng có bêïnh giống nhau nên dễ thân nhau” “Nhưng cháu chỉ không ngủ được đêm vừa rồi thôi mà” “Thì tôi cũng vậy” Cô quay nhìn ông Tâm cười “Chú ghê thật!” Ông trả lời “Có được người bạn thông minh, thích lắm” “Cháu ngu lắm. Người thông minh bao giờ cũng biết giữ bí mật những ý nghĩ của mình” “Vậy là tôi cũng chẳng thông minh gì” Cô liếc nhìn ông Tâm “Chú… tức cười quá! Gì cũng giống cháu” Ðến tiệm ăn, hai người lại chuyện trò quên cả thời gian. Họ đã trở nên đôi bạn thân nhưng luôn giữ ý để khỏi bị hiểu lầm.

     Mấy hôm sau, ông Tâm qua San Antonio. Hai người lại gặp nhau. Cô Trang lộ vẻ mừng rỡ, nói cười tíu tít. Lúc ngồi trong tiệm ăn, cô nói “Bữa trước, cháu bị sét đánh gần chết” Ông Tâm ngạc nhiên “Cả tuần nay, trời nắng, đâu có mưa gió gì mà có sét đánh?” “Cháu không biết. Bạn cháu nói cháu bị sét đánh” “Cô làm gì đến nỗi ông trời chỉ sét đánh một mình cô? Sự việc xảy ra như thế nào? Cô có thể kể cho tôi nghe, được không?” Cô cúi xuống, không nhìn ông Tâm, giọng ngập ngừng “Buổi sáng mà cháu từ biệt chú về Austin, cháu bị mất ngủ. Cháu gọi người bạn ở Houston tâm sự linh tinh. Bạn cháu nghe giọng mệt mỏi, tưởng cháu bịnh, hỏi người thấy ra sao? Nếu cần phải đi bác sĩ ngay. Cháu bảo không sao cả, chỉ mất ngủ thôi. Bạn cháu hỏi có chuyện gì xảy ra không? Cháu kể chuyện cháu về Houston mua hàng, gặp chú, chuyện trò mấy lần. Không hiểu sao về ngủ không được! Bạn cháu nghe xong, nói với cháu rằng “Bà bị sét đánh rồi!” Cháu không hiểu, tại sao mình bị sét đánh?” Ông Tâm chỉ đoán lờ mờ nhưng cảm động “Bạn cô hiểu lầm tâm trạng của cô nên nói vậy. Ðúng ra phải nói là bị “tiếng sét ái tình” Có thể cô bất ngờ gặp anh chàng nào, bị xúc động nên không ngủ được” Cô ngẩn lên nhìn ông Tâm “Tiếng sét ái tình là sao chú? Từ bữa đó đến nay, cháu có gặp ai đâu? Cũng chẳng bị ai đánh cả!” “Người ta bảo “Mới thấy đối tượng lần đầu đã yêu ngay là bị tiếng sét ái tình” “Chú giải thích cho cháu nghe xem có phải cháu bị sét đánh không?” “Tôi phải giải thích dài dòng, nghe cho vui chứ chẳng có căn cứ khoa  học nào chứng minh cả” Cô Trang không nhìn ông Tâm “Cháu gặp chú là để nghe chú nói chuyện. Chú nói càng nhiều cháu càng cám ơn chú. Cháu thích nghe chú nói” “Có thể như thế nầy. “Tiếng sét ái tình” do chính mình tự đánh mình chứ chẳng phải ông trời hay “đối tượng” nào đánh cả. Nguyên nhân thì, có thể là. Thứ nhất là người kia có gương mặt giống mình. Ngày nào cũng soi gương, thấy mãi mặt mình, nay bất ngờ thấy đối tượng có gương mặt, đôi mắt, miệng cười… (giống mình mà không biết) thấy “quen quen, thân thiết, đâu như từ kiếp trước”. Vậy là yêu. Hai người yêu nhau lâu bền, đa số có khuôn mặt giống nhau. Một giải thích khác, đó là sự cộng hưởng của tần số giao động sinh lý. Mỗi người có một tần số sinh lý riêng. Khi hai người có cùng tần số giao động giống nhau thì cộng hưởng và tác động mạnh lên tâm sinh lý của cả hai. Giống như radio (máy thu thanh) hay TV, nếu ta điều chỉnh máy thu của ta cùng tần số với đài phát thì ta có hai tần số (giống nhau) cộng hưởng  để cho ta hình ảnh, âm thanh. Ðôi mắt không chỉ tiếp nhận ánh sáng mà còn là cửa sổ của tâm hồn. Chỉ thoáng nhìn thấy nhau mà đã rung động cả thần trí thì có thể gọi đó là “tiếng sét ái tình”. Người vợ hay chồng ở nơi xa, gặp chuyện không may, người phối ngẫu tự nhiên thấy lo lắng, bất an. Ðó gọi là linh cảm. Có những người con chết ngoài mặt trận, báo mộng cho mẹ biết ngay, là thần giao cách cảm” “Nghe chú giải thích cháu mới hiểu. Vậy là không phải cháu bị chú “sét đánh” vì chú với cháu chẳng có tần số dao động nào cả. Cháu mừng lắm. Cháu chỉ sợ thương chú thình lình… thì khổ cháu. Chú thì ở xa… lại chẳng biết gia đình chú ra sao?” “Cô yên tâm. Tôi xem cô như bạn chứ không có tình cảm gì khác. Chuyện mất ngủ, ai cũng có, ít bữa sau ngủ bù. Cũng có thể vì công việc buôn bán, làm cô suy nghĩ, tính toán nên không ngủ được” Cô gật đầu “Chú nói đúng. Mấy bữa nay, cháu cứ nôn nao, muốn về đây mua hàng. Cứ tính mình sẽ mua những gì. Nhưng lại quên. Viết vào tờ giấy rồi cũng bỏ đâu mất tiêu. Cháu lái xe mà hồn vía để đâu đâu. Khi chạy nhanh, khi chạy chậm. Cháu nghĩ, có lẽ mình có hẹn với chú nên mong được gặp chú. Nhưng khi ngồi với chú, cháu chỉ thấy vui thôi chứ không rung động, hồi hộp gì cả” “Cô đừng lo. Người đàng hoàng như cô, vì đã hẹn gặp tôi nên bồn chồn vậy thôi. Tôi hẹn đi uống cà phê với bạn cũng vậy, cứ nhìn chừng đồng hồ mãi. Mà dù cô có xao xuyến, rung động vì người nào đó cũng chẳng tội lỗi gì. Chỉ như một kỷ niệm đẹp để trang trí cuộc đời,  một chút vui, một chút buồn, một chút nhớ nhung, đau khổ… như ăn tô phở phải có chút ớt cay, chanh chua, miễn sau đó thì quên đi cho đỡ rắc rối” “Khi về bên đó, chú nhớ gọi cháu kẻo cháu trông nghe! Nếu chú không gọi thì cháu gọi chú. Có trở ngại gì không chú?” “Giờ làm việc thì hơi bận, nhưng buổi chiều hay tối, cô gọi giờ nào cũng được. Tôi sống một mình, được cô gọi để chuyện trò thì thích hơn mấy ông bạn. Giọng cô dịu dàng, đối đáp thông minh. Cám ơn cô rất nhiều” Cô cười vui “Chú khen cháu, cháu mừng lắm!”

     Thời khoa học tân tiến, chỉ với chiếc điện thoại nhỏ là có thể chuyện trò với bất cứ người nào, nơi nào. Ông Tâm về lại miền đông Hoa Kỳ, thỉnh thoảng hai người gọi hỏi thăm nhau. Cô tâm sự “Không hiểu sao, lối rày cháu thích nghe những bản tình ca. Bây giờ mới thấy hay chứ trước đây cháu ghét lắm” Ông Tâm cười “Chúc mừng cô đã yêu một người nào đó” Cô Trang bảo “Chú tài thật. Cháu đang yêu. Nhưng không phải yêu chú đâu. Chú đừng vội mừng” Cô tỉ tê “Hơn mười năm, cháu lo buôn bán, bòn mót từng đồng, gửi về cho gia đình, cha mẹ, anh chị em. Khi cuộc sống của người thân ở Việt Nam ổn định thì cháu nhìn lại mình mới biết tuổi xuân đã đi qua. Cháu già quá rồi! Lại suốt ngày lẩn quẩn trong tiệm buôn. Mà có ra đường, cũng chẳng ai thèm nhìn. Cháu buồn lắm, nhiều lúc tủi thân, nằm khóc một mình” Ông Tâm an ủi “Sống một mình cũng có cái thú của nó. Không làm phiền ai mà cũng chẳng ai làm phiền mình. Muốn ăn, ngủ, đi chơi đây đó… tự nhiên, thoải mái. Xứ Mỹ nầy, rất nhiều người thích sống độc thân, khi già thì có nhà dưỡng lão lo. Tôi định, khi mình về hưu, sẽ đến thành phố của cô xin vào viện dưỡng lão chờ đến khi cô thành bà lão thì vào ở chung với tôi” Cô cười như reo lên nhưng làm bộ cự nự “Chú đừng hi vọng. Sau nầy, cháu có vào nhà già thì mỗi người một phòng riêng, cháu sẽ không qua phòng chú. Cháu cũng không cho chú vào phòng cháu đâu. Chỉ gọi điện thoại thôi. Nam nữ thọ thọ bất thân mà chú!” “Cô đang cười, chứng tỏ cô không còn buồn nữa. Khi cô vui vẻ thì tôi cũng vui lây. Cô dễ thương lắm!” Cô yên lặng, rồi ngập ngừng như muốn nói điều gì, nhưng cô lại tắt điện thoại, không trả lời.

“A lô! Tôi đang ở thành phố của cô Trang đây” “Chú đến lúc nào vậy?” “Sáng nay đến Austin thăm một người bạn, hiện giờ ghé điểm tâm ở Round Rock. Cô biết tiệm ăn Á Ðông ở đó không? Mời cô đến điểm tâm với tụi tôi” “Cháu có biết tiệm đó. Mươi phút nữa cháu sẽ đến. Gặp chú rồi cháu phải về tiệm ngay. Chú đứng trước cửa nhà hàng đón cháu nghe”.

Cô Trang đậu xe trước tiệm ăn, mở cửa bước ra, dáo dác nhìn quanh. Ông Tâm tiến đến “Trang. Tôi đây nè!” Cô Trang quay lại, lấy tay đè lên ngực “Cháu muốn bể tim vì hồi hộp. Cháu mừng quá! Cả năm mới được gặp lại chú”. “Mời cô vào với tụi tôi” “Cám ơn chú. Cháu không vào đâu. Cháu ngại gặp nhiều người. Bây giờ cháu phải về” “Ủa, gặp nhau, nói mấy câu là hết sao?” “Cháu ước được gặp lại chú. Bây giờ gặp rồi. Chú vào với các bạn chú đi” “Nói với nhau vài câu nữa, không được sao?” Cô Trang mở cửa xe, tần ngần một lúc rồi nói “Chiều nay, lúc bảy giờ, cháu đóng cửa tiệm, sẽ gặp chú ở quán cà phê đằng kia. Một mình chú thôi. Cháu không thích đông người” “Cám ơn cô”.

Ông Tâm nhờ bạn đưa đến tiệm cà phê Starbucks,  bước vào đã thấy cô Trang ngồi trong đó “Cô chờ tôi có lâu không?” Cô lắc đầu “Cháu mới vào. Chú uống gì?” “Cho tôi ly cà phê nóng” Cô đứng lên, đi lấy hai ly cà phê “Chú uống cà phê có bị mất ngủ không?” “Tôi nằm xuống là ngủ liền, nhưng tối nay phải thức để trò chuyện với bạn bè” “Những người dễ ngủ thường vô tâm. Cháu mà được vô tâm như chú thì cháu không đến nỗi già như thế nầy. Cháu già lắm phải không chú?” “Trẻ hơn trước” “Cháu biết chú nói lấy lòng cháu. Ðố chú, cháu có gì lạ không?” “Cô vừa có bồ nên trông tươi tỉnh, vui vẻ” “Chú sai rồi. Cháu mập hơn trước” Ông Tâm tấm tắc “Hèn chi chân tay tròn vo, mặt cũng tròn như của Thúy Vân. Gương trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Cô đẹp như Thúy Vân” Cô lắc đầu, phụng phịu “Chú nói cho cháu vui. Cứ đem Thúy Vân ra so sánh là xong. Nhưng Thúy Vân đâu có đẹp!” Ông Tâm chăm chú nhìn cô rồi nhíu mày, làm như suy tư “Bây giờ cô đứng lên, xoay người để tôi so sánh cô với Thúy Vân, xem ai đẹp hơn”. Cô Trang đứng lên. Cô đánh phấn hồng, môi son nhạt, mắt viền đen. Cô mặc áo pull màu nâu hồng nhạt, bó sát thân hình thon gọn với hai đồi ngực thanh tân, nhỏ như hai quả cam. Quần jean xanh đậm. Hai đùi tròn lẳn, đôi mông tròn, đẹp tinh khiết. Cô yểu điệu quay người một vòng rồi ngồi xuống, đôi mắt long lanh ngước nhìn ông Tâm, chờ đợi. Ông Tâm gục gặc đầu “Mới gặp Thúy Vân, tôi tưởng Thúy Vân đẹp nhất trên đời. Bây giờ gặp cô thì hóa ra cô đẹp gấp đôi Thúy Vân. Thúy Vân mà đứng cạnh cô, mắc cỡ không biết để đâu cho hết”. Cô Trang làm nghiêm “Chú gặp Thúy Vân ở đâu? Lâu chưa?” “Mới đây thôi. Gặp ở quận Cam, bên Cali., Cô ta và Thúy Kiều đi ăn phở với Nguyễn Du, có cả Vương Quan với Kim Trọng nữa. Lâu ngày gặp nhau, chúng tôi mừng lắm!” “Bộ chú cũng quen với Nguyễn Du nữa à?” “Bạn thân mà! Tay bắt mặt mừng đàng hoàng” Cô Trang cố mím môi để khỏi bật cười, mắt đăm đăm nhìn ông Tâm “Chú!” Ông Tâm ngạc nhiên “Cô định nói gì?” “Cháu muốn xô chú ngã xuống đất quá!” “Coi bộ ghét hay giận tôi điều gì?” Cô lắc đầu “Chú làm cháu vui quá, thích quá! Cháu không biết nói thế nào cho chú biết rằng cháu chưa bao giờ được vui như lúc nầy. Cám ơn chú. Chỉ nghe giọng chú nói là cháu đã vui sướng rồi. Từ khi quen chú đến nay, chú đã cho cháu biết bao niềm vui” “Tôi lúc nào cũng cầu mong cho những người thân yêu của mình vui vẻ, hạnh phúc” Tiệm cà phê vắng khách, yên tĩnh, cả hai cảm thấy thoải mái. Cô thu ngân ngồi ở quầy tính tiền thỉnh thoảng nhìn hai người rồi tủm tỉm cười. Cô Trang hỏi chuyện đi đường, chuyện thăm viếng bạn bè của ông Tâm. Hai người mãi chuyện trò, quên cả thời gian. Rồi cô nhìn đồng hồ, thở dài, đứng lên “Cháu phải về”.

Hai người bước ra, đứng trước tiệm cà phê. Ông Tâm nói “Tôi thấy ở đây yên tĩnh, phong cảnh đẹp. Ông bạn rủ tôi ở chơi đến cuối tuần hãy đi” Cô lắc đầu “Không được! Chú không được ở đây. Cháu… sợ lắm!” Ông Tâm ngạc nhiên “Cô sợ gì?” “Cháu không biết. Cháu sợ chú” Cô yên lặng một lúc rồi ngước nhìn ông Tâm, đôi mắt long lanh nước mắt. Cô mím môi “Mai chú đi rồi, phải không? Chúc chú đi bình an, vui vẻ” Giọng cô run run “Từ nay chú đừng gọi cháu nữa. Cháu cũng không gọi chú. Chú hứa đi! Không gọi cháu nữa” Ông Tâm bối rối “Tôi xin lỗi cô. Tôi không hiểu mình đã nói gì mà thình lình cô giận tôi? Hay là cô giận ai?” Cô cúi đầu, yên lặng. Chợt cô ngước lên “Chú ngốc lắm!” rồi cô bước nhanh ra xe. Ông Tâm đứng sửng “Tôi xin lỗi cô. Chiều mai tôi mới lên đường. Sáng mai mời cô đi ăn điểm tâm. Nhớ nghe! Tôi sẽ gọi cô”. Cô lắc đầu, vào xe, lái đi.

Cô Trang cho xe ra đường mà không biết mình đang đi đâu. Tiếng ca nhạc trong xe vang lên nho nhỏ “… Dù tình yêu đã quá xa tầm tay với. Dù mai kia bước chân nầy rã lụi. Thành tượng đá bơ vơ phương trời…”  Nước mắt cô lại ứa ra. Mùa hè, trời vẫn còn sáng nhưng nước mắt làm nhạt nhòa con đường trước mặt. Không thấy rõ đường, cô phải tấp xe vào một công viên, tắt máy, ngồi lặng người. Rồi cô khóc òa, khóc nức nở. Cô nghẹn ngào lí nhí gì đó, như nói với một người vô hình… Một lúc sau cô hết khóc. Cô ngạc nhiên thấy mình sao dễ khóc đến như vậy? Lòng cô đã yên tĩnh trở lại. Cô nhìn vào khoảng không và thở dài… Bóng tối đã tràn ngập công viên, chỉ còn lại chút ánh sáng mơ hồ trên các ngọn cây. Bỗng nhiên, tâm trí cô lại rộn ràng niềm vui lẫn háo hức. Cô lấy điện thoại. Bấm số, áp vào tai. Nghe bên kia chuông reo, cô lại bấm tắt. Và cứ áp điện thoại vào tai, cô thì thầm “Chú ngốc quá! Chú từng viết “Hạnh phúc của anh là khi em đang rơi nước mắt” Thấy cháu khóc mà chú chẳng hiểu gì cháu cả. Sáng mai gặp chú, cháu sẽ trách chú vô tình…”. Ngước nhìn hàng cây phía xa trong công viên, cô tươi cười như đang nói với ông Tâm” Cháu cho phép chú ở đây. Ở đây với cháu. Ðến khi nào chú chán, thì… đi đâu tùy ý”.

Phạm Thành Châu

 

Thư Ngỏ Gởi Nhân Dân Việt Nam và Nhân Dân Hoa Kỳ: Tôi Không Bao Giờ Quên

Dưới đây là bản dịch sang tiếng Việt của một bức thư ngỏ mà Giáo Sư Sử Học người Mỹ, tên Bill Laurie, PhD, cư ngụ tại tiểu bang Arizona, đã gửi đến cho người bạn Việt Nam của mình ngày 30/10/2016 vừa qua.,

Theo GS Laurie, bức thư ngỏ này đã được đăng trên nhật báo Saigon Post ngày 17/4/1975, một tờ báo Anh ngữ xuất bản ở Saigon trước đây. Tác giả bức thư ngỏ giấu tên, và lý lịch của ông cũng không tìm ra được. Chỉ biết tác giả, theo GS Laurie, là một người đã từng phục vụ nhiều nhiệm kỳ ở Việt Nam.  GS Laurie cũng cho biết thêm là khi bức thư được đăng thì cũng là lúc trận đánh Xuân Lộc trở nên ác liệt và Cộng quân với đạn dược và vũ khí tối tân đang tiến về Saigon.

Ban Biên Tập xin cám ơn GS Laurie; người bạn Việt nhận bức thư; và GS Cao Thị Lễ, người đã sưu tầm và dịch bức thư ngỏ này.

Đó là tháng 8 năm 1966. Lúc ấy tôi là một thanh niên 20 tuổi với đầu óc đầy những lý tưởng học được từ sách vở nhà trường và nhiệt tình yêu nước, khi bước xuống chiếc phi cơ 707 mang tôi từ một nơi an toàn với một cuộc sống thoải mái đến sân bay nóng bức của phi trường Tân Sơn Nhứt, Việt Nam. Khi ấy tôi không ngờ là xứ sở nhỏ bé và dân tộc nầy đã xâm chiếm hồn tôi trong năm sau đó, và sau nầy đã trở thành một phần của tim tôi và cũng là một niềm đau riêng tư của tôi.

            Kể từ ngày ấy và trong rất nhiều năm về sau, tôi vẫn giữ những ký ức về Việt Nam và dân tộc nầy, mà một số ký ức đem lại cho tôi nụ cười và hạnh phúc, và một số khác đem lại cho tôi nước mắt, khổ não và giận dữ. Nhưng ký ức mà tôi trân quý nhứt là một nước Việt Nam của năm 1966, với một dân tộc trầm lặng, bình dị và lễ độ, ký ức của một “Viêt Nam của người Việt Nam” .  Và có cả ký ức về sự hãnh diện của một người Mỹ đã đóng góp vào chính nghĩa “tự do và dân chủ” của đất nước nầy.

            Năm đầu tiên của tôi qua nhanh, và tôi trở về với đời sống dân sự, trở về với cuộc sống an bình. Nhưng tôi cảm thấy có điều gì không đúng. Tôi không cảm thấy thoải mái trên đất nước của tôi nữa. Tôi cứ nhớ đến vẻ đẹp trầm lặng với những đêm ấm áp đầy hương vị của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy nhớ nhà. Tôi tự bảo điều nầy không đúng. Làm sao tôi có thể nhớ nhung một nơi không phải là nhà của tôi? Nhưng cảm nghĩ nầy vẫn không phai đi.

            Vì thế, tôi làm một quyết định sau cùng. Tôi  tái ghi tên vào Quân Đội và trở lại Việt Nam, trở lại đất nước mà tôi biết là tôi đã yêu.  Khi tôi trở lại, thì Việt Nam mà tôi rời chỉ trong vài tháng ngắn ngủi đã không còn nữa.  Tôi nhận thấy là tôi không bao giờ được thấy lại Việt Nam 1966, và điều nầy làm tôi rất buồn phiền.

Con số quân sĩ Mỹ đến càng ngày càng nhiều và sự căng thẳng giữa người Mỹ và người Việt càng ngày càng lan rộng và trầm trọng. Tôi rất buồn khi nhìn thấy tiền bạc của người Mỹ đã làm hư hỏng những ngưòi Việt bình dị và hiền lành, đem lại sự tham lam, và việc nầy làm cho nạn tham nhũng lan tràn. Tôi cảm thấy chua xót và khổ não  khi chứng kiến nước Mỹ đã phá  đi một “nước Việt Nam của người Việt Nam” và xây dựng một ”Việt Nam của người Mỹ”. Một Việt Nam Mỹ hoá chỉ đẹp đối với những kẻ thừa cơ hội chiến tranh làm giàu. Nhưng đối với mọi người khác thì đây là điều nhục nhã. Dân tộc Việt Nam bị hạ thấp vì bị ngưòi Mỹ lấn áp. Họ bị mất đi niềm hãnh diện và cảm thấy thấp kém. Đối với những ngưòi không cảm thấy thấp kém, những ngưòi vẫn còn giữ niềm hãnh diện, thì điều nầy gây ra sự thù ghét và khinh bỉ. Sau khi nước Mỹ đã lấy đi niềm hãnh diện và tự trọng của dân tộc Việt Nam và thay thế bằng sự vô dụng và lệ thuộc vào người Mỹ, khi các lãnh đạo vĩ đại và các chính trị gia của nước tôi tuyên bố là chúng ta phải Việt Nam hóa chiến tranh để nước Mỹ có thể thoát ra khỏi “vũng lầy” Việt Nam.

 Hòa Đàm Paris được khởi sự để Việt Nam có thể được “Hòa Bình trong Danh Dự” với “ Tự Do và Dân Chủ “ cho nhân dân Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng, ngày trọng đại đã tới, “Hiệp Định Hòa Bình Paris” được ký kết. Người Việt một lần nữa hy vọng, sau bao nhiêu năm đầy nước mắt, những khổ đau, sợ hãi, chết chóc và tàn phá do chiến tranh gây ra sẽ chấm dứt. Nhưng tôi không tin điều nầy, dù chỉ trong phút chốc, là chiến tranh sẽ chấm dứt. Những lý tưởng học từ nhà trường, niềm tin tưởng nơi người Mỹ và những điều tốt lành nơi họ đã bị tan vỡ từ lâu, từ việc một người tớ gái bị hãm hiếp đến thảm kịch Mỹ Lai. Tôi biết là đối với Việt Nam và dân tộc Việt, hòa ước không có nghĩa gì, và những hứa hẹn của các nhà ngoại giao uy tín chỉ là rổng tuếch như cây mục. Tôi đã biết là hòa uớc nầy chỉ giúp Mỹ ra khỏi vũng lầy mà họ đã tạo ra mà thôi.

   Tôi chỉ còn lại có một hy vọng, một ước mơ khi người Mỹ và Đồng Minh rời khỏi Việt Nam.  Đó là nước Mỹ sẽ cung cấp cho Việt Nam những khí giời, đạn dược và trang thiết bị, và quý vị, nhân dân Việt Nam, sẽ chữa lành niềm tự hào bị tổn thương, tìm lại được niềm tự trọng và tận lực tranh đấu đến chiến thắng với kẻ xâm lăng man rợ. Uớc mơ và hy vọng nầy đã bắt đầu thành hình.  Các bạn đã tìm lại niềm hãnh diện và tự trọng và tôi đã rất vui. Nhưng mà điều tệ hại đã xảy ra, các lời hứa bị phản bội, các viện trợ không còn đến nữa.  Các bạn vẫn tiếp tục đấu tranh, tử trận hay bị thương vì tổ quốc của mình. Các bạn đã yêu cầu giúp đỡ từ những người đã nói những lời “rổng tuếch”, đã ký vào những ”tờ giấy vô nghĩa“ và đã bỏ rơi các bạn. Một lần nữa các bạn đã cố nén niềm hãnh diện và cầu cứu một cách vô vọng. Vì thế những người Mỹ nhân đạo đã gởi một phái đoàn Đại Biểu Quốc Hội đến đất nước của quý các bạn. Khi đến, họ thấy con cháu của những kẻ giàu cưỡi xe gắn máy với những mái tóc dài và những cặp mắt dại đi vì nha phiến, họ thấy những kẻ làm giàu nhờ chiến tranh lái những chiếc xe ngoại quốc đắt tiền và đến những hộp đêm. Họ tiếp xúc với giới lãnh đạo và các tướng tá của các bạn, sau đó họ cho là họ thấu hiểu tình hình Việt Nam và có cơ sở để cảm thấy lương tâm nhẹ nhàng vì đã phản bội các lời hứa trước kia.

     Và bây giờ, quý vị Dân Biểu “đáng kính” (?), những vị đã được cử đến để tìm hiểu tình hình Việt Nam và đã đưa ra những khuyến cáo trên. Vài vị trong các Dân Biểu vĩ đại nầy đã khuyến cáo ngưng viện trợ cho Việt Nam, vài vị đề nghị chỉ viện trợ thức ăn và thuốc men thôi.  Các vị nầy sẽ thấy lương tâm thoải mái nếu quý vị chết với bụng no thay vì bụng đói.  Một trong các  chuyên viên nhân đạo ấy đã nói như thế nầy: ”Sớm muộn gì Cộng sản cũng chiếm được toàn bộ Việt Nam vì tính bạo dạn (aggressiveness), ý chí và chủ đích của họ hiện giờ đã vượt qua tính bạo dạn, ý chí và chủ đích của dân chúng Miền Nam Việt Nam.

    Có đúng như thế không? Tôi tự hỏi ai đã gán cho quý vị một “chủ đích” rồi lại xây lưng khi sự việc trở nên khó khăn? Ai đã đẩy “chủ đích” của quý vị vào vũng bùn ở Đồng Bằng sông Cửu Long? Ai đã dẩm nát “tính bạo dạn” của quý vị trong bụi đỏ của vùng Cao Nguyên? Ai đã nhận chìm “ý chí” của quý vị trong Biển Nam Trung Hoa ngoài khơi Đà Nẳng? Chúng ta biết ai đã làm thế phải không quý vị? Đúng rồi, chính Phái Đoàn Mỹ đã đến, quan sát và tìm hiểu nhưng họ đã không đi để thấy quý vị đang run rẩy trong cơn mưa lạnh, họ không thấy con cái của quý vị với những cặp mắt sợ sệt, họ không nghe những tiếng rên la của những người đang hấp hối … họ không đi để xem máu chảy từ các vết thương của quý vị, họ không nhìn thấy quý vị với những hơi thở cuối cùng. Họ không chảy nước mắt, không nức nở trước các cảnh nầy. Họ không hề quỳ xuống để cầu nguyện trước những bất hạnh của quý vị. Họ đã trở về những ngôi nhà an bình, đầy đủ tiện nghi của họ ở Hoa Kỳ. Gia đình của họ không bao giờ biết đói là gì. Họ không bao giờ phải ngồi một mình trong đêm khuya để quyết định có nên giết vợ con mình để họ không phải đau đớn vì bị tra tấn khi bị bọn Cộng Sản ác độc bắt được. Họ không bao giờ phải lo sợ những mảnh đạn pháo xé nát gia đình và bạn bè của họ. Các bạn thân mến, tôi e là những khẩn cầu của các bạn sẽ lọt vào những lổ tai điếc. Những lổ tai đã bị bịt kín bởi sự nhẫn tâm và sự thờ ơ, sản phẩm của sự sung túc giàu có. Xin các bạn đừng thèm muốn sự sung túc của người Mỹ vì, như các bạn đã thấy, họ đã bán linh hồn của họ để mua sự sung túc nầy.

    Và như vậy, các bạn thân mến, trong 9 năm qua, tôi đã từng gắn bó với các bạn.Tôi đã thương mến các bạn và đôi khi ghét các bạn. Tôi đã từng cuời cũng như khóc với các bạn, và có thể là trong những ngày sắp tới, tôi sẽ cùng chết với các bạn, và nếu như thế thì chúng ta đành chấp nhận.

   Hỡi đất nước Hoa Kỳ!  Mọi người có muốn biết Việt Nam hiện giờ ra sao không? Nước Viêt Nam của năm 1975 mà Hoa Kỳ đã tạo ra? Xin hãy nghe đây!

   Vài ngày trước đây, khi ngồi trên xe buýt trên đường đi Biên Hòa với vợ tôi, tôi thấy có hai đứa bé đang khóc vì mẹ chúng đang đi tìm cha chúng, một quân nhân đã trốn khỏi vùng Cao Nguyên, do đó chúng phải về nhà một mình . Một người đàn bà khác đang khóc vì đứa con vừa mới được chôn cất xong. Một người đàn ông đang khóc vì đã mất cả gia đình ở Huế. Một người đàn bà khác cho chúng tôi xem hình của chồng và năm đứa con của bà đang bị kẹt ở Đà Nẳng khi thành phố nầy bị mất vào tay Cộng Sản, và khi bà nói bà đã khóc nức nở. Tôi phải quay sang phía khác. Tôi không dám nhìn thẳng bà nữa. Điều mà tôi có thể làm là cúi đầu và nhìn xuống sàn xe vì hổ thẹn. Tôi cảm thấy nghẹn ngào truớc sự đau buồn của bà và tôi đã chảy nước mắt .

   Đó là nước Việt Nam của ngày nay đó. Tất cả buồn phiền, đau đớn, máu xương và nước mắt không ngưng. Đó là nước Việt Nam mà quý vị, các nhà nhân đạo vĩ đại của Hoa Kỳ, đã tạo dựng nên. Nước Việt Nam mà quý vị đã từ chối trách nhiệm và quay lưng phản bội.

   Ngày nay mỗi khi đọc báo, tôi cảm thấy buồn phiền làm tôi nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi và hổ thẹn vô cùng. Một sự hổ thẹn không phải do tôi giúp làm ra, nhưng tôi phải gánh chịu vì tôi là một người Mỹ.

    Khi quý vị nói lên những “câu rổng tuếch” và ký vào những “tờ giấy vô nghĩa”, hơi thở của quý vị làm người Mỹ chảy máu, chảy máu như những đứa trẻ con Việt Nam đang chảy máu. Trái tim của quý vị làm người Mỹ bị hôi thối, hối thối như những xác chết đang rơi rãi trên “con đường máu và nước măt” dài trăm dặm từ Cao Nguyên đến bờ biển. Quý vị đã phủi tay đối với Việt Nam, nhưng quý vị đã phủi tay trong nước mắt và máu của các bạn và dân tộc mà tôi yêu thương.

   Qua sự nhẫn tâm, vô cảm và không can thiệp của mình, quý vị đã đồng ý với những người cộng sản man rợ ở miền Bắc, quý vị đã đồng ý với sự hủy diệt một quốc gia và một dân tộc,mà quý vị đã từng gọi là bạn, đồng minh, là những người yêu nước . Những lời ấy đối với tôi hôm nay chua chát biết bao.

   Vậy thì dân chúng và những nhà lập pháp tốt bụng vĩ đại Hoa Kỳ, quý vị hãy trở về ngôi nhà  đẹp đẽ của quý vị, ăn những thức ăn bổ dưỡng, ngồi trên những chiếc ghế êm ái, uống cà phê, đọc những bài báo về những nổi hãi hùng và thảm kịch đang xảy ra ở Việt Nam, quý vị buông lời “thật là đáng tiếc”. Quý vị sẽ đi ngủ trong nệm ấm chăn êm với một lương tâm thanh thản. Nhưng khi quý vị giật mình thức giấc trong cái tĩnh mịch nửa đêm, và không biết tại sao, thì hỡi những người Mỹ, quý vị hãy lắng nghe, lắng nghe cho thật rõ, yên lặng mà nghe, thì quý vị sẽ có thể nghe dân tộc Việt Nam đang rên siết trong gông cùm, đau đớn, với những vết thưong bởi đạn pháo, quý vị sẽ nghe họ gọi đúng cái tên “đích thực” của quý vị ra.

   Ngày lễ Phục Sinh vừa đi qua.  Khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài cầu nguyện:  “Lạy Cha, xin Cha tha tội cho họ vì họ không biết việc họ làm.” Quý vị đã đóng đinh Việt Nam trên thập tự giá. Tôi không có được sự cảm thông của Chúa Jesus, và tôi không bao giờ cầu xin Thượng Đế tha tội cho quý vị vì quý vị quả thực biết những gì quý vị đã làm; và tôi không bao giờ, chẳng bao giờ tha thứ hay quên những gì quý vị đã làm cho Việt Nam. Không bao giờ tôi còn cảm thấy hãnh diện là một người Mỹ. Sẽ không bao giờ tôi còn có thể ngửng đầu lên và cảm nhận yêu tổ quốc mình nữa như nhiều năm trước đây.

Bây giờ tôi chỉ còn biết cúi đầu vì hổ thẹn. Hỡi đất nước Hoa Kỳ chẳng ra chi kia, ngươi đã làm tổn thương ta đến tận đáy tâm hồn. Chính đất nuớc nầy đã hủy diệt đất nước Việt Nam thương yêu của ta.

Tái Bút: Tôi xin giấu tên vì lý do an nguy cá nhân. Nếu quý vị thấy bài nầy đáng được phổ biến thì xin đăng vào các báo Việt Nam. Tôi rất vui nếu dân chúng Việt Nam biết là có một người Mỹ nào đó cảm thông tình cảnh đất nuớc mình.