Hy Vọng Khởi Đi Từ Màu Đen

Nguyễn Quang Dũng

1.

Tháng 5 1981. Tôi và vợ cùng hai đứa con, một trai một gái, quyết định vượt biển, vượt thoát khỏi quê hương Việt Nam khốn khó đang sống ngột ngạt trong cuộc đổi đời dưới chế độ kiểm soát tù tội của chính quyền cộng sản từ phương bắc.

Đây là lần vượt biên thứ tư của gia đình tôi, ba lần trước đều bị bỏ rơi, phải trở về, may mắn là không bị bắt, cũng như chưa ra biển.

2.

Lần này, chuyến vượt biên thành công. Chiếc tàu nhỏ dùng chạy đường sông được sửa mủi tàu để có thể vượt sóng biển, thoát khỏi lòng sông ở cửa Cần Giờ, Long An, trực chỉ biển lớn.

Những người tổ chức của chiếc tàu vượt biên mang theo 60 người, mãi mấy ngày sau tôi mới biết, chỉ có một kế hoạch duy nhất là chạy ra hải phận quốc tế và tìm tàu lớn để mong được cứu vớt. Chúng tôi mất đúng năm ngày đêm chỉ để thực hiện được mục tiêu này: Chạy được tới hải phận quốc tế, tìm thấy được nhiều chiếc tàu hàng hải lớn. Nhưng duy chỉ là mỗi lần xả máy lại gần để cầu cứu thì những chiếc tàu sắt lớn này im lặng lừng lững bỏ đi, không hề quan tâm đến những dấu hiệu S.O.S của chúng tôi.

Ngày thứ sáu lênh đênh giữa biển khơi trong những cuộc đuổi bắt và cầu cứu vô vọng, tôi biết được từ người tổ chức là chiếc tàu nhỏ của chúng tôi đã gần cạn xăng dầu và nước uống. Sẽ phải ngưng lại việc rượt đuổi theo tàu lớn và nước uống sẽ được phân phối hết sức hạn chế .

Những mệt mỏi. lo âu và thất vọng hiện ra ở gương mặt mỗi người lớn. Những đứa nhỏ nằm la liệt trên sàn tàu, ói mửa, hốc hác…

Tối hôm đó. Biển động.

Trời đen.

Biển đen.

Những con sóng đen ngòm, với độ cao và độ nghiêng đến chóng mặt.

Lần đầu tiên trong đời, tôi ở trong lòng biển động, giữa trùng khơi sâu thẳm.

Tôi sống ở Nha Trang từ nhỏ. Biển vẫn là niềm vui và gần gủi trong đời sống của tôi. Khi lớn lên, hàng ngày trước khi đi học, tôi thường ra biển từ sáng sớm để ngụp lặn bơi lội trong làn nước xanh mặn mát ấm. Biển do vậy là những nỗi niềm thân thiết rất riêng tư của tôi. Tôi biết Biển có những lúc là Biển của hiền hòa yên tĩnh, cùng nhịp với tiếng gió thông reo hay ánh trăng đêm rằm nhẹ nhàng tỏa sáng mặt biển đêm. Tôi biết Biển có những khi gầm thét, hung dữ trong những ngày bão lớn với những con sóng xám đen cao ngất lừng lững từ xa chạy vào và đập vỡ tung bờ cát trắng.

Nhưng tôi chỉ mới biết Biển khi chân tôi đứng trên mặt đất yên ổn nhìn Biển cuồng nộ. Chưa một lần tôi cảm nhận được cái nhỏ bé mong manh đến không tưởng của chiếc tàu nhỏ  như một cọng rơm giữa biển đen sóng dậy. Không một chỗ tựa. Tôi nhìn thấy chung quanh tôi là biển nước đen ngòm hun hút đến tận trời xa đen thẳm. Biển động đang sắp sửa nhận chìm chúng tôi xuống đáy biển sâu!  Ý tưởng đó, sắc như con dao nhọn bén, đâm thẳng trong đầu tôi.

Sợ hãi ập tới. Như con sóng lớn đen ngòm kia đang ập tới, nhận chìm và chiếm ngự  tôi trọn vẹn. Không gì cản nỗi.

3.

Sợ hãi là một thứ tình tự lạ lùng và ma quái. Tôi nhận ra trong đời tôi, tôi có nhiều nỗi sợ linh tinh, thường là những dấu hiệu báo trước một loại hiểm nguy hay bất trắc nào đó tôi nhắc tôi nên tránh. Tôi gọi nó là sợ hãi nhỏ. Thường vì nhỏ nên chuyện vượt qua loại sợ này cũng là chuyện nhỏ.

Nhưng tôi cũng nhận ra sự hiện hữu của một thứ sợ hãi với mức độ và tầm cỡ kinh khủng, ảnh hưởng và tác động cùng lúc trên nhiều người. Thứ sợ hãi này liên quan đến những biến cố lớn trong đời sống mỗi người.  Và cũng thường tình, người ta dùng màu đen để diễn tả một cánh ngắn gọn nhưng đầy đủ về những biến cố mang tính phá hoại hay bi thảm này. Tháng Tư Đen chẳng hạn, tên gọi ngắn cho  biến cố 30-4-1975, nhận chìm hàng triệu người miền Nam Việt Nam trong bóng đen của sợ hãi, chết chóc và bi thảm trong thân phận những người thua trận và mất nước.

Trải qua và vượt qua biển nước mênh mông đen kịt tối hôm mưa gió đó, tôi nhận ra tại sao màu đen gắn liền với sợ hãi trong tôi bấy giờ:

Đơn giản bởi vì tôi sợ những gì tôi không hình dung, không thấy được.

Biển động ngoài trùng khơi xa thẳm hôm đó chỉ toàn là một màu đen.

Biển đen. Trời đen.

Trong bóng tối, tôi không nhìn thấy được gì ngoài màu đen. Và chính trong khoảnh khắc đó, tôi nhận ra tôi không là gì hết khi đem cái hữu hạn của tôi đặt trước cái vô cùng của trời đất. Những gì tôi biết, tôi thấy, không là gì hết trước khoảng không của hằng hà vô số những gì tôi không thể biết và không thể thấy.

Chỉ như vậy: Tôi sợ.

 

4.

Tháng 4 năm 2020, Tháng Tư Đen của cả thế giới.

Con vi khuẩn nhỏ nhưng với khả năng phá hoại khủng khiếp đã làm cả thế giới sợ hãi.

Cho đến nay, đầu năm 2021, hàng triệu người chết. Hàng triệu người bị lây nhiễm phải nhập viện và vất vả chiến đấu tồn sinh. Đời sống và sinh hoạt thường nhật bị xáo trộn đến cùng cực. Lệnh cách ly và hạn chế mọi sinh hoạt tụ họp hay sinh hoạt mang tính giao tiếp làm mọi người co rúm trong sợ hãi.

Cha mẹ con cái xa cách ông bà. Người yêu người không còn biểu hiện ở những xiết chặt của vòng tay ôm, không còn những nụ hôn gần gũi ngọt ngào, không còn những nụ cười vui. Không còn ai thấy ai. Tôi có cảm tưởng dường như những ngày tháng của Tháng Tư Đen 46 năm trước lại trở về. Người xa người trong những chia xa, ngăn cách.

Và tôi cũng nhận ra len lõi đâu đó trong tâm trí dường như là nỗi sợ hãi khi đối diện với nhiều điều tôi không biết, không thấy được và không lường trước được. Con vi khuẩn nguy hiểm lây lan trong không khí là kẻ thù độc hại và khi nhìn thấy nó thì đồng nghĩa là tôi đã gục ngã. Nỗi sợ hãi này không khác gì nỗi sợ lúc tôi ở trong lòng biển đen trong chuyến vượt biển năm nào.

Chỉ khác một điều: Vào Tháng Tư Đen 1975 tôi biết rất ít về những gì sắp sửa xảy ra trong lúc ở Tháng Tư Đen 2020 thông tin về dịch bệnh lại nhiều đến mức không tưởng. Các cơn bão thông tin này với những phương tiện truyền thông hiện đại từ những chiếc điện thoại cầm tay nhỏ xíu lan truyền đi rộng rãi, khuếch tán lớn thêm mãi về cái hữu hạn của kiến thức loài người hay những-điều-không-biết của con người đứng trước bệnh tật.

5.

Nhưng điều tôi chưa viết ở đây là tối hôm biển động trong chuyến vượt biên của tôi và gia đình, đêm tối tôi tưởng là đã vùi thây trong lòng biển như hàng trăm ngàn thuyền nhân khác trên đường tìm tự do, biển lớn hay Trời Phật đã nhẹ tay không dìm chết những sinh mạng nhỏ nhoi kia, trong đó có tôi, đang loi ngoi trên làn nước mênh mông. Và còn ban phát những giọt nước cứu tinh.

Là mưa. Những giọt nước mưa lúc đó quý hơn vàng. Trong đêm tối, mưa ướt ngọt trong môi miệng tôi. Chúng tôi loay hoay hứng mưa dự trữ nước uống, cộng thêm kinh nghiệm của người lái tàu biết cách cỡi sóng và nhờ vậy cầm cự, sống sót thêm được vài ngày. Hai ngày sau, sau khi bàn thảo rút kinh nghiệm, chúng tôi đổi cách cầu cứu: Chiếc tàu nhỏ của chúng tôi sẽ ngừng máy, thả neo, đốt khói đen, giăng bản vải S.O.S và khi thấy tàu hàng hải lớn thì những người biết bơi sẽ nhảy xuống biển vẫy tay kêu cứu.

Kế hoạch này thành công một nửa: Một tàu hàng hải của Trung Cộng đã dừng lại cung cấp cho chúng tôi mọi thứ cần thiết: thức ăn, nước uống, xăng dầu và quan trọng nhất là bản đồ hàng hải hướng dẫn chúng tôi đi đến Mã Lai. Họ không cứu chúng tôi âu cũng là may mắn vì dĩ nhiên là chúng tôi không muốn chạy họa cộng sản lại đến một xứ cộng sản khác.

Bốn ngày sau đó chúng tôi tấp vào thương cảng Singapore thì bị tàu tuần quốc gia này kéo ngược ra, bảo là họ không nhận người tỵ nạn từ Việt Nam, họ khuyên chúng tôi đi đến Phi Luật Tân. Không còn cách nào khác hơn, tàu chúng tôi đâm vào bờ biển Mã Lai, thả người vào bờ và đục tàu, đánh chìm chiếc tàu nhỏ. Sáu chục thuyền nhân của tàu chúng tôi sau đó cũng gia nhập đại gia đình của người Việt tỵ nạn tại đảo Pulau Bidong.

 

6.

Tôi nhận ra trong tuyệt vọng của đói khát và đối diện với tử vong trong chuyến vượt biển năm nào thì hy vọng đến cho tôi cơ hội tiếp tục tồn sinh.

Đến bây giờ có một lý lẽ rất đơn giản mà tôi trực nghiệm từ những trải nghiệm của đời sống là tôi luôn sống trong cái hữu hạn của kiếp người. Cái biết của tôi không là gì hết trong cái vô hạn của Trời Đất.

Cũng cho đến bây giờ tôi vẫn còn tự hỏi: Làm sao tôi còn sống sót trong lúc hàng trăm ngàn người vượt biển tìm tự do  như tôi vùi thây trong lòng biển sâu? Có chăng Trời Phật với những sắp xếp mà loài người không biết được?

Và tôi cũng như triệu tỷ người khác trên trái đất này là những kẻ không-hiểu-gì, loay hoay cả đời trong những tất bật mang tính đối cực, nhị nguyên, cái lý lẽ hai-mặt-của một-đồng-tiền: Sáng-Tối. Vui-Buồn. Sướng-Khổ. Thăng-Trầm. Giàu-Nghèo. No-Đói. Trẻ-Già. Khóc-Cười. Sống-Chết…

Nhưng có một điều tôi hiểu rõ, một cách chắc chắn, là không khi nào tôi có thể ở mãi trong một mặt của đời sống. Tôi không thể có bình an mãi được vì đời sống vốn đầy dẫy những bất an giăng bủa chung quanh. Tôi không thể sống khỏe mãi được vì hàng triệu vi khuẩn gây đủ thứ bệnh tật tìm đủ mọi cơ hội để xâm nhâp các cơ quan chức năng của cơ thể tôi. Và không chóng thì chầy thì tôi sẽ chết vì lẽ đơn giản tôi không thể sống mãi được. Vậy thì tại sao tôi phải sống co rúm trong sợ hãi vì mãi lo bám víu một mặt nào đó của cái đồng-tiền-hai-mặt?

Cũng như trong bóng tối mênh mông của đêm trên biển động tôi tìm thấy hy vọng từ những giọt nước của Trời. Và sau đó là ánh sáng và bình lặng của Biển lớn.

Cũng như lúc này, ở đây,  trong trắng lạnh của tuyết giá một ngày cuối năm âm lịch tôi nhìn thấy con chim anh vũ đỏ từ đâu bay lượn về đáp xuống trước sân nhà bình thản  ngắm tuyết rơi.

Ơ hay! Nếu tôi không biết gì về cái lẽ chuyển vận vô hạn, vô cùng của Trời Đất, của Sống và Chết, thì không có lý do gì tôi phải sống trong lo sợ và bám víu. Buông Xả tôi sẽ Nắm Bắt được Cái Đẹp của màu đỏ con chim Anh Vũ trên màu trắng của Tuyết.

Còn gì cần thiết phải nghĩ ngợi lôi thôi?

Nguyễn Quang Dũng

tháng 2/2021

Vợ Vắng Nhà Và Chuyện Nàng Hoa Phượng       

Truyện vui Phạm Thành Châu

Có một triết gia đã nói một câu mà quí ông rất thích “Người đàn ông có hai lần hạnh phúc. Lúc cưới vợ và lúc trở lại thành độc thân” Vì sao? Vì vợ nói nhiều quá và bị (phải) ăn các thứ vợ nấu. Vợ nói nhiều xảy ra từ thời con người còn ăn lông, ở hang. Đàn ông muốn săn thú rừng phải im lặng. Gây tiếng động thì con thú chạy mất! Trong lúc quí bà, trong hang đá “Tùng tam tụ ngũ”, chuyện trò với nhau, chờ chồng đem thịt rừng về nhậu. Đó là xét theo khảo cổ học. Theo nghiên cứu khoa học, thì trường y khoa Indiana ở Indianapolis cho biết, đàn ông chỉ dùng nửa bán cầu não, có tên là Temporal Lobe để nghe và nói. Các bà thì dùng cả hai bán cầu não. Bởi thế các bà học ngoại ngữ rất tài và có thể nói suốt ngày đêm không mỏi miệng. Còn theo thống kê thì mỗi ngày, quí ông, trung bình, nói hai nghìn (2,000) tiếng. Quí bà nói năm nghìn (5,000) tiếng. Đa số là để la lối với chồng con và “Thế hả?” với các bà bạn trên điện thoại. Đức Khổng Phu Tử kính mến đã nhiều lần thở dài mà rằng “Ba bà thành cái chợ!” Có ông kia, đi uống cà phê với bạn, báo tin.

– Tôi sắp li dị vợ.

Hỏi vì sao? Ông ta thở dài.

– Nó không hề mở miệng nói với tôi lời nào!

Các ông cười, chế nhạo.

– Xạo hoài! Liên Hiệp Quốc vừa công bố: Sinh vật quí hiếm (người vợ ít nói) đó đã tuyệt chủng từ lâu rồi!

Ông khác thì theo năn nỉ.

– Ông muốn vợ nói nhiều thì đổi vợ cho tôi đi. Vợ tôi nói nhiều quá. Chịu hết nỗi. Khi ngủ nó cũng “mớ”, miệng lảm nhảm suốt đêm.

–  OK! Đổi thì đổi, nhưng không được trả lại.

Một ông khác khoe.

– Tôi có cách làm bà vợ hết nói. Để tôi kể cho quí vị nghe. Vợ tôi cũng nói cả ngày lẫn đêm. Một buổi tối, lên giường, tôi nói. “Em chiều anh đêm nay,được không?” Nàng hỏi. “Trong bao lâu?” Tôi nói “ Suốt đêm nay” Nàng hỏi “Sao bữa nay hăng quá vậy?” Tôi nói “Em cứ nhắm mắt ngủ. Đừng nói gì hết! Chuyện đó để anh lo” Nàng vui vẻ nhắm mắt ngủ (trong thế chờ!). Tôi cũng ngủ một giấc đến gần sáng thì thức dậy sửa soạn đi làm. Nàng chợt thức giấc, ngạc nhiên và giận dữ. Nói “Suốt đêm ông ngủ khò. Bắt tôi đi ngủ sớm mà có làm gì đâu? Bây giờ, dậy sớm để chạy làng phải không?” Tôi nói “Anh cần em chiều anh, là đi ngủ sớm, đừng nói gì cả để anh ngủ yên, lấy sức, sáng nay đi làm sớm”

Mấy ông gật gù.

– Hay. Hay! Rồi sao nữa?

– Thì nàng níu áo, bắt đền. Tôi “phải trả nợ quỉ thần”, lại đi làm trễ giờ.

Đọc đến đây, làm gì cũng có bà tức giận.

– Bộ các ông không nói nhiều sao?

– Xin thưa quí bà. Có ạ! Đó là cố đồng chí chủ tịch Phidel Castro của nước Cuba, từng đọc một bài diễn văn dài hơn 3 tiếng đồng hồ trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.. Và mới đây thôi đồng chí Kim Jong Un chủ tịch Bắc Hàn, thay vì đọc lời chúc Tết đầu năm 01-01-2020, đồng chí Un kính mến họp Hội Nghị Quân Ủy Trung Ương Mở Rộng, đã đọc một bài diễn văn dài bảy (7) tiếng đồng hồ. Đồng chí nào ngồi nghe mà ngáp hoặc ngủ gục thì tức khắc bị lôi ra, cho đi tàu suốt, ra nghĩa trang buồn, nằm nghe dế kêu.

Quí bà lắm lời trong nhà là chuyện bình thường. Vậy chứ có bà nào nói nhiều trước công chúng không? Nhiều lắm! Điển hình như tờ Spunik cho tin. Ngày 01 tháng 2 năm 2020, bà Bộ trưởng Tài chính Sithraman phát biểu trước Quốc hội Ấn Độ dài 2 giờ, 38 phút khiến các ông nghị sĩ ngáp dài vì quá ngán.

Vợ hắn thì hơn các bà khác. Vừa nói vừa nạt vừa đánh chồng. Đi làm về, đã thấy nàng đứng chống nạnh với cái chổi lông gà.

– Ông nhìn đồng hồ coi! Giờ nầy mới mò về. Theo con đĩ chó nào mà về trễ cả nửa giờ? Đừng nói kẹt xe với tôi.

Và nàng vung cái chổi lông gà lên. Chỉ một cái lắc mình, hắn đã đứng xa nàng hai trượng, vòng tay thủ lễ.

– Tiểu nhân có điều gì thất thố, xin phu nhân lượng thứ!

Nàng bậm môi, tung chổi, tấn công liền. Hắn lùi lại.

– Tiểu nhân đi đây!

Rồi dùng thuật phi hành phóng chạy. Nàng ì ạch, như con vịt bầu, đuổi theo, miệng nheo nhéo.

– Đồ đàn ông mất nết. Có giỏi thi đứng lại!

Hắn chạy quanh nhà, nàng nổi xùng (ì ạch) đuổi tiếp. Vợ hắn hơi nặng cân, cỡ một tạ (100 kí lô). Bác sĩ bảo nàng phải chạy bộ mới bớt mập. Nàng hỏi.

– Tôi rượt ông xã tôi, có được không, bác sĩ?

Ông bác sĩ gật gù.

– Hai ông bà cùng chạy thì tốt quá, nhưng coi chừng, ông ta chạy luôn đến nhà bà khác thì phiền.

Hắn rất muốn giúp nàng giảm cân nên hắn chạy trước, nàng đuổi theo quanh nhà. Được một năm thì kết quả thật đáng kinh ngạc: Nàng sụt mất một nghìn (1,000) milligrams! Một lý do khác để nàng có dịp rượt đánh hắn, là vì hắn có máu dê. Ra đường, thấy người đẹp đưa ngực, đưa đùi, là hắn nhìn sửng “Bước đi rồi, con mắt còn có đuôi…” Nàng giận tím mặt. Về nhà, mới bước xuống xe, là nàng dùng hai ngón tay, kẹp miếng thịt bên hông hắn, vặn tréo, miệng đay nghiến.

– Tật dê không chừa! Tôi hỏi ông. Tôi khác mấy con chó cái đó chỗ nào mà ông nhìn muốn rớt con ngươi? Khác chỗ nào? Hả? Nói mau!

Hắn nói.

– Khác nhiều chỗ lắm!

Rồi tuông chạy, nàng lại rượt hắn.

Một lần khác, hắn đưa vợ đi chợ. Thông thường, hắn đẩy xe theo sau vợ. Vợ hắn muốn mua gì thì bốc bỏ vô xe. Hắn bỗng thấy một nàng đi vào chợ với đôi gò bồng đảo to, để lộ một nửa đồi ngực trắng hồng như hai trái bưởi (đã lột vỏ). Hắn như người mất hồn, đẩy xe theo cô ta đễ nhỉn trộm cái ngực bự, quên cả thế gian. Vợ hắn quay lại không thấy chồng, đi tìm, thấy hắn đứng nhìn sửng ngực người đẹp. Nàng kéo tai hắn, lôi đi. Về nhà, nàng đóng cửa lại, bắt hắn nằm sấp xuống xô pha, trở cán chổi lông gà. Vừa nhịp trên mông hắn vài cái là hắn đã mếu máo khóc như em bé. Vợ hắn tức cười nhưng làm nghiêm.

– Uả! Biết tội gì chưa? Đã đánh đâu mà khóc? Nín ngay! Tại sao thấy con đàn bà nào có ngực bự là ông cứ theo nhìn mê man, quên cả vợ con?

Hắn trả lời.

– Ngực nhỏ, nhà mình có rồi!

Nói xong hắn lại vùng dậy, tung cửa chạy ra đường.

Một hôm, nàng bảo hắn đi mua vé máy bay để nàng về Việt Nam thăm các dì của mấy cháu. Hắn hỏi.

– Em đi mấy ngày?

Nàng đáp.

– Một tháng!

Hắn tưởng mình đang nằm mơ, thấy Bụt hiện ra nói với hắn, (như trong truyên cổ tích) “Ta nói thế là để thử lòng nhà ngươi đấy thôi!” Nhưng đó là sự thật, không phải là giấc mơ. Hắn vội chạy đi mua vé máy bay, sợ nàng đổi ý thì mất vui. Hắn về, đưa vé máy bay cho nàng, mặt buồn thiu, cất tiếng hát “Em đi rồi… còn ai vuốt tóc tôi?” Hắn có tâm hồn nghệ sĩ, thi ca, hò, vè, hắn đều xuất sắc, Gặp chuyện gì hắn cũng có thể cất tiếng, hát hoặc ư ử ngâm vài câu thơ, nghe (rất) vừa dở vừa vô duyên. Lần nầy, hắn đóng kịch quá tệ, bị nàng lột mặt nạ.

– Đừng có vờ vịt. Tôi chưa lên máy bay là ông đã chạy theo mấy con “chó cái” đó rồi. Liệu cái thần hồn! Lạng quạng, tôi thiến tận gốc cho biết thân.

Hắn hát tiếp “Ngày mai em đi, ngày tháng bơ vơ đợi chờ…” Nàng không thèm cười, vớ lấy cái chổi lông gà. Thế là nàng lại rượt hắn.

Vợ vắng nhà. Đó là chân hạnh phúc. Vì sao? Vì không phải nhìn thấy mặt vợ. Có lần, vợ hắn trang điểm, diện áo quần đẹp, ẹo qua, ẹo lại trước gương soi, làm bộ thở dài để hắn chú ý và  khen nàng đẹp.

– Thỉnh thoảng, soi gương, thấy mình già và xấu quá! Thiệt, chán hết sức!

Hắn đồng tình ngay.

– Đúng vậy! Em thì thỉnh thoảng mới soi gương nhìn dung nhan mình. Còn anh thì ngày nào, giờ nào cũng nhìn thấy em. Chỉ muốn nhảy sông chết quách!

Nàng co chân, rút chiếc giày, ném vào người hắn rồi vớ lấy cái chổi lông gà. Hắn lại tuông chạy. Nàng, bước thấp, bước cao (một chân không giày), vừa rượt hắn vừa khóc hu, hu!. Hắn phải quay lại, ôm vợ, xin lỗi ríu rít.

– Sorry! Em đẹp nhất thế gian. Mấy con hoa hậu thế giới, so với em, là đồ bỏ!

Hạnh phúc thứ hai khi vợ vắng nhà là không phải ăn các món vợ nấu. Nhiều ông chồng, đôi khi, để làm vui lòng vợ, khen một món nào đó do vợ nấu. Chớ chơi dại! Vợ sẽ nấu mãi món đó, chồng ăn mãi món đó. Ăn tới “lòi cuống họng!”. Vừa rồi, đầu năm 2020, một đại họa giáng xuống thế gian, người chết như rạ. Đó là nàng Covid-19 hạ sơn, giết mấy triệu người. Chính phủ các nước vội ra lịnh “Cách ly” Ai ở nhà nấy. Văn phòng, xí nghiệp, nhà hàng… đóng cửa. “Nhàn cư vi bất thiện”, các bà nghĩ đến trò nấu nướng. Các bà sưu tầm cách nấu các món ăn, càng kỳ lạ càng hấp dẫn. Bà nầy nấu xong, dọn ra, chụp hình gửi cho các bà khác. Các bà trầm trồ “Chị nấu cách nào? Chỉ cho em với!” Rồi bắt chồng đi chợ (các bà không dám đi, sợ lây bịnh Covid-19, để chồng đi chợ, rủi có chết thì mình còn có dịp lên xe hoa lần nữa) Các bà lại hì hục nấu nướng, rồi lại chụp hình, gửi các chiến hữu, sau đó bắt ông chồng ăn, làm “vật thí nghiệm” (Rủi có trúng độc mà chết thì cũng đúng như “Lời nguyện cầu” của quí bà). Trong tám cái khổ của lũ đàn ông, có “Tắng oán hội” khổ. Nghĩa là đau khổ khi phải sống với (ai đó) mà mình không ưa. cái khổ thứ hai là “Cầu bất đắc” khổ. Nghĩa là muốn chết quách để khỏi phải nhìn thấy “người kia” mà không chết được, cũng là khổ. Có ông nọ, lúc sắp đưọc nằm ngủ trong lòng chị “Sáu… Tấm” có mấy lời trăn trối với vợ.

– Khi tôi chết, “Đừng quăng tôi ra biển”(nhại thơ Mr. Lê), bà cũng đừng nấu nướng gì cả. Cứ ra “tiệm cơm chỉ” (bán thức ăn nấu sẵn, thích món nào, chỉ món đó) mua về cúng tôi.

Bà vợ hỏi.

– Ông nói tôi nghe. Tại sao?

Ông chồng thều thào.

– Các món bà nấu, tôi “bị” ăn suốt mấy chục năm, ngán đến tận cổ. Tôi chết bà lại nấu cúng tôi, chỉ ngửi thấy mùi, tôi đã khiếp vía, không dám hưởng, sẽ thành ma đói, không siêu thoát được.

Bà vợ đay nghiến.

– Tôi sẽ chết theo để nấu cho ông ăn.

Ông chồng thất kinh.

– Tôi lạy bà. Để tôi đi một mình.

Nói xong, thở hắt ra, linh hồn “cấp tốc” phóng chạy vào hư không. (Như những chuyện tôi đã kể trước đây. Nhiều ông, trước giờ lâm chung cũng đã lạy “giả từ” vợ kiểu đó)

Trở lại chuyện vợ hắn về Việt Nam. Trên đường đưa nàng đến phi trường, hắn lại hát nho nhỏ “Người ơi! Chốn xa xăm biết người nhớ tôi những gì?…” Mặt lạnh tanh, nàng nói “Xạo đủ rồi!”. Hắn cười hề hề rồi liếc nhìn gương mặt hầm hầm của nàng để biết chắc gương mặt ‘đáng yêu’ đó sẽ không hiện diện trong cuộc đời hắn trong một tháng. Sau khi nàng lên máy bay, hắn ‘lưu luyến’ đứng nhìn chiếc máy bay (có nàng trong đó) lên cao dần cho đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ, khuất vào trong mây trời, hắn mới tát vào mặt mình mấy cái, để biết chắc mình không nằm mơ, rồi ngâm nga “Vợ đi! Ừ nhỉ, vợ đi thực. Nàng giờ đây ở trên máy bay. Nàng giờ đây nhỏ như hạt bụi. Ta giờ đây, phải nhậu cho say…” Và hắn reo lên “Ha ha! Không thấy mặt vợ đến một tháng luôn!” Rồi nhảy chân sáo, ra xe, mở chai ‘Thằng Johny đi bộ’ (Johny Walker, đã mua, giấu kỹ cho giờ phút nầy), tì tì từng ngụm, mắt ngước nhìn mấy cánh chim đang lướt trên bầu trời xanh bao la, để suy ngẫm và thưởng thức hai chữ Tự Do. Hắn cứ ngồi lơ tơ mơ như thế cho đến khi dã rượu, hắn lái xe về mà cứ hồi hộp, lo lắng, không hiểu, vợ còn ở nhà hay đã về Việt Nam? Ngay đêm đầu tiên, nằm ngủ trên giường, thỉnh thoảng hắn quờ quạng khắp giường, thấy trống vắng, biết chắc vợ không nằm bên cạnh, hắn mỉm cười, chìm vào giấc ngủ (cô đơn!).

VÀ CHUYỆN NÀNG HOA PHƯỢNG 

Sáng hôm sau, trước khi đi làm, hắn móc điện thoại.

– A lô! Em Hoa Phượng đó hả? Anh Ba đây!

– Anh Ba nào vậy?

– Anh Ba Trợn đây!

– Dạ. Chào anh Ba Trợn. Em Hoa Phượng nghe anh đây!

– Trưa nay, giờ lunch (nghỉ ăn trưa) mình ra chợ Eden (tiểu bang VA) kiếm gì ăn?

– Dạ. Cám ơn anh. Khoảng mười hai giờ. Em sẽ ra với anh.

Nàng Hoa Phượng nầy là một trong các cô bạn rất thân của hắn, nhưng tình bạn còn rất trong sáng, không như các cô, bà khác (đã hết trong sáng). Sau khi chào hỏi, ngồi vào bàn, hắn làm bộ ngạc nhiên nói với người đẹp.

– Em là ảo thuật gia tài ba nhất ở đây.

Nàng cảnh giác.

– Em có ảo, iếc gì đâu?

– Em làm cách nào mà chung quanh đây anh chẳng thấy ai. Chỉ thấy mình em!

Rồi hắn cất giọng vịt đực hát “… Và hỏi tại sao thế giới đông người anh chỉ thấy riêng em?”

Cô bậm môi rồi nhìn hắn phì cười.

– Miệng ông dẻo như kẹo mạch nha!

Đàn ông có tật xấu là thấy đàn bà, con gái là cứ lỏ mắt nhìn mấy điểm chiến lược của người ta. Vì tò mò chứ chẳng ham muốn gì. Chỉ cần thoáng qua, các ông biết ngay hai quả đào tiên là thật hay ‘made in China’, quả cam hay trái mướp. Sách Thiên Mệnh Kinh (Tàu) có câu “Thiếu nữ như trái nho tươi, nạ dòng như trái nho khô!”. Quí bà mặc quần đùi ra đường là các ông nhìn chăm chăm, chẳng phải chiêm ngưỡng mà vì tò mò, xem đùi nàng có mấy con trùn (nổi gân xanh). Các bà, các cô biết “tật” của các ông là cứ nửa kín, nửa hở các ông mới lỏ mắt nhìn mê mẩn chứ mấy cô gái sắc tộc để ngực trần hay ở các bãi biển, người ta mặc hai mảnh tí xíu, các ông đâu thèm nhìn? Mà cũng chẳng có gì tội lỗi vì các bà cũng cần các ông ngắm nghía. Mình có đẹp, có hấp dẫn người ta mới ngắm nhìn. Bị ngó lơ mới đáng tủi thân. Nhưng xin quí ông đừng nhìn “nham nhở” quá khiến quí bà “nhột”. Trước khi đi đâu, quí cô, quí bà bỏ hàng giờ để trang điểm, lựa chọn áo quần để làm gì? Để “khoe” với các ông. Trên đời nầy mà không có đàn ông thì quí bà hoặc trùm kín mít như bên Ả Rập hoặc chẳng thèm mặc áo quần làm gì cho mất thì giờ. Cứ “vườn không, nhà trống” mà thổn thệnh ngoài đường “Cho gió mát cái bàn chân, cho gió mát cái cùi tay…” Ở bên Âu Châu có hội khỏa thân, ra bãi biển, chẳng ai thèm nhìn ai. Các bà, các cô không mặc áo quần thì cũng giống như con chim công, con chim phượng hoàng bị vặt trụi lông, chẳng biết đẹp ở chỗ nào?

Trở lại chuyện cậu Ba Trợn. Nàng Hoa Phượng ngồi trước mặt, trang phục lịch sự, kín đáo, chỉ dưới cổ, để trần một chút ngực trắng nuốt, mà mắt hắn cứ láo liên, nhìn trộm. Đàn bà nhạy cảm với đôi mắt đàn ông về mấy vụ nầy. Nàng biết, mỉm cười hỏi.

– Âm mưu gì đây? Không hi vọng gì đâu!

Bị lộ tẩy, hắn làm bộ rầu rỉ.

– Vui sướng gì! Vợ về Việt Nam…

Nàng ngạc nhiên.

– Anh mà cũng nhớ vợ?

– Không phải. Vợ anh về Việt Nam, đem luôn chìa khóa cửa. Tối nay không biết ngủ đâu!

Nàng lại cười.

– Thì ngủ khách sạn. Nhà em đông người lắm.

Đó là cách hắn “thả thính” dọ đường, mục đích cho người đẹp hiểu ý. Nếu nàng “lơ lửng” thì sẽ có chút hi vọng. Nghe trả lời như thế, hắn ngỡ mình sắp được ôm nàng Hoa Phượng trong vòng tay. Không ngờ, nàng cảnh giác, mấy lần sau, hắn mời nàng đi ăn thì bị từ chối thẳng thừng. Nàng chỉ đồng ý cho gặp trên điện thoại mươi phút thôi. Thấy nàng quyết liệt, mà một tuần đã trôi qua, hắn sốt ruột, đổi chiến thuật. Hắn khen nàng đẹp trên điện thoại. Khen từ mái tóc, gương mặt, đôi mắt cho đến hình dáng. Dĩ nhiên hắn phải khen đúng để nàng soi gương, mỉm cười và hài lòng. Đàn bà, con gái có chỗ yếu là được ai khen thì có cảm tình với người đó. Hắn thêm một bước nữa. Hắn tỉ tê rằng nhớ nàng, mong được gặp mặt cho đỡ nhớ. Nàng không trả lời, có lẽ còn đắn đo. Hắn biết, không lẽ nàng “Ừ!” ngay. Và hắn chờ đợi.

Một buổi chiều mùa thu, trời mưa lất phất và lạnh. Cảnh nầy làm các cô hơi lớn tuổi, độc thân, buồn ghê lắm. Không có nỗi buồn nào bằng nỗi buồn cô đơn! Nàng Hoa Phượng gọi cho hắn.

– Em đi công chuyện, ngang nhà anh, em sẽ ghé thăm, độ năm phút thôi. Vì chuyện gấp nên em đến thăm anh là đi liền.

– Em có thể đến sớm, để chuyện trò lâu một chút? Cả tháng (xạo!) nay, em có cho anh gặp đâu!

Im lặng. Một phút sau.

– Bảy giờ em đến, bảy rưỡi em đi.

Ôi chà chà! Nửa giờ! Rõ ràng là nàng Hoa Phượng đã phó mặc số phận đẩy đưa, đến bến bờ nào cũng… OK!.

Hắn đi nấu trà, đem bộ đồ trà chưng trong tủ búp-phê ra, để trên bàn khách cho thêm phần long trọng. Nàng Hoa Phượng đến, hắn mở cửa mời vào. Nàng ngồi đối diện. Hắn rót trà mời. Trong ánh đèn mờ, hắn thấy trang phục nàng sang trọng, son phấn cẩn thận, chứng tỏ nàng  có đi đâu đó thật chứ không phịa chuyện để đến gặp hắn. Coi bộ gay go đây! Các bậc thức giả  có câu “Tri hành hợp nhất” nghĩa là khi ‘biết’ đối tượng muốn gì thì mình phải làm sao cho đương sự ‘hợp ý nhất’. Nhưng nàng có ý nghĩ giống như hắn không? Chợt nàng xem đồng hồ tay. Hắn thử đoán, nàng sốt ruột, muốn đi công chuyện hay muốn nói với hắn “Coi chừng hết giờ!”? Trò chuyện thêm mấy câu nữa, nàng nói.

– Thôi, em về!

Hắn cũng nói.

– Anh cũng đi công chuyện ngay bây giờ. Để anh tắt đèn!

Hắn đứng lên, tắt đèn. Tối thui!

Tôi, (người kể chuyện nầy) chưng hửng! Mà quí bạn đọc cũng chán nản “Tưởng gì gay cấn sắp xẩy ra. Mất công theo dõi nãy giờ!” Mà tôi có muốn kể tiếp, tả tình, tả cảnh cũng chẳng thấy gì. Tối mò mò!  Vả lại, họ sắp rời nhà, ra xe. Nhưng khoan. Xin lắng nghe. Trong bóng tối dày đặc, có tiếng nàng Hoa Phượng.

– Chìa khóa xe em đâu rồi?

– Anh đang giữ đây.

– Cho em, để em về.

– Cho anh hôn, anh đưa chìa khóa.

Yên lặng…

– Để em về!

Có tiếng rù rì của hắn, nghe không rõ nhưng đoán chừng hắn đang tỉ tê gì đấy với người đẹp. Nàng Hoa Phượng, giọng miễn cưỡng.

– Để em về kẻo trễ.

Lại tiếng thì thầm. Nàng cũng thì thầm.

– Đừng anh! Đừng làm em sợ!…

Rồi thì, tất cả rơi vào im lặng. Sự im lặng đáng sợ! Thưa quí bạn đọc kính mến. Quí bạn thử đoán xem chuyện gì đang xảy ra trong căn phòng tối om kia? Tôi thú thật, chịu thua! Trong nhà mà bị mất điện thì thành người mù, chả thấy đường mà làm việc gì!

Thời gian như ngừng trôi. Bỗng (trong bóng tối) có tiếng cười rúc rich.

– Anh là đồ ‘quỉ xứ!’. Làm người ta sợ muốn chết. Lần sau em không dám đến thăm anh nữa đâu!

Hắn cất tiếng hát “Thôi rồi còn chi đâu em ơi. Hết rồi còn chi đâu em ơi!”.

Có tiếng đập lưng hắn thình thịch

– Hết rồi thì đưa chìa khóa xe cho ngưòi ta về. Mở đèn lên. Quần áo xốc xếch hết cả rồi nè!

Đọc chuyện nầy, xin quí bà đừng trách rằng “Lũ đàn ông các ông như gậy thằng mù, chỗ nào cũng thọt được!” Xin thưa rằng. Bản tính đàn ông vốn tò mò mà người nữ lại là một sinh vật bí ẩn. Càng huyền bí, mơ hồ càng khiến lũ đàn ông say mê theo đuổi, khám phá. Ai lên mặt trăng. Quí ông. Ai đã cắm cờ trên đỉnh Everest? Cũng quí ông. Ai đã tìm ra Châu Mỹ? Cũng quí ông. Ai là chồng của quí bà? Cũng quí ông. Thế nên, thưa quí cô chưa chồng, quí bà độc thân, xin hãy thông cảm cho nàng Hoa Phượng cô đơn của hắn.

Phạm Thành Châu

Đi thăm Australia và New Zealand

Đặng-Quốc-Tuấn 

                                                          

Australia và New Zealand thường được gọi là Down Under (Miệt Dưới) vì ở Nam Bán Cầu và “below” rất nhiều nước khác. Down Under được dùng từ cuối Thế-kỷ 19 và trở nên rất thông-dụng. Bản nhạc nổi tiếng “Down Under” của ban nhạc Men At Work đã quảng-bá thêm cho tên gọi thân-thương này với những lời ca yêu-mến:

Do you come from a land down under

Where women glow and men plunder

I come from a land down under

Where beer does flow and men chunder

Năm 2004, khi hoa-hậu Úc Jennifer Hawkins thắng giải Hoa-hậu Hoàn-vũ (Miss Universe), cô được giới-thiệu là Hoa-hậu của Miền Down Under.

Hội-ngộ Liên Khóa Úc Châu 2018

Tôi không gọi là HNLK Kỳ 4 như Ban Tổ-chức và nhiều người gọi vì theo tôi, đây là Kỳ 5. Năm 1999, Tổng Hội CSV/QGHC đã tổ-chức Họp Mặt lần đầu tiên ở Virginia. Năm 2014, Hội CSV/QGHC Texas tổ-chức cuộc Họp Mặt Kỳ 2 nhưng lại gọi là Kỳ 1. Một hội-viên Hội Miền Đông đã đính-chính nhưng Hội CSV/QGHC Texas vẫn giữ tên là Kỳ 1 và giải-thích rằng Họp Mặt Năm 1999 là Đại Hội QGHC Thế Giới, đêm Liên-hoan gọi là Đêm Hành Chánh Hội Ngộ chứ không phải Hội-nghị Liên Khóa; bởi vậy HNLK 2014 ở Houston là HNLK Kỳ 1. Tôi không hiểu sự khác biệt giữa “Đêm Hành Chánh Hội Ngộ” và “Hội Ngộ Liên Khóa” ra sao? Có lẽ chỉ nên đặt tên Họp Mặt theo năm và nơi tổ-chức, không cần “Kỳ” nữa. Nói vậy thôi chứ Hội CSV/QGHC nào tổ-chức họp mặt và đặt tên ra sao tôi cũng đi để gặp bạn-bè.

Tôi và Nhà Tôi vẫn có ý-định đi thăm vùng Miệt Dưới từ lâu nên khi Hội CSV/QGHC Úc tổ-chức HNLK 2018 tôi ghi tên ngay. HNLK 2018 được tổ-chức rất chu-đáo, thành-công tốt-đẹp. Trước ngày Đại-hội có tour đi Canberra, hai buổi họp-mặt “Tiền Hội-ngộ” và “Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô.” Sau ngày Đại-hội lại có tour Sydney, tour Symbio Wildlife Park và cruise Great Barrier Reef. Thật là qúa đầy đủ, ít cuộc họp mặt thân-hữu nào có nhiều “options” như vậy.

Trung Tâm Sinh Hoạt Văn Hóa Cộng Đồng

Tour Canberra do anh Đặng Văn Hiền hướng-dẫn. Anh Hiền vốn là một công-chức lâu năm ở đây nên hiểu biết rành-rẽ tổ-chức của chính-quyền Úc. Anh Hiền và người hướng-dẫn ở văn-phòng Quốc-hội đã đưa chúng tôi đi thăm các văn-phòng Thượng và Hạ Nghị-viện Úc. Đi thăm Australian War Memorial thấy hình ảnh cuộc chiến Việt Nam lại buồn nhớ đến hơn 3 triệu người Việt Nam chết, gần 60,000 chiến-sĩ Hoa Kỳ và Đồng Minh đã bỏ mình để ngăn làn sóng Đỏ ở Việt Nam, bảo-vệ tự-do cho Thế-giới. Xin cám-ơn Chính-phủ, Quân-đội, và nhân-dân Úc đã trực-tiếp tham chiến tại Việt Nam, khởi sự từ con số khiêm-nhường 30 Cố-vấn Quân-sự năm 1962 lên đến một lực-lượng hùng-mạnh 7,672 chiến-sĩ. Trước chiến tranh Afghanistan, chiến-tranh Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch-sử Úc. Tuy chiến tranh Afghanistan dài hơn chiến-tranh Việt Nam, lực-lượng Quân-đội Úc ở Afghanistan lại ít hơn ở Việt Nam nhiều. Khoảng 60,000 chiến-sĩ Úc đã tham chiến tại Việt Nam, 521 chiến-sĩ Úc đã bỏ mình, và hơn 3,000 người bị thương. Chúng ta không thất trận ở Việt Nam, chúng ta đã thất trận ở Paris và Washington!

Trụ-sở Quốc-hội Australia

 

Sydney Opera House

Tour Sydney và Tour Symbio Wildlife Park do hai anh David Ngô và Lê Văn Thái hướng-dẫn đã đưa chúng tôi đi thăm hầu hết các thắng cảnh ở Sydney. Vào những đêm giao-thừa Dương lịch, tôi hay theo-dõi Năm Mới tuần-tự đến với các nước. Sydney, vì ở Down Under, nên là thành-phố lớn đầu tiên đón Năm Mới. Nhìn cảnh pháo bông rực-rỡ trên Sydney Opera House và Sydney Harbour Bridge, vợ chồng tôi vẫn có ý-định đến thăm nơi này vào một đêm giao-thừa. Nay tuy không phải là giao-thừa nhưng chúng tôi cũng đã được đi trên Harbour Bridge, vào thăm Opera House thì cũng mãn nguyện. Hàng năm có hơn 8 triệu người viếng thăm Sydney Opera House, một thắng cảnh được liệt-kê là UNESCO World Heritage Site. Tour Symbio Wildlife Park không hấp-dẫn cho lắm vì tôi không thấy con kangaroo mẹ đìu con trước bụng như tôi đã thấy ở Mỹ; kangaroo ở sở thú này nhỏ nhưng rất hiền và thân-thiện. Nhà Tôi rất thích con két trắng cứ luôn luôn chào “Hello” với nàng.

Sri Venkateswara Temple – Helensburg                            

Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô đựợc tổ-chức rất long-trọng và cảm-động. Hội CSV/QGHC Úc vẫn tổ-chức lễ này hàng năm nên có nhiều kinh-nghiệm, tổ-chức rất chu-đáo. Có Chủ Tế, Bồi Tế mặc áo thụng, khăn đóng cổ-truyền với tiếng chiêng, tiếng trống linh-thiêng. Có dâng hương, hoa, rượu, trà, bánh trái. Anh Trần Thiện Tích đã nói lên tình thầy trò đậm-đà và nỗi lòng biết ơn, thương-tiếc của CSV/QGHC với các Thầy, các Cô đã qua đời. Anh Tích và Chủ Tế Bùi Đức Hùng cũng nhắc đến một số đồng môn đã đi trước chúng ta, nhiều người đã anh-dũng hy-sinh cho Tổ-quốc. Đặc-biệt năm nay khi các CSV/QGHC tổ-chức Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô thì một vị Thầy khả-kính là Giáo-sư Nguyễn Khắc Nhân vừa nằm xuống ngày hôm trước ở Sydney. Nơi Thầy đang nằm chỉ cách chỗ các học-trò đang tổ-chức Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô một khoảng đường rất ngắn. Nguyện xin Thầy an-nghỉ và cầu mong hương-linh Thầy sớm siêu-thoát về Miền Cực Lạc. Riêng con, con không bao giờ quên ơn Thầy đã chấm Luận-văn Tốt-nghiệp Khóa Đốc-sự 10 của con hạng nhất trong lớp.[1]

Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô

Tôi sang Úc hơi trễ nên đã không còn gặp được một vài người bạn thân-thương đã đi trước chúng ta. Anh Lưu Văn Của học chung với tôi Khóa Cao-học 2. Anh Nguyễn Khoa Huân, huynh-trưởng Khóa Đốc-sự 2, một người bạn vong niên của tôi. Khi Anh làm Trưởng-ty Thuế-vụ Nha-trang / Khánh-hòa thì tôi làm Trưởng-ty Thuế-vụ Lâm-đồng, chúng tôi có chung một “xếp” và vẫn đi họp với nhau. Anh không nề-hà tuổi cao đã dấn thân ra làm Chủ-tịch Hội CSV/QGHC South New Wales với ý-định cùng ACE tổ-chức HNLK 2018 cho thật đẹp. HNLK chưa tới thì anh đã ra đi. Một đàn anh nữa là Anh Nguyễn Văn Thực làm Chánh Sự Vụ Sở Hành-chánh khi tôi về học Cao-học. Về Sài-gòn tôi phải thuê nhà hết gần $2,000 một tháng lại mất phụ-cấp chức-vụ nên ăn tiêu hơi thiếu thốn; tôi đi tìm việc làm thêm. Anh Thực lúc ấy đang coi Trung-tâm Văn-hóa Bình-dân vào buổi tối; anh nhường cho tôi khi biết tôi chưa tìm được việc làm. Hội Văn-hóa Bình-dân mở các lớp học vào buổi tối dạy chữ, dạy nghề cho các em lớn tuổi nhưng không có điều-kiện theo học các trường ban ngày. Hết khóa học, tôi trả lại anh Thực việc làm này và đi dạy học ở Trường Trung-học La-san Đức Minh. Tôi không bao giờ quên nghĩa-cử này của anh Thực đã dành cho tôi. Nói chuyện với chị Thực tôi mới biết anh Cung Đình Thanh, Luật-sư Chủ-tịch Hội Văn-hóa Bình-dân cũng mới mất ở Úc.

Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô

Một người bạn nữa tôi không được gặp là anh Đặng Gia Thoại; Thoại học chung với tôi Khóa Đốc-sự 10 lại ở cùng phòng trong Ký Túc Xá. Tôi quen biết hầu như hết mọi người trong gia-đình Thoại. Tôi còn học chung với chị Thoại ở Đại-học Văn-khoa Sài-gòn. Xem danh-sách, tôi có thấy chị Thoại ghi tên tham-dự Lễ Tưởng Niệm nhưng tôi đi quanh phòng họp mấy lần cũng không thấy chị. Sợ rằng không gặp Chị từ lâu nên tôi không nhận được Chị, tôi nhờ Dũng và Khôi là dân Khóa 10 ở Úc đi tìm mới hay Chị không đi dự được. Trong buổi Lễ Tưởng Niệm này, tôi đau buồn nhớ đến mấy người bạn thân-thương của tôi ở Úc mà tôi không còn gặp được nữa. Họ đã bỏ chúng ta sang bên ấy thành-lập một Chi-hội CSV/QGHC mới. Chắc chắn là Chi-hội của họ sẽ càng ngày càng đông hội-viên, Chi-hội của chúng ta ở lại sẽ càng ngày càng ít đi. Không biết ai sẽ là người cuối cùng ở lại cõi đời vô thường này?

Về đến Hoa Kỳ, nhà tôi, vốn là một nhà giáo, vẫn tấm-tắc khen-ngợi “Em chưa từng dự một Lễ Nhớ Ơn Thầy Cô long-trọng và cảm-động như ở Úc.” Tôi đề-nghị các Hội CSV/QGHC và ACE/CSV gửi về Hội QGHC Úc Châu hình, ngày sinh, ngày qúa vãng của các thầy, các cô, các bạn CSV đã qua đời để Hội Úc Châu cập nhật Bàn Thờ. Nếu không đủ chỗ thì in hình nhỏ, nếu không có hình thì chỉ ghi tên trên bài-vị. Hiện nay Hội Úc Châu chỉ có hình của 8 Thầy.

Đêm Liên Hoan được tổ-chức rất tưng-bừng, náo-nhiệt, thành-công rực-rỡ. Văn-nghệ rất hay, MCs lưu-loát, thức ăn đầy-đủ. Đặc-biệt Ban Tổ-chức còn “đãi” anh em món thịt đuôi con Kangaroo. Nhà Tôi rời bàn ăn, không muốn nhìn tôi ăn thịt Kangaroo là một con vật Nhà Tôi rất thương-yêu vì chúng có tình mẫu tử vô cùng đặc-biệt.

Đêm Liên Hoan là một đêm tràn đầy niềm vui được “Hội Ngộ.” Video đẹp, rõ-ràng nhưng chỉ tiếc là mỗi khi anh Đượm hay MC giới-thiệu ai thì video vẫn chỉ chiếu hình anh Đượm hay MC chứ không thấy “long nhan” của người được giới-thiệu. Video cũng ít chiếu hình những bàn ở xa.

Đêm Liên-Hoan

Xin chân thành cám ơn Anh Hà, Anh Thái, Anh Đượm và Ban Tổ Chức đã bỏ công, bỏ của, bỏ thời giờ tổ-chức một cuộc Hội Ngộ vui-vẻ, chu-đáo, đẹp-đẽ, thành-công vượt bực mặc dù Cờ Luân Lưu đã có lần bị gửi trả lại cho Hội CSV/QGHC Nam Cali để tìm một hội khác tổ-chức HNLK 2018. Với tư cách là một thành viên của Hội CSV/QGHC Miền Đông, tôi đang lo-ngại cho Hội của tôi sang năm tới rất khó “qua mặt” được Hội CSV/QGHC Úc.

Đêm Liên-Hoan

Tổ-chức nào cũng có người khen, kẻ chê. Tôi có nghe loáng thoáng mấy lời “xì xào” của vài tham-dự viên và vài ACE trong Ban Tổ-chức nhưng, các anh ơi, không bao giờ chúng ta có thể thỏa-mãn 100% mọi người. Người không bao giờ bị chỉ-trích là người không làm gì và cũng chẳng bao giờ phát-biểu ý-kiến, chẳng bao giờ viết một bài gì. Học-viện QGHC đào-tạo sinh-viên thành những công-chức cao-cấp. Dù theo nhiều ngành hành-chánh, quân-sự khác nhau nhưng nói chung, các cựu sinh-viên này đều phải điều-khiển nhân-viên dưới quyền để đạt mục-đích phục-vụ dân chúng. Khi làm nhiệm-vụ này, chúng ta khó (có thể là không bao giờ) thỏa-mãn 100% nhân-viên dưới quyền và thỏa-mãn 100% dân chúng.

Cruise Sydney-Great Barrier Reef

Sau Đêm Liên Hoan, 56 người đi cruise Sydney-Great Barrier Reef với Carnival Legend. Tôi đã đi “cruise” nhiều lần và tôi không thích đi “cruise” vì tôi thấy rất “boring.” Tuy nhiên tôi thông-cảm rằng đi “cruise” là cách tổ-chức dễ nhất cho các Ban Tổ-chức họp mặt: không phải lo xe bus, không lo ăn uống, không cần tổ-chức tours, không sợ “trẻ lạc;” mọi việc đều do “cruise” lo hết. Nếu Ban Tổ-chức siêng thì lo chụp hình nhóm và sinh-hoạt nhóm trên tàu. Anh Đượm đã lo hết các vụ này, lo chu-đáo. Trong hai buổi Họp-mặt Nhóm trên tàu, anh Đượm bao ACE uống rượu “unlimited.” Tiền rượu, thuê phòng họp, thuê đàn, thuê chuyên-viên âm-thanh đều do tiền bonus của anh khi anh booked cruise cho ACE (cứ 8 cabins anh được một vé free). Anh đã không bỏ tiền bonus này vào túi mà bao ACE hết; tôi sợ tiền bonus này không đủ trả tiền rượu cho ACE; có lẽ “Cô Thắm” phải chi thêm. Hoan Hô Anh Chị Đượm!

Cruise Great Barrier Reef

Chuyến đi “cruise” có một chuyện làm nhiều người bất-mãn là đã không được đi thăm Great Barrier Reef mặc dù tên chuyến đi là Sydney – Great Barrier Reef. Tàu Carnival chở hơn 2,500 hành-khách mà khi đi thăm Great Barrier Reef chỉ có một tàu nhỏ chở 60 người; khi chúng tôi ghi tên thì đã hết chỗ. Sau cùng, Carnival tăng thêm một tàu nhỏ 60 chỗ nữa, chúng tôi hí-hửng ghi tên. Sáng hôm sau Carnival thông-báo tàu nhỏ thứ hai không có glass bottom; như vậy hành-khách không nhìn thấy san-hô và cá lội. Chúng tôi đành hủy-bỏ chuyến đi thăm Great Barrier Reef và đi thăm quanh Airlie Beach. Đi Úc mà không thăm được Great Barrier Reef là một thiếu-sót lớn. Tụi tôi buồn mà anh Đượm cũng rất buồn.

Uluru / Ayers Rock

Đi “cruise” về, vợ chồng tôi tạm-biệt ACE rồi bay vào sa-mạc Úc thăm Uluru / Ayers Rock. Uluru là một hòn đá nguyên khối (monolith) lớn thứ nhì trên thế-giới, chỉ thua Mount Augustus (Burringurrah) ở Western Australia. Tính từ mặt đất, Uluru cao 348 m (1,142 ft) [2], nhưng nếu tính từ mực nước biển, Uluru ở độ cao 863 m (2,831 ft). Chu-vi hòn đá Uluru phần sát mặt đất là 9.4 km (5.8 mi). Người thổ-dân Anangu gọi hòn đá là Uluru, một địa-danh linh-thiêng của họ. Người Âu Châu tìm thấy Uluru năm 1872; năm sau họ đặt tên hòn đá là Ayers Rock để vinh-danh Sir Henry Ayers, Chief Secretary of South Australia. Sau vài lần thay đổi, tên chính-thức từ 2002 là “Uluru / Ayers Rock.”

Uluru / Ayers Rock

Uluru là một “hòn đảo núi” (inselberg hay island mountain) là một ngọn núi nổi lên giữa một vùng đất bằng-phẳng có khí-hậu khô, nóng. Hàng trăm triệu năm trước đây nước biển tràn ngập khu-vực này mang theo nhiều “phù-sa” gồm đất, cát và đá. Cát này rất lớn có đường kính từ 2 đến 4 millimeters. Nước biển rút đi mang theo đất nhưng để lại cát và đá tương-đối nặng hơn. Nhờ những chất hoá-học calcite, clays, và silica mang tới từ những dòng nước ngầm, cát và đá “dính” lại thành một khối: “sands” trở thành “sandstone,” Uluru là một sandstone (sa thạch). Sau hàng trăm triệu năm, khối sandstone này trở thành một hòn đá nguyên-khối trồi lên mặt đất trong thời-kỳ Petermann Orogeny[3] cách đây khoảng 550 triệu năm[4]. Cùng vào thời-gian này, những hòn đá ở vùng Kata Tjuṯa, cách Uluru 25 cây số, cũng được tạo dựng tương-tự như Uluru. Kata Tjuta có nhiều hòn đá nhưng đều nhỏ hơn Uluru. Ngày nay, cả Uluru và Kata Tjuta cùng nẳm chung trong Uluṟu–Kata Tjuṯa National Park.

Người thổ-dân Anangu tin rằng Uluru và Kata Tjuta là địa-danh linh-thiêng của họ; Uluru có nghĩa là “Mẹ Trái Đất” (Earth Mother). Tổ-tiên người Anangu đã định-cư tại vùng này từ 10,000 năm trước. Thổ dân Anangu không bao giờ bước chân trên mặt các hòn đá, nhất là Uluru, vì họ tin rằng đó là một điều bất-kính, một tội-lỗi với thần-linh của họ. Gần trăm năm qua, người Anangu cố-gắng vận-động Chính-phủ Úc cấm các du-khách đi trên mặt Uluru; có lúc họ thắng nhưng rồi lại thua. Năm 2017, Uluṟu–Kata Tjuṯa National Park mới ra quyết-định cấm không cho ai được leo qua Uluru kể từ ngày 26 tháng 10 năm 2019. Tôi cũng muốn leo qua một lần cho biết nhưng hãng du-lịch của tôi rất thân-thiết với người Anangu nên không tổ-chức hoạt-động này; chúng tôi chỉ đi bộ quanh chân các hòn đá. Khi dừng lại uống trà, cà-phê chúng tôi cũng không được đổ trà, cà-phê, nước ngọt thừa xuống đất; cô hướng-dẫn-viên du-lịch đem những nước thừa này về đổ ở thành-phố. Cô ta nói thẳng với chúng tôi là không được tiểu tiện ở đây. Cô ta cho hay ngoài tính cách thiêng-liêng của vùng này, cây cỏ ở đây có thể chết vì những thứ “nước lạ” này, mà cây cỏ ở vùng sa-mạc rất quý. Nhà Tôi cũng không muốn tôi leo lên đỉnh Uluru vi dốc cao và trời nóng 106° F [5]. Kể từ thập-niên 1950s đã có 37 người chết vì leo qua Uluru và nhiều người khác phải nhờ trực-thăng chở về bệnh-viện.

Leo qua Uluru

 Uluru thay-đổi màu sắc trong ngày tùy theo thời-tiết, ánh sáng. Đặc-biệt Uluru có màu đỏ thắm tươi đẹp khi mặt trời mọc và lặn. Phần lớn du-khách tới đây đều đi thăm “Sunrise at Kata Tjuta” và “Sunset at Uluru”. Uluṟu–Kata Tjuṯa National Park có sẵn nhiều nơi để du-khách đứng coi cảnh này. Tôi cũng dậy từ 3:30 sáng vì xe bus đến đón lúc 4:30 để đi xem Sunrise at Kata Tjuta. Hàng ngàn người chen chúc nhau, máy hình trong tay, dành nhau chỗ tốt để xem những cảnh đẹp của mặt trời.

Sunset at Uluru

Uluru và Kata Tjuta là sa-mạc nhưng cũng có nhiều loại thú, đặc-biệt có Red Kangaroo, đà-điểu (emu), và lạc-đà (camel). Cuối thế-kỷ 19, người Anh mua lạc-đà từ Ấn Độ, Afghanistan để chuyên-chở dụng-cụ xây cất vào vùng sa-mạc Úc. Khi có phương-tiện chuyên-chở cơ-khí họ thả lạc-đà sống tự-do ở sa-mạc. Khí-hậu ở đây rất thích-hợp với lạc-đà nên hiện nay Úc có khoảng 700,000 con lạc-đà hoang; nhiều nhất trên thế-giới. Chính-phủ Úc đang tìm cách giảm số lạc-đà này vì chúng dành ăn cỏ, cây hiếm-hoi ở sa-mạc với những con vật khác. Nhiều người cũng tìm bắt lạc-đà hoang để bán sang Afghanistan, Pakistan vì lạc-đà ở những nơi này bị chết nhiều vì chiến-tranh. Giá một con lạc-đà bán sang Afghanistan hay Pakistan khoảng một triệu đồng Úc. ACE/CSV/QGHC nào còn khỏe-mạnh nên sang Úc bắt lạc-đà hoang; mỗi năm chỉ cần bắt được một con cũng đủ nhậu nhẹt lai-rai.

Sống ở vùng sa-mạc Uluru / Ayers Rock ba ngày là một kỷ-niệm khó quên của vợ chồng tôi. Ngày nào cũng nóng trên 100° F, ra khỏi cửa là lo đuổi ruồi, muỗi, và nhiều con “bugs” khác. Vậy mà chúng tôi rất vui-thích được thăm vùng sa-mạc cằn-cỗi này.

Melbourne

Vợ chồng tôi nằm ở Melbourne một tuần để chờ ngày đi “The Ghan” nên có nhiều thời-giờ thăm viếng Melbourne và vùng phụ-cận. Melbourne có nhiều tours du-lịch, có lẽ hai tours được nhều người đi nhất là “Great Ocean Road Tour” và “Phillip Island Penguin Parade Tour.”

Twelve Apostles

Tour Great Ocean Road đi thăm một vùng bờ biển đẹp với những trụ đá nằm dọc theo bờ biển (gần giống bờ biển Oregon). Có 12 trụ đá gọi là Twelve Apostles. Nếu đi vào buổi chiều thì có thể thấy cảnh đẹp của hoàng-hôn trên mặt biển: mặt trời từ từ lặn xuống mặt nước biển.

Đi tour Great Ocean Road, chúng tôi được đi ngang một khu-vực đồi núi thấp với những đồng cỏ mênh-mông; bò, cừu tràn-lan trên đồng cỏ. Khu này do các cựu-chiến-binh Thế Chiến II định-cư. Sau cuộc Thế Chiến II, các cựu-chiến-binh Úc không có việc làm lại không còn lương quân-nhân nên rất nghèo-đói. Chính-phủ Úc đem họ lên vùng rừng núi âm-u này để khai-hoang. Chính-phủ không đầy họ lên đây như một Vùng Kinh-tế Mới của Việt Cộng; Chính-phủ Úc đem theo máy ủi đất hạng nặng, máy cày, máy cưa…để phá rừng làm rẫy rồi bán đất cho các cựu-chiến-binh với một giá tượng-trưng, gần như cho không.

Chính-phủ và nhân-dân Úc luôn luôn kính-trọng và biết ơn các cựu-chiến-binh. Hầu như thành-phố lớn nào cũng có các Trung-tâm trưng-bày hình ảnh các cuộc chiến-tranh mà người Úc đã tham-dự. Các cựu-chiến-binh Việt-Nam cũng được Úc công-nhận vì đã chiến-đấu cạnh chiến-sĩ Úc trong cuộc Chiến-tranh Việt-Nam; các cựu-chiến-binh Việt-Nam cũng được hưởng quyền-lợi về ý-tế, hưu-bổng…như cựu-chiến-binh Úc. Thật là một Tình Huynh Đệ Chi Binh không đâu có trên thế-giới. Chính-phủ Hoa-kỳ đã đài-thọ hầu hết chiến-phí cho cuộc chiến Việt-Nam nhưng sau cuộc chiến, họ cũng không có một chính-sách cựu-chiến-binh cho người Việt như ở Úc. Mấy trăm chiến-sĩ Biệt-kích đã phải mướn luật-sư kiện Chính-phủ Hoa-kỳ mới được bồi-hoàn mỗi người vài nghìn US Dollars, tiền lương cho mấy chục năm bị tù. Họ đã được Hoa-kỳ tuyển-dụng (trực-tiếp hoặc gián-tiếp), huấn-luyện và thả dù ra Miền Bắc để hoạt-động gián-điệp. Đa số bị bắt và bị tù nhiều năm. Năm 1973, họ cũng không được nằm trong chương-trình trao-đổi tù-binh như đã quy-định trong Hiệp-định Đình-chiến Paris vì họ là những”chiến-binh không có quân số.” Thật ra Chính-phủ và nhân-dân Hoa-kỳ đã hy-sinh rất nhiều trong việc định-cư mấy triệu người Việt-Nam gồm những người tị-nạn năm 1975, những người vượt biển, vượt biên, những người đến Hoa-kỳ theo chương-trình đoàn-tụ gia-đình ODP và “Chương Trình Tái Định Cư Những Cựu Tù Nhân Chính Trị.”[6]. Chúng tôi xin thành tâm cám-ơn Chính-phủ và nhân-dân Hoa-kỳ đã mở rộng vòng tay đón-tiếp chúng tôi, chúng tôi không hề than-vãn, so-sánh với chính-sách cựu-chiến-binh của Úc. Chương Trình Tái Định Cư Những Cựu Tù Nhân Chính Trị và Gia-đình là một quyền-lợi đặc-biệt, vĩ-đại cho các cựu-chiến-binh Việt-Nam, một chương trình đầy ắp tình người, hoàn-toàn ngược lại với chính-sách dã-man, tàn-bạo, vô nhân đạo, không còn tình người của các trại học-tập, cải-tạo của Cộng-sản Việt-nam.

Knickers, một con bò khổng-lồ ở Australia  

Những khu rừng âm-u, khỉ ho cò gáy đã được các cựu-chiến-binh Úc khai-phá thành những đồng cỏ mênh-mông, bò, cừu tràn-lan. Vùng nầy bây giờ là xương sống của nền chăn-nuôi ở Úc. Năm 2017, dân-số Úc là 24.3 triệu người; họ có 27.8 triệu con bò, 99.3 triệu con cừu; như vậy mỗi người Úc có hơn một con bò và hơn 4 con cừu. Úc đứng thứ 4 trong năm nước trên thế-giới có số bò nhiều hơn dân số. Làm sao mà họ đói được? Nhìn những đàn bò, đàn cừu đi ăn trên những đồng cỏ mênh-mông mà thương cho những con bò, con trâu ở quê-hương mình, thương cho dân mình!

Cừu ở Australia

Tour Phillip Island Penguin Parade thì không được như ý muốn. Nhìn hình quảng-cáo cũng như nhớ lại hình ảnh trên TV, tôi tưởng sẽ được thấy hàng ngàn con penguins chạy lạch-bạch trên bãi cát đề về nhà. Không có như vậy. Ngồi chờ gần hai giờ, tôi chỉ thấy có 12 con penguins chạy từ biển qua bãi cát đề về nhà trong đám cỏ. Gió biển lạnh quá nên vợ chồng tôi bỏ cuộc, đi lên nhà hàng ăn chờ xe bus đến đón. Trời lạnh nhưng vẫn có hàng ngàn người ngồi dưới bãi biển chờ xem “Penguin Parade.” Không ngờ trên đường về chúng tôi lại thấy rất nhiều penguins chạydọc theo con đường dẫn lên nhà hàng ăn. Thì ra có nhiều con penguins đã vượt bãi cát ở những chỗ tối nên chúng tôi không thấy. Chính lúc thất vọng nhất lại được xem vài trăm con penguins. Penguins ở đây rất nhỏ, chỉ nhỏ bằng con vịt; penguins ở Australia và New Zealand là penguins nhỏ nhất trên thế-giới.

Penguins ở Australia

Những tours du-lịch ở Melbourne có rất nhiều du-khách Tầu; tour nào họ cũng chiếm hơn một nửa. Họ đi thành từng đoàn, có hướng-dẫn-viên du-lịch người Tầu. Họ nói chuyện lớn tiếng như chỗ không người, chen ngang vào những hàng người đang xếp hàng chờ đợi. Họ hút thuốc lá, xả rác công-khai. Năm ngoái vợ chồng tôi đi sang Âu Châu cũng đã gặp cảnh này. Nhiều người Âu Tây liếc nhìn mình làm mình xấu-hổ; chắc họ cũng tưởng vợ chồng tôi là Tầu, có những hành-động xấu tương-tự. Ở khu xem “Penguin Parade” luôn luôn có những loan-báo bằng tiếng Tầu theo sau loan-báo bằng tiếng Anh. Phi-trường, khách-sạn ở Melbourne cũng in chữ Tầu ở dưới các bảng chỉ-dẫn bằng chữ Anh. Nhiều người Tầu có máy “thông-dịch” nhỏ: họ nói vào máy bằng tiếng Tầu rồi bấm nút dịch sang tiếng Anh. Đôi khi tôi và người Úc cũng chẳng hiểu lời dịch tiếng Anh của họ khi muốn giúp-đỡ vài du-khách Tầu.

Theo Tổ-chức Du-lịch thế-giới của Liên Hiệp Quốc, du khách Tầu chi $257.7 tỷ USD trong năm 2017, đứng nhất trên thế-giới trong khi du khách Hoa-kỳ (đứng thứ nhì trên thế-giới) chỉ tiêu có $135.0 tỷ USD. Năm 2017 có 130.5 triệu người Tầu du-lịch nước ngoài, tăng gấp 3 lần so với 10 năm trước. Du-khách Tầu là mối lo lớn cho các nước trên thế-giới dù họ mang đến lợi-ích kinh-tế qua ngành du-lịch. Nhưng lợi mà họ đem lại không bằng cái hại họ gây ra về môi-sinh, về thuần-phong mỹ-tục của dân chúng địa-phương.

”The Ghan” là một trong những đoàn tàu vận chuyển hành-khách bằng đường sắt dài nhất trên thế-giới, chạy xuyên qua sa-mạc Úc. Cái tên “The Ghan” và huy-hiệu hình một người cưỡi lạc-đà được đặt theo tên Afghanistan (hay còn gọi là Ghan) vì lạc-đà nhập-cảng từ Afghanistan đã đưa những người thám-hiểm đầu tiên vượt qua sa-mạc Úc vào cuối thế kỷ 19.

The Ghan

The Ghan chạy từ Adelaide, miền Nam nước Úc, tới Darwin, miền Bắc[7] . The Ghan đi qua rất nhiều địa danh tuyệt vời của Australia như: Alice Springs, Tennant Creek, Kulgera, Kingoonya, Katherine… với chiều dài quãng đường là 2,979 km. Chuyến tàu đi hết 3 ngày 2 đêm[8]. Hiện nay, The Ghan có ba loại vé: Red Service, Gold Service, và Platinum Service; gía vé rất khác nhau. Gold Service lại chia ra mấy loại nữa. Đoàn xe có chiều dài trung-bình 902 meters có 25 giường Platinum Service, 258 giường Gold Service và một số toa Red Service, nhà hàng ăn, máy điện, toa chứa nước, diesel, và các vật-liệu khác.

The Ghan

Đầu tháng 6 tôi vào website của The Ghan để xem tin-tức chứ không định mua vé vì sớm quá; mãi ngày 1 tháng 11 Cruise Great Barrier Reef mới về lại Sydney. Không ngờ khi vào website của The Ghan tôi mới biết hầu hết vé các chuyến xe sau ngày 1 tháng 11 đã “sold out.” Chuyến ngày 4 tháng 11 thì còn mấy vé Gold Service nhưng đi chuyến này thì hơi trục-trặc vì tôi định thăm Melbourne trước The Ghan. Chuyến xe ngày 11 tháng 11 thì Gold Service và Red Service đều “sold out,” chỉ còn vé Platinum Service.

The Ghan chạy qua vùng sa-mạc khô-cằn, cây cỏ thấp, thưa-thớt. Đất phần lớn màu đỏ nên người ta gọi vùng này là “Red Centre” bao gồm Uluru, Kata Tjuṯa và là trung-tâm-điểm của Australian Outback. Thỉnh-thoảng tôi thấy vài con bò, cừu mà tôi không biết là bò hoang, cừu hoang hay của thổ-dân nuôi? Tôi thấy có nhiều đám muối trắng, không biết muối này có liên-hệ gì đến nước biển mấy triệu năm trước hay không?

The Ghan

Mặt Trời mọc ở sa-mạc Úc

Từ Adelaide, trạm dừng đầu tiên là Manguri. Chúng tôi xuống tàu từ 4 giờ sáng để xem mặt trời mọc. Manguri chỉ là trạm xe lửa của The Ghan ở giữa sa-mạc chứ không phải là một thành-phố. Chúng tôi quây-quần quanh hai đống lửa trại để ăn sáng chờ mặt trời mọc. Chúng ta quen dùng những chữ mặt trời mọc, sunrise, mặt trời lặn, sunset là sai, hoàn-toàn phản khoa-học. Mặt trời không mọc, không lặn mà đứng yên một chỗ bởi vì mặt trời là một định-tinh. Thời Cổ Hy-lạp, những chữ này được coi là rất đúng vì người ta tin rằng trái đất là trung-tâm của vũ-trụ; mặt trời, mặt trăng và các tinh tú xoay quanh trái đất (terracentric).

The Ghan

Nitmiluk Gorgges

Trước khi đến Darwin, The Ghan dừng lại rất lâu ở hai trạm Alice Springs và Katherine. Ở hai trạm này, du-khách chọn đi những tours du-lịch địa-phương khác nhau. Alice Springs là một thành-phố nằm giữa sa-mạc mà cũng có một Đài Kỷ-niệm các trận chiến Quân-đội Úc đã tham-dự, trong đó có Việt-Nam. Katherine có nhiều cảnh đẹp hơn, tôi chọn đi thuyền trên sông Katherine để thăm các Nitmiluk Gorgges; phong-cảnh rất đẹp.

Tưởng cần nói thêm là ở Melbourne, du-khách người Tầu chiếm hơn 50%; ở Uluru / Ayers Rock tỉ-lệ này chỉ còn dưới 10%. Đi The Ghan, chúng tôi chỉ gặp một người Á Châu (Nhật Bản) trong số gần một ngàn du-khách.

New Zealand:Kia Ora!”

Kia Ora là tiếng chào thông-dụng ở New Zealand. Kia Ora nguyên nghĩa là “Chào mạnh giỏi” và thường dùng như “Hello.” New Zealand rất đẹp nên du-lịch là một phần quan-trọng trong nền kinh-tế New Zealand. Năm 2016, New Zealand thu được $12.9 tỷ USD về du-lịch (5.6% GDP) và xử-dụng 7.5% nhân lực toàn quốc.

New Zealand đứng thứ hai trong năm nước có số bò nhiều hơn số dân. Năm 2017, dân-số New Zealand là 4.6 triệu mà có tới 9.9 triệu con bò và 39.6 triệu con cừu. Tính ra mỗi người dân New Zealand có 2.17 con bò và 8.6 con cừu. Đi đâu cũng thấy đồng cỏ mênh-mông; bò, cừu đầy đồng; vườn nho, vườn kiwi tươi-tốt.

Nữ Hoàng Anh cũng là Nữ Hoàng của Australia và New Zealand[9]; tuy nhiên, quyền-hành nằm trong tay các Thủ-tướng (Prime Minister). Thủ-tướng hiện-tại của New Zealand là Jacinda Ardern. Bà là nữ lãnh-tụ quốc-gia trẻ nhất trên thế-giới. Bà là người lãnh-tụ quốc-gia thứ hai sinh con khi tại chức [10]. Tuy nhiên Bà Ardern lại là lãnh-tụ quốc-gia thứ nhất bế con nhỏ đi họp Liên Hiệp Quốc. Tòa nhà Dinh Thủ-tướng có mái tròn với nhiều khuôn cửa sổ trông giống như một tổ ong nên dân chúng gọi đùa là “Beehive;” Chính-phủ New Zealand bèn đặt tên website của mình là “beehive.govt.nz.” Dân chúng gọi Jacinda Ardern là “Queen Bee.”

New Zealand chọn con chim kiwi là biểu-tượng cho đất nước mình nên người ta gọi người dân New Zealand là Kiwi. Khi dùng để gọi người New Zealand chữ Kiwi viết với chữ K hoa, khi dùng để chỉ chim kiwi, chữ kiwi viết với chữ k thường. Ngoài ra, khi dùng để chỉ người New Zealand, chữ Kiwis có “s” cho số nhiều nhưng khi dùng để chỉ chim kiwi thì số nhiều cũng không có “s”. Bởi vậy “two Kiwis” là hai người New Zealand còn “two kiwi” là hai con chim kiwi. Rất nhiều người trên thế-giới, kể cả người Việt-Nam, đều biết hình chim kiwi. Các bạn đi lính chắc còn nhớ dầu đánh giày hiệu kiwi; đây là một sản-phẩm của New Zealand đang bán trên khắp các nước trên thế-giới và con chim kiwi này là biểu-tượng cho nước New Zealand.

Auckland

Auckland là thành-phố lớn nhất New Zealand có dân-số 1.6 triệu người, khoảng một phần ba dân-số New Zealand. Trước đây (1842 – 1865) Auckland là thủ-đô của New Zealand. Tôi ở Khách-sạn SkyCity Hotel nằm sát cạnh Sky Tower. Sky Tower cao 328 meters, cao hơn Tháp Eiffel 28 meters và cao gấp 3.5 lần Tượng Nữ Thần Tự-do. Sky Tower có thể chịu-đựng được động đất với cường độ 8.0 độ Richter. Auckland là thành-phố duy nhất trên thế-giới được xây-dựng trên một vùng núi lửa vẫn còn hoạt-động. Cũng nhờ núi lửa, Auckland có nhiều động đá (caves) rất đẹp.

Auckland với Sky Tower

Trên đường từ Auckland đến Rotorua, chúng tôi ghé thăm Động Waitomo Glowworm. Động này không lớn bằng Động Luray Caverns ở Virginia nhưng Waitomo Glowworm Caves không có đèn điện, chỉ có nhiều ánh-sáng của những con glowworms bám trên trần, trên tường, có chỗ phải đi bằng thuyền nên có vẻ âm-u, kỳ-bí như trong truyện kiếm-hiệp. Glowworms là những côn-trùng phát ra ánh sáng như con đom đóm. Glowworms có nhiều loại và có ở nhiều nơi trên thế-giới nhưng con Glowworms Arachnocampa Luminosa sống trong Waitomo Glowworm Caves thì chỉ có ở New Zealand. Đời sống của con glowworm này kéo dài độ 11 tháng và chia ra làm 4 thời-kỳ: trứng, ấu-trùng, con nhộng, và con glowworm. Con glowworm mẹ đẻ từng chùm trứng, mỗi chùm có khoảng từ 30 đến 40 trứng. Sau 20 ngày trứng nở ra con ấu trùng. Ấu trùng tự làm tổ, phát ra ánh sáng để dẫn-dụ những con mồi. Tổ nó làm bằng những sợi tơ có nhựa dính nên dễ bắt mồi. Ấu trùng sống như vậy khoảng 9 tháng thì biến thành con nhộng tương tự nhộng tằm. Con nhộng sống 13 ngày thì cắn tổ nở thành con glowworm giống như một con muỗi to. Con glowworm không có miệng nên sẽ chết đói sau vài ngày. Nhiệm-vụ của chúng trong vài ngày ngắn-ngủi này là giao-hợp và đẻ trứng; mỗi con glowworm cái đẻ độ 120 trứng. Cuộc đời của chúng còn buồn hơn đời sống con ve sầu.

Glowworms trong Waitomo Glowworm Caves

Waitomo Glowworm Caves không cho chụp hình, quay phim. Hình tôi đứng trong Động là một hình ghép. Trước khi vào Động họ chụp hình cho mọi người, chụp đủ kiểu. Khi cô thợ chụp hình yêu-cầu tôi chỉ tay lên trời, tôi không hiểu ý định của cô ta. Cô ta ghép hình này với một hình trong Động, ngón tay tôi chỉ lên những con glowworms như diễn-tả cảnh đẹp kỳ bí của chúng. Những hình này họ bán cho du-khách rất dễ-dàng[11] .

Trung-tâm-điểm của Waitomo Glowworm Caves là “The Cathedral,” chỗ cao nhất trong Động có nhiệt độ 14° C (57° F) quanh năm suốt tháng. Sự cấu-tạo của trần và vách tường thạch-nhũ chung quanh The Cathedral đã khuếch-tán âm-thanh một cách tuyệt-vời. Nhóm du-khách nào cũng có một người hát ở The Cathedral. Đi xa The Cathedral vẫn còn nghe thấy du-khách Tầu hát. Có đoàn du-khách Tầu đã sửa-soạn trước đồng ca một bài ca hùng-tráng; chắc là nhạc Cách-mạng Văn-hóa hoặc nhạc chiếm Trường-sa, Hoàng-sa của Việt-Nam. Tôi định trở lại The Cathedral để hát bài Hội-nghị Diên Hồng hoặc Bạch Đằng Giang để trả lời họ nhưng thấy cũng hơi lố-bịch nên lại thôi. Hơn nữa nhóm tôi đã có một người Đức hát một bài nhạc cổ-điển Tây-phương rất hay.

Waitomo Glowworm Caves

30 triệu năm trước, Waitomo ở sâu dưới mặt nước[12] với những hòn đá vôi bắt-đầu hình thành. Khi núi lửa hoạt-động đã đẩy những hòn đá vôi này trồi lên mặt nước; những hòn đá vôi này cũng bị rạn-nứt tạo ra nhiều khe nhỏ. Nước chảy qua những khe này chảy vào khoảng trống bên dưới. Đá vôi theo nước đọng lại ở chỗ nhỏ nước trên trần và ở chỗ nước nhỏ xuống nền. Chỗ đá vôi đọng lại trên trần gọi là “stalactites,” chỗ đá vôi đọng lại dưới nền là “stalagmites.” Cứ mỗi 100 năm đá vôi đọng lại được một phân khối (1 cubic centimeter). Khi stalactites gặp stalagmites sẽ tạo nên một cây thạch-nhũ từ trần xuống nền gọi là “helicti,” chu-kỳ này cần mấy trăm nghìn năm mới hoàn-thành.

Nông-trại Agrodome

Quanh vùng Auckland chúng tôi còn đi thăm nông-trại Agrodome xem họ cắt lông cừu, dùng chó đuổi cừu vào chuồng…Trước đây tôi cứ tưởng trái kiwi mọc trên cây (trees) nhưng đến Agrodome tôi mới biết kiwi leo như nho (vines); gốc và nhành đều lớn hơn cây nho nhiều. New Zealand trồng rất nhiều kiwi. Phải tới năm 1966 Hoa-kỳ mới nếm thử mùi-vị trái kiwi và những trái kiwi đầu tiên này đã nhập-cảng từ New Zealand. Ngày nay nhiều người Mỹ “nghiện” mùi-vị ngọt, chát, chua của kiwi và thích những chất bổ-dưỡng của kiwi. Có thuyết cho rằng tên trái kiwi do người New Zealand đặt ra từ giữa thế-kỷ 20. Họ đổi tên từ “gooseberry”[13] thành “kiwi” vì thấy trái kiwi và cái bụng con chim kiwi hơi giống nhau. Mặt khác, thời ấy các sản-phẩm mang tên Kiwi, hình ảnh tượng-trưng của New Zealand, được hưởng thuế nhẹ.

Chúng tôi thăm làng Te Puia để xem những tục-lệ cổ-truyền của người Maori. Buổi tối, chúng tôi lại ghé thăm Mitai Maori Village để xem những vũ-khúc văn-hóa cổ-truyền của họ, xem họ diễn lại những chiến trận trên sông. Tối đó chúng tôi thưởng-thức “hangi dinner” của người Maori, một bữa ăn nấu trên đá nóng. Họ đào một hầm sâu, đốt củi thành than rồi kê một tấm đá lớn trên mặt than hồng. Gà, cừu, khoai tây, các loại rau đuợc “nướng” trên tấm đá nóng này.

Mitai Maori Village

Trên đường từ Rotorua đi Napier, chúng tôi đi ngang rừng Kaingaroa, một rừng thông nhân tạo lớn nhất thế-giới, rộng 2,900 cây số vuông. Xe bus chạy 100 cây số một giờ mà đi mãi vẫn không hết rừng thông nhân tạo. Dân số New Zealand chưa tới 5 triệu (ít hơn dân số nhiều thành-phố) mà họ trồng được một rừng thông vĩ-đại như vậy trong khi Việt-Nam cứ chặt cây rừng bán cho Nhật và Tầu.

Napier là một thành-phố nhỏ, dân-số khoảng 64 ngàn, nhưng đón tiếp nhiều du-khách nhờ kiến- trúc Arc Deco, hòa nhạc, và hải-cảng quan-trọng. Trận động đất năm 1931 hầu như hủy-diệt Napier, nhất là khu trung-tâm thành-phố. Trận động đất cường-độ 7.8 này giết hại 256 người và là một thiên-tai giết hại nhiều người nhất trong lịch-sử New Zealand. Bên cạnh sự tàn-phá kinh-khủng này, trận động đất lại tạo nên 40 cây số vuông đất mới vì đã nâng vùng bờ biển lên khoảng 2 meters (đáy Đầm Ahuriri Lagoon được nâng lên 2.7 meters). Người hướng-dẫn-viên du-lịch đưa chúng tôi đi thăm thành-phố thỉnh-thoảng lại dậm chân xuống sàn xe “This was water before.”

Ahuriri Lagoon trước (trái) và sau (phải) trận động đất

Mission Estate do các Cha người Pháp thành-lập ở New Zealand vào năm 1838 nhằm mục-đích giảng Đạo Thiên Chúa. Năm 1851, Mission Estate xây-cất trụ-sở ở Pakowhai nhằm nuôi bò, trồng nho và cây ăn trái. Mission Estate là nhà máy làm rượu nho đầu-tiên ở New Zealand. Năm 1858, các Cha mua được một miếng đất mới ở gần Napier nên dọn về đây. Trụ-sở Nhà Dòng là một căn nhà gỗ rất lớn. Các Cha cắt căn nhà này ra làm 11 phần và chuyển về miếng đất mới bằng các dụng-cụ di-chuyển thô-sơ. Các Cha làm thêm căn phòng chính rồi ghép 11 “miếng nhà” từ trụ-sở cũ vào. Riêng Nhà Thờ thì các Cha không chuyển về và quyết-định xây một Nhà Thờ mới bằng đá. Trận động đất 1931 đã phá-hủy Nhà Thờ đá, giết hại 2 linh-mục và 7 tu-sĩ trong khi trụ-sở Nhà Dòng ghép lại bằng 12 “miếng” bằng gỗ lại không việc gì. Thật là kỳ-lạ!

Năm 1931, tờ báo The Dominion nói “Napier là một thành-phố đã bị xoá tên trên bản-đồ” (Napier as a town has been wiped off the map). Mười năm sau, tờ báo New Zealand Listener nhận-xét “Napier đã sống lại từ tro tàn như một con chim Phượng Hoàng” (Napier had risen from the ashes like a phoenix).[14]

Wellington là thủ-đô của New Zealand được gọi là “the World’s Coolest Little Capital” bởi vì trung-tâm thành-phố chỉ rộng khoảng một cây số vuông. Tòa nhà trụ-sở của Chính-phủ là một trong những căn nhà gỗ lớn nhất trên thế-giới. Wellington rất đẹp nhờ có biển, đồi núi bao quanh.

Wellington – New Zealand

Người dân Wellington có những kỷ-niệm đẹp với US Marines. Đầu năm 1942, Chính-phủ New Zealand rất lo sẽ bị Nhật tấn-công trong khi hầu hết lực-lượng New Zealand đang chiến-đấu bên cạnh Quân-đội Anh ở Âu Châu và Trung Đông. Cùng lúc đó, Hoa Kỳ sửa-soạn tấn-công Nhật nên muốn tìm một căn-cứ quân-sự để tổ-chức một hậu-phương vững-chắc nhằm yểm-trợ mặt-trận Thái Bình Dương và săn-sóc các thương binh. New Zealand là một địa-điểm lý-tưởng. Giữa năm 1942, Sư-đoàn 2 US Marines đã đổ-bộ lên Wellington làm đẹp lòng cả ba nước New Zealand, Hoa-kỳ, và Anh. US Marines trải quân bảo-vệ thủ-đô Wellington và các quân-nhân Công-giáo thường đi xem lễ ở Nhà Thờ Old St. Paul’s. Dần dần giáo-dân và Marines đã vun-đắp những tình bạn thân-thiết, đậm-đà. Từ đó đến nay, năm nào Nhà Thờ Old St. Paul’s cũng cử-hành một Lễ Cầu-nguyện cho US Marines. Trong Nhà Thờ vẫn còn treo lá cờ của Second Division of the US Marines và cờ Hoa Kỳ; Quốc kỳ này chỉ có 48 sao vì hồi ấy, Hoa Kỳ chưa có hai tiểu-bang Alaska và Hawaii. Ngày nay, nhiều người dân Wellington, dù sinh ra sau năm 1942, cũng biết tên những con đường, nhà thương…do US Marines xây nên. Một điểm dễ thương nữa là Wellington có một khu phố mang tên Brooklyn, cạnh Brooklyn là Central Park; Wellington có nhiều đường phố mang tên các tổng-thống Mỹ.

Cờ trong Nhà Thờ Old St. Paul’s

Đến Wellington thì phải đi thăm vườn hồng, đi Cable Car, đi lên đỉnh Mount Victoria, và đi xe Tram. Có hai vườn hồng mà vườn nào cũng có hàng trăm loại hoa hồng khác nhau. Mount Victoria cao 196 meters nên từ trên đó có thể nhìn thấy toàn cảnh Wellington. Xe Tram gần giống như xe điện ở Hà Nội; ngồi trên xe Tram có thể đi khắp thành-phố, rẻ hơn mua một tour “sightseeing.” Wellington đẹp đến nỗi Nhà Tôi muốn dọn qua Wellington ở vài năm để tránh nghe về Tổng-thống Trump.

Christchurch

Năm 1848, John Robert Godley đề-nghị đặt tên cho thành-phố là Christchurch; Godley vốn tốt-nghiệp từ Trường Đại-hoc Christ Church ở Oxford, Anh-Quốc. Christchurch được gọi là “The Garden City” nên rất hãnh-diện với các vườn hoa của mình, nhất là “Christchurch Botanic Garden” rộng 52 mẫu (acres). Vườn này trồng rất nhiều loại cây, hoa trên thế-giới. Có cả cây Red Wood đem từ California sang trồng hơn 100 năm trước, vườn hồng có hơn 250 loại hồng khác nhau. Christchurch Botanic Garden không thu tiền vào cửa nhưng những hãng du-lịch cho thuê xe, thuê thuyền đi thăm các nơi trong vườn. Mỗi năm có hơn 1.1 triệu du-khách thăm-viếng Christchurch Botanic Garden.

Christchurch Botanic Garden

Muốn nhìn Christchurch từ một góc cạnh khác thì đi xe “Gondola,” một toa xe nhỏ treo vào giây “cable” rồi kéo lên đỉnh núi hoặc đưa xuống mặt đất tương-tự như “Ski Lift” ở những núi trượt tuyết. Christchurch Gondola đưa du-khách lên đỉnh núi Cavendish, cao 445 meters trên mực nước biển. Từ trên cao, Christchurch giống như cảnh thần tiên.

Christchurch nhìn từ Mount Cavendish

Năm 2010, một trận động đất cường-độ 7.1 đã tàn-phá Christchurch nặng-nề nhưng không có ai chết. Năm 2011, một trận động đất 6.3 yếu hơn lại giết hại 185 người. Kể từ 2010 đến 2014, có 4,558 trận động đất có cường-độ lớn hơn 3.0. Rất nhiều tòa nhà bị hư-hại mà đến nay vẫn chưa tu-bổ xong kể cả Vương-cung Thánh-đường Christchurch. Thánh-đường này thuộc Giáo-hội Anglican được xây từ 1864 và hoàn-tất năm 1904; Thánh-đường bị hư-hại trầm-trọng sau nhiều trận động đất. Năm 2012 Tòa Giám-mục quyết-định phá-hủy ngôi Thánh-đường rồi xây một Nhà Thờ mới nhưng có nhiều nhóm dân phản-đối; UNESCO World Heritage Centre cũng hậu-thuẫn cho những nhóm này. Phá-hủy rồi xây một Nhà Thờ mới sẽ tốn-kém từ $56 triệu tới $74 triệu, và cần từ 4 đến 9 năm trong khi sửa-chữa lại sẽ tốn-kém từ $104 triệu tới $221 triệu, và cần từ 6 đến 22 năm. Tiền bồi-thường từ bảo-hiểm động đất là $40 triệu. Tòa Giám-mục không chịu sửa-chữa vì qúa đắt, phần lớn giáo-dân cũng đang bị hư-hại nhà cửa nên không thể đòi-hỏi họ đóng góp nhiều cho việc sửa-chữa Nhà Thờ. Các nhóm dân phản-đối kiện Tòa Giám-mục và họ thắng. Năm 2017, Tòa Giám-mục quyết-định sẽ sửa-chữa Vương-cung Thánh-đường Christchurch.

Christchurch là cửa ngõ đi xuống Nam Cực. Không-quân và Hải-quân Hoa-Kỳ cộng thêm Không quân New Zealand và Không-quân Australia đều lấy phi-trường Christchurch làm điểm xuất-phát để đi tiếp-tế cho các căn-cứ McMurdo và Scott Bases ở Nam Cực. Hậu-cứ Christchurch chứa hàng ngàn bộ quần áo và đồ phụ-tùng để chống lại nhiệt-độ cực lạnh dùng cho các chương-trình của Hoa-Kỳ ở Nam Cực.

Christchurch là thành-phố cuối cùng của cuộc du-lịch “Miệt Dưới” 40 ngày của hai vợ chồng tôi. Đi dự HNLK năm nay còn là dịp hai đứa tôi kỷ-niệm hơn nửa thế-kỷ chung sống bên nhau, hơn nửa thế-kỷ trôi-nổi theo vận-mệnh đất nước. Ở New Zealand chúng tôi đi tour của hãng Thrifty Tours New Zealand nhưng suốt 9 ngày này tôi không gặp một nhân-viên nào của Thrifty Tours; họ chỉ là người trung-gian thuê các hãng du-lịch địa-phương để ghép lại thành 9 ngày du-lịch cho vợ chồng tôi. Từ trước tới nay, khi du-lịch nước ngoài, tôi đều đi với hãng Grand European Travel hay Trafalgar; họ tổ-chức khác hẳn Thrifty Tours. Grand European đón mình từ nhà, đưa mình về lại nhà sau tour. Tour dù dài, dù ngắn cũng chỉ có một hướng-dẫn-viên du-lịch đi với mình từ đầu đến cuối (đôi khi họ có thêm hướng-dẫn-viên người địa-phương). Nhóm du-khách đi tour với mình cũng không thay-đổi. Ở New Zealand 9 ngày, chúng tôi đi với hơn mười hãng du-lịch khác nhau, hướng-dẫn-viên du-lịch cũng như bạn du-khách cũng thay-đổi theo mỗi tour địa-phương. Mặt khác, mua tours ở Australia và New Zealand phải đọc kỹ chi-tiết vì nhiều tours rẻ họ cắm trại (camping) chứ không ở khách-sạn hoặc mình phải lái xe lấy.

Anh Nguyễn Trường Phát, Hội QGHC Miền Đông HK, nhận cờ Luân Lưu từ Anh Nhan Tử Hà

Cảm tạ Chúa, cám ơn Thượng-đế đã cho chúng con sống đến tuổi này lại cho chúng con còn sức-khỏe để đi đây đi đó. Cám ơn Anh Nhan Tử Hà, Anh Lê Văn Thái, Anh David Ngô Văn Đượm và các ACE trong Ban Tổ-chức HNLK 2018, các ca-sĩ, nhạc-sĩ, MCs.. đã cho chúng tôi có cơ-hội gặp mặt nhau; cám ơn Anh Nguyễn Văn Sáu đã như con thoi chuyển tin từ Úc đến chúng tôi. Cám ơn tất cả ACE/QGHC ở Úc đã đón-tiếp chúng tôi rất niềm-nở, thân-thiện, chan-hòa tình-nghĩa ACE đồng song, đồng môn. Hẹn gặp lại các ACE trong kỳ HNLK 2019 ở Washington. Tuổi chúng ta đều đã 6, 7, 8 bó; hãy tận-dụng những ngày còn lại ít-ỏi của chúng ta để gặp mặt nhau, hàn-huyên, thăm hỏi nhau. Tôi xin cám ơn hai anh David Ngô Văn Đượm và Nhan Tử Hà đã sốt-sắng gửi cho tôi nhiều tài-liệu du-lịch Australia và New Zealand.

Tôi đi Úc về trễ nên giữa Tháng 12 mà vẫn chưa viết xong bài này thì vừa nghe tin Chị Trần Thiện Tích mới qua đời ở Úc. Khi sang Úc, vợ chồng tôi có ghé thăm Chị vì Chị không đi họp HNLK. Anh Tích học với tôi ở Cao-học 2, Chị Mỹ Nam học với tôi ở Đại-học Văn-khoa Sài-Gòn. Vừa được gặp lại Chị thì nay Chị đã ra đi. Mong xin Chị an-nghỉ, quên đi cõi đời vô thường này và nguyện cầu hương-linh Chị Mỹ Nam, Pháp-danh Tâm Tường sớm tiêu-diêu Miền Vĩnh Hằng.

Đặng-Quốc-Tuấn

ĐS 10 / CH 2

12/2018


Ghi chú:

[1] Tôi được giải nhất Luận-văn Tốt-nghiệp Khóa Đốc-sự 10 và Khóa Cao-học 2 (Ban Hành-chánh) nhưng ở cả hai khóa, tôi đều đồng điểm với một sinh-viên khác. Cả hai lần Giáo-sư Bông đều phải họp Hội-đồng Giáo-sư để chọn một sinh-viên nhất vì Học-viện muốn tặng một quyển Luận-văn chiếm Giải Nhất cho vị Chủ-tọa Lễ Tốt-nghiệp. May mắn thay, tôi được Hội-đồng Giáo-sư chọn cả hai lần. Cám-ơn Thầy Nguyễn Văn Bông, Thầy Nguyễn Khắc Nhân, Thầy Nguyễn Văn Tương và các Thầy, Cô khác đã chọn con. Nhờ vậy con đã có đủ lòng tự tin khi viết Luận-án Tiến-sĩ Tài-chính / Kế-toán ở Pace University, Hoa-Kỳ. Lần này con đã chiếm giải Nhất mà không có sinh-viên nào đồng điểm vì cả 5 vị Giáo-sư chấm Luận-án Tiến-sĩ của con đều cho con A+.

[2] phần dưới mặt đất của Uluru lớn hơn phần trên mặt đất nhiều

[3] Orogeny là sự tạo núi hay mountain building

[4] ký-hiệu là 550 Ma (Ma viết tắt chữ megaannum, đơn-vị đo thời-gian cho một triệu năm)

[5] bây giờ đang Mùa Xuân; Mùa Hè có thể nóng tới 115° F (46° C), mùa Đông có thể xuống

tới 23° F (-5° C).

[6] Từ nhiều năm nay, chúng ta quen dùng tên “Chương-trình H.O.” theo nghĩa HO là Humanitarian Operation nhưng có người cho rằng chữ “H” là chữ viết tắt chữ “Hồ-sơ” của Hà-nội, 0 không phải là chữ O mà là số zero; H 01 là Hồ-sơ 01 chứ không phải là HO 1, H 02 là Hồ-sơ 02 chứ không phải là HO 2… Những Hồ-sơ từ 10 trở lên không có số zero nữa (H 11, H 12….). Cộng-sản Việt-nam đã lợi-dụng tên sai-lạc H.O. Humanitarian Operation này để tuyên-truyền cho một chính-sách nhân-đạo tưởng-tượng của họ. Tôi tìm (chỉ “Googled” sơ thôi chứ chưa nghiên-cứu kỹ) trong vài hồ-sơ của Bộ Ngoại-giao Hoa-kỳ thì không thấy họ dùng chữ “H.O. Humanitarian Operation.” (In 1989, the Reagan administration entered into an agreement with the Vietnamese government, pursuant to which Vietnam would free all former ARVN soldiers and officials held in re-education camps and allow them to emigrate to the United States under the Orderly Departure Program (ODP)).  Tôi sẽ tìm hiểu thêm về vấn-đề này.

[7] tàu sẽ đi ngược lại cho chuyến tàu Southbound, bán vé riêng biệt

[8] có những chuyến xe đặc-biệt, “The Ghan Expedition,” đi 4 ngày 3 đêm, giá vé đắt hơn

[9] New Zealand vốn là thuộc-địa của Anh từ 1841, được độc-lập năm 1947.

[10] người thứ nhất là Thủ-tướng Benazir Bhutto của Pakistan

[11] tương-tự như các du-thuyền

[12] Waitomo là chữ Maori; wai có nghĩa là nước, tomo là động sâu

[13] tên gọi trái kiwi ở Tầu; Tầu là nước trồng kiwi nhiều nhất trên thế-giới.

[14] Con chim Phượng Hoàng khi gìa gần chết lại nhẩy vào “tắm” trong lửa để trẻ lại như thời son trẻ.

Dịch COVID-19 Với Suy Nghĩ Của Tuổi Già

Phạm Thành Châu

Biết bạn đang trải qua một thời gian dài tự cô lập trong lo lắng và buồn bực vì nạn Covid-19, tôi sẽ viết linh tinh “đủ thứ bà rằng” và cố gắng thêm thắt sao cho bạn nằm trong chăn, vừa hưởng cái thú gây gây lạnh của mùa thu vừa mĩm cười với những dòng chữ lẩm cẩm nầy. Tuy chẳng nghiêm trang, nhưng cũng được “một vài trống canh”.

Từ tháng 3 năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát khắp thế giới. Tử thần Covid khởi hành từ thành phố Vũ Hán bên Tàu. Đó là một trong những thứ vũ khí sinh hóa, giết người tàn độc nhất mà tất cả các quốc gia, từ văn minh đến chậm tiến đều bó tay chịu chết. Nó tàn sát, đa số là những người lớn tuổi. Đã già mà còn thêm bịnh nền (có sẵn) trong người thì lưỡi hái của nó vung lên lấy mạng trong chớp mắt. Người lớn tuổi khiếp vía. Họ không dám ra đường, không dám tiếp xúc với ai. Có một bà già sợ đến nỗi không đi chợ, không lấy thức ăn mà bạn bè, con cháu để trước cửa, sợ vi rút dính ở bao bì, nên cứ để đó suốt mấy ngày, hàng xóm thấy lạ, gọi cảnh sát. Hóa ra bà ta gần chết vì đói. Chưa bao giờ người lớn tuổi nhìn thấy rõ cái chết của người khác (cỡ tuổi mình) bằng lúc nầy. Bạn bè, thân quyến chết hằng ngày, chết liệt địa! Tuần trước, ông X. mới gọi nói chuyện, hôm qua đã nghe “đi” rồi. Ông K. mình mới đến nhà thăm hôm kia, thấy vẫn mạnh khỏe, cười nói vui vẻ, vậy mà vừa nghe, đã được đưa vô bịnh viện, thở Oxy. Giở tờ báo, mấy trang sau đầy cáo phó với chia buồn. Tính đến hôm nay (thời điểm tháng 9 năm 2020) trên thế giới, đã có gần 30 triệu người nhiễm Covid-19 với gần 1 triệu người chết. Bịnh dịch đã giết hơn 7,000 bác sĩ, y tá, y công, là những người làm công tác chống đỡ, cứu chữa người bị lây nhiễm. Riêng nước Mỹ, số người nhiễm dịch Covid-19 gần 7 triệu người và số người chết đã trên 200 nghìn. Điều buồn cười là một quan chức y tế hàng đầu của Canada, Therese Tam khuyên mọi người không hôn và cần đeo “khẩu trang?” (che miệng lại!) khi quan hệ tình dục để bảo vệ bản thân khỏi virus corona.

Sau đây là những suy nghĩ vụn vặt của một người lớn tuổi, đang bị Cô (tên) Vít ám ảnh trong đầu. Như người lính ra trận, trước kẻ thù mà run sợ thì có mà bỏ mạng sớm. Nhưng kẻ thù thì có thể thấy được, chứ với cái “Cô Vít-19” nầy thì dung nhan chỉ thấp thoáng trong kính hiển vi điện tử với hình chụp như trái banh có gai màu sắc sáng chói, thấy đã lạnh người. Cá nhân tôi,  “thí mạng cùi”, cứ nhởn nhơ khắp nơi, cà phê, cà pháo với bạn bè mà vẫn bình yên vô sự. Mà giả sử như thình lình Cô Vít-19 (tuổi) nhảy đến ôm chầm lấy tôi thì sao? Sao trăng gì! Sống đến tuổi nầy, trên bảy mươi, quá đủ rồi, Còn gì phải lưu luyến chốn trần ai nầy nữa? Đời chỉ là vở hài kịch mà tôi là tên hề giễu dỡ, hạ màn thì vừa. Nhưng, cũng giống như trong tuồng cải lương, Nhân vật sắp chết mà vẫn ngóc đầu ca đủ sáu câu vọng cổ mới chịu tắt thở. Tôi cũng vậy, nhưng chỉ nói chuyện vui thôi vì “Khóc lóc, rên rỉ là hèn nhát”.

Mỗi người, sinh ra đời có ba giai đoạn. Giai đoạn đầu, “tin” có ông già Noel (Santa Claus), giai đoạn kế tiếp là “không tin” có ông già Noel và giai đoạn cuối cùng là “làm” ông già Noel. Giai đoạn đầu, trẻ con, ăn chơi và học hành, không có gì đáng nói. Đoạn giữa mới nhiều chuyện rắc rối cuộc đời, mà cái rắc rối nhất là tình yêu, rồi  tiến đến hôn nhân (lập gia đình), có cặp  chia tay (ly dị) và cuối cùng kéo nhau chui xuống đất (xuống “âm phủ!).

Xin nói chuyện tình yêu trước. Yêu ai phải tìm cách cho người ta biết. Người ta yêu lại mình mới ngỏ lời xin cầm bàn tay tức là cầu hôn. Mà muốn cầu hôn phải làm gì? Quì xuống dưới chân người đẹp với bó hoa hoặc với chiếc nhẫn hột xoàn. Khi người đẹp đã khoái mình thì dù nói “ba hoa thiên địa” gì nàng cũng gật đầu. Ngược lại người ta không ưng mà mình cứ lải nhải thì coi chừng ăn guốc lên đầu. Có vài màn cầu hôn đáng chú ý như sau.

Ngày 8 tháng 3, 2020, một cậu ở đường Abbeydale, nam Yorkshire, nước Anh, sửa soạn một buổi tối long trọng gồm hàng trăm ngọn nến được thắp lên, rượu, bong bóng bay và thức ăn bày lên bàn rồi vội vã lên xe đi đón người yêu. Lúc quay về thì căn nhà đang cháy tưng bừng với ba xe cứu hỏa đang xịt nước vào đám cháy một cách tuyệt vọng. Người đẹp khoái quá, nhận ngay lời cầu hôn của cậu ta trước đống tro tàn. Chả cần, hoa lá, đèn đóm phiền phức.

Một chuyện khác. Cậu Jérémy đưa người đẹp Athina Yalias vào công viên quốc gia Kruger, Nam Phi. Đến một nơi vắng vẻ, rậm rạp, cậu Jérémy quì xuống, thiết tha ngỏ lời yêu thương. Người đẹp cảm động, cúi xuống, hôn lên trán cậu ta. Thình lình, một con nhện có nọc cực độc tanratula, chích cho cậu ta một phát vào mông đít. Cậu Jérémy hét lên đau đớn, người đẹp cũng suýt ngất xiu vì lo sợ. Cũng may, con nhện không chích vào “điểm chiến lược” nên cậu vẫn là vợ chồng được như thường.

Một cậu khác, có sáng kiến lặn xuống nước, ngỏ lời cầu hôn với người đẹp đang đứng trên cầu nhìn xuống, lắng nghe. Cậu nói cách nào mà nước tràn vào họng và cậu chết đuối. Kính lạy ngài Allah! Xin ngài nhận cậu ta lên thiên đường và tặng cho cậu bảy (7) nàng trinh nữ kẻo tội nghiệp.

Rồi đến chuyện gia đình. Có mấy ông thần ve chai ngồi nhậu, gật gù với nhau. Một ông đề nghị, mọi người thử gửi tin nhắn (message) bằng điện thoại về cho vợ câu “Anh yêu em” để xem các bà trả lời ra sao? Bà vợ 20 tuổi trả lời “Em cũng yêu anh” Bà 30 tuổi “Xỉn rồi phải không?” Bà 40 tuổi “Ông điên rồi hả?” Bà 50 tuổi “Ông gửi lộn cho con đĩ chó nào hở? Về đây, bà thiến tận gốc cho biết tay bà”                            

Sống với nhau qua thời gian, làm gì cũng xảy ra chuyện “Ông ăn chả, bà ăn nem”, nghĩa là ngoại tình. Đã là vợ chồng mà còn ngoại tình thì gia đình trở thành địa ngục. Khi một người ngoại tình cũng giống như cây đinh đã đóng vào tường. Cây đinh có được nhổ đi nhưng cái lỗ đinh vẫn còn đấy. Nó ám ảnh suốt đời sống vợ chồng. Nhiều khi cố quên để hàn gắn tình cảm gia đình, nhưng đã thật sự nguội lạnh, thấy ghê tởm, hết phương cứu chữa, đành sống với nhau như đóng kịch, coi như bạn “share” phòng. Hiếm có những cặp vợ chồng lớn tuổi sống hòa hợp bên nhau tuy người ngoài nhìn vào tưởng như họ đang hạnh phúc, vì trải qua bao nhiêu năm, làm gì cũng có lúc họ vi phạm nghĩa vụ vợ chồng (nghĩa vụ đồng cư, chung thủy). Với người Âu, Mỹ, hễ có xích mích nhỏ là họ chia tay. Người Việt thường vì sĩ diện, vì con cái, vì xã hội mà miễn cưỡng chịu đựng nhau “Ở chung với người nghịch như nếm mật nằm gai” Không gì khổ sở bằng sống dưới một nhà mà hằng ngày phải nhìn thấy mặt người mà mình không dám nhìn. Có mấy ông già ngồi uống cà phê. Một ông hỏi các bạn “Ở tuổi gần đất xa trời. các ông ghét nhất là điều gì?” Người thì nói “Cái mặt lầm lì của mụ vợ khi có chuyện không vừa ý. Nó như người câm, miệng như dán băng keo” Người khác “Vợ tôi mở miệng ra là gầm gừ như sủa. Hỏi nó thì nó hỏi ngược lại. Nó cũng có học mà không hiểu sao càng ngày nó càng hỗn hào, mất dạy. Tôi là chồng nó mà nó nạt tôi như đứa ở”  Ông khác “Mình già rồi, đâu thiết chuyện lăng nhăng. Vậy mà cứ ghen bóng ghen gió. Hết chuyện mới lại đem chuyện xưa rích ra kể lễ, đay nghiến. Ước gì được như mấy ông độc thân. Sống không có vợ sung sướng như đang ở trên thiên đàng”. Báo chí thường đăng chuyện nhiều ông chồng sợ vợ đến nỗi phải vào nhà băng cướp tiền rồi ngồi chờ cảnh sát đến bắt đi. Hỏi tại sao? Ông ta bảo, mong được ở tù còn hơn là phải về nhà nhìn thấy mặt bà vợ. Muốn “thoát ly” khỏi tay bà vợ đâu phải chuyện dễ. Trốn đi dâu mà không bị “dẫn độ” về nhà? Ăn uống, sinh hoạt ra sao? Ai săn sóc khi bịnh hoạn? Chỉ có nhà tù là tốt nhất. (xin lưu ý. Tốn kém mỗi năm để giam giữ một tù nhân ở Mỹ là trên ba mươi nghìn USD, thời giá năm 2000)

Bây giờ nói qua chuyện ly dị. Ở Việt Nam ta, ngày xưa, có luật “Thất Xuất” (7 lý do chồng đuổi vợ ra khỏi nhà)

1- Tuyệt tự. Không con trai nối dõi tông đường.

2- Dâm dật (không chung thủy)

3- Không thờ cha mẹ chồng.

4- Lắm điều (chua ngoa, khiến người khác khó chịu).

5- Trộm cắp.

6- Ghen tuông vô cớ.

7- Có ác tật (bịnh tật, không đảm đương được việc nhà, có thể truyền bịnh cho người nhà, con cái)

Xem ra, người chồng, chỉ cần viện cớ mơ hồ (điều 4, điều 6) là có thể tống xuất vợ ra khỏi nhà. Tuy nhiên, cũng có luật “Tam Bất Khả Xuất” để bảo vệ người đàn bà dù người vợ phạm “Thất Xuất”.

1- Người vợ đã từng để tang cha mẹ chồng trong ba năm.

2- Trước nghèo, sau giàu (người vợ đã góp công sức vào gia đình nhà chồng)

3- Không còn chỗ nương thân (thông thường, chồng trả vợ về bên nhà vợ. Nếu cha mẹ vợ không còn thì không được đuổi vợ)

Tôi không thấy luật cho vợ được phép bỏ chồng?! Luật xưa, coi cho biết, chứ thời bây giờ, không ưa nhau, thì lôi nhau ra tòa xin li dị mà không cần nêu lí do. “Anh đi đường anh, tôi đường tôi…” Ly hôn chớp nhoáng được luật Hồi giáo chấp nhận. Người chồng chỉ nói, (có thể gọi điện thoại) 3 lần, 2 tiếng “Galak” (ly hôn) là coi như đã ly hôn (Xin báo một tin vui. Tôi đã theo đạo Hồi sáng nay. Chiều nay tôi sẽ về nói với vợ tôi “Galak. Galak. Galak!” Hê Hê Hê!)

Sau đây là một vài lý do (vui) khiến vợ chồng đưa nhau ra tòa. Một bà vợ đòi li dị ông chồng vì “Ông ta cứ gài ngược cuộn giấy vệ sinh khiến tôi bực mình hết sức”. Một bà vợ phát hiện chồng dẫn gái về nhà trong lúc bà ta đi vắng, vì con vẹt cứ nói “Vào nhà đi em. Anh nhớ em, thèm em quá!” Một bà khác thưa chồng vì tội phỉ báng “Hắn nói tôi là con khỉ già” Quan tòa hỏi “Ông ta nói như thế với bà từ khi nào?”Cách nay 20 năm” “Sao bây giờ bà mới thưa ông ta ra tòa?” “Tuần trước tôi đi sở thú mới thấy rõ con khỉ già nó như thế nào” Một bà khác đưa chồng ra tòa vì nói nhiều quá, chịu hết nỗi, quan tòa hỏi lý do, ông chồng trình bày sự việc suốt bốn tiếng đồng hồ khiến quan tòa cũng phải phát khùng! Một bà khác thưa với quan tòa “Buổi sáng, tôi chiên trứng cho thằng chả ăn thì hắn nói “Sao không làm ốp-la?”(chiên hơi sống). Bữa sau tôi làm ốp-la, thằng chả lại hòi “Sao không chiên trứng mà làm ốp-la?” Bữa sau nữa tôi làm ốp-la một trứng, chiên một trứng khác. Thằng chả lại nói “Trứng chiên thì làm ốp-la, trứng ôp-la thì lại đem chiên. Ai ăn cho được?”                                                                                                          

Vậy thì vợ là người như thế nào? Một ông bố nhận được thiệp hồng (thư mời đám cưới)  của con trai, ông ta trả lời thư như sau. “Một số người nói. Khi hai người kết hôn, họ trở thành những người thân. Nhưng bố muốn nói với con rằng. Cho dù con kết hôn bao nhiêu năm, con phải nhớ. Cha mẹ, con cái mới là người thân, còn vợ chỉ là người yêu. Vợ con không phải là người thân của con. Con có thể la lối, hờn trách bố mẹ vì bố mẹ là người sinh ra con. Mối liên hệ nầy không thể chối bỏ được, nhưng vợ thì không. Quan hệ với cô ấy là hai bên cùng có lợi. Nếu con phạm lỗi, cô ấy có thể rời con bất cứ lúc nào” (và thành vợ người khác)

Nói vậy tôi không có ý đánh giá thấp tình vợ chồng. Người Á Đông như người Việt, nhất là vùng thôn quê, hiếm có chuyện vợ chồng bỏ nhau. Họ yêu  thương nhau cho đến trọn đời. (Ngày xưa, vợ gian dâm với người không phải chồng mình thì bị gọt đầu, bôi vôi, đóng bè cho trôi sông, không ai dám cứu). Ở hải ngoại, vợ chồng sống giữa xã hội văn minh với người bản xứ, ngôn ngữ bất đồng, như người câm điếc, cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng nên vợ chồng phải nương tựa, che chở cho nhau, tình nghĩa vợ chồng càng trở nên sâu đậm. Thế nên khi đôi vợ chồng già mà một người từ giả cõi đời thì người kia đau khổ, nhớ nhung dẫn đến suy sụp cả tinh thần lẫn thể chất. Người đàn ông chịu đựng mất mát tình cảm kém hơn đàn bà nên thường gục ngã rất nhanh sau khi vợ chết.

Có vài chuyện kể, khiến ta cảm động.

Cụ ông John Wilson 92 tuổi, cụ bà Marjorie 88 tuổi sống bên nhau gần 62 năm. Cụ bà bị bịnh phải vào nằm nhà thương Queen Hospital Burton ở Staffordshire, nước Anh. Rồi cụ ông mắc bịnh ung thư giai đoạn cuối phải vào cùng bịnh viện. Lúc đó cụ bà bịnh đã ổn định sẽ được đưa về nhà dưỡng lão. Nhận thấy, có thể hai người sẽ không còn dịp gặp nhau, bịnh viện sắp xếp hai giường của hai cụ gần nhau. Cụ ông nắm tay cụ bà, nói lời vĩnh biệt rồi mỉm cười, nhắm mắt đi vào cõi hư vô.

Đôi vợ chồng đều mù. Ngày cưới về, chồng nắm tay vợ dẫn đi khắp nhà cho vợ quen biết mọi vật. Nay cả hai đã gần tám mươi tuổi. Chồng làm nghề thổi kèn đám cưới, lúc nào cũng nắm tay vợ, dẫn theo, coi như thổi kèn cho vợ nghe “Trăm con phượng hoàng”, “Niềm vui đầy nhà”. Trong đám đông lao xao tiếng cười nói, chỉ cần nghe tiếng gọi nho nhỏ, chỉ cần nghe hơi thở, họ cũng tìm thấy nhau. Một lần, chồng ngã gãy chân, phải nằm bệnh viện. Vợ bốn ngày không ăn hạt cơm. Không sờ thấy bàn tay quen thuộc kia, bà không còn hồn vía nào nữa.

Bây giờ đến “Cái vấn đề” mà các cụ ông, cụ bà quan tâm, lo lắng. Đó là cái Chết.

Đứa bé, vừa lọt lòng mẹ đã chào đời bằng tiếng khóc “Oe oe!”. Trần có vui sao chẳng cười khì? Lớn chút nữa, chập chửng biết đi. Bước đi đầu tiên cũng là bước tiến đến bức tường trước mặt. Bức tường vô hình nhưng không người nào, kể cả vua chúa hay thánh nhân có thể vượt qua. Đó là cái Chết.

Nhưng chết là hết hay còn gì xảy ra?

Lai như lưu thủy hề, thệ như phong.

Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung.

(Đến như nước chảy, như gió thoảng.

Không biết ta từ đâu đến, rồi về đâu?)

Nếu người có linh hồn thì khi chết, hồn đi đâu? Lang thang trong cõi âm tăm tối, mịt mù, không thấy đường đi, không có lối về, bơ vơ, trơ trọi. Ai? Có ân nhân nào ra tay cứu vớt, đưa đường, dẫn lối cho linh hồn về với ánh sáng, thoát khỏi trầm luân? Thế là các triết gia, các ngài giáo chủ các tôn giáo đứng ra giải thích, rằng có những thế giới khác. Nó ở “trên cao” là thiên đường, nát bàn, cõi tiên… sướng lắm! Nó ở “dưới” địa ngục, hỏa ngục, âm phủ… đau đớn, khổ sở?

Triết gia Epicure (341-270 tcn) viết “Ta không sợ chết. Nó chẳng là gì đối với ta cả, vì khi ta sống, nó chưa có, đến khi nó có mặt thì ta không còn tồn tại”. Phái Khắc Kỷ, đặc biệt là Senèque và Epitète, lại có một lý luận khác để chiến thắng nỗi sợ chết. Họ coi sự chết là một tất yếu của thiên nhiên. Con người là một phần của thiên nhiên. Thiên nhiên có lý tính và con người tham dự vào lý tính ấy. Với cái chết, cá nhân sẽ tan biến, nhưng thiên nhiên là cái toàn thể vẫn tồn tại. Vì thế ta hãy chấp nhận cái chết như một “tất yếu theo định luật thiên nhiên”.

Đa số những lời giải thích của các tôn giáo thường siêu hình và áp đặt. Tôi không có thẩm quyền trên tôn giáo nên chỉ trích đăng một vài đoạn ngắn về phát biểu của các tín đồ của tôn giáo họ.

Trước hết là bài viết vui của luật sư Nguyễn văn Chức, một tín đồ Thiên Chúa Giáo. Ông tưởng tượng, sau khi mình chết, linh hồn mình sẽ “sinh hoạt” như sau. (bài của vip kk)… Sau khi đi thăm một vài nơi ở thế giới của Dante, tôi được đưa ra trước tòa phán xét của Thượng Đế. Tôi là người Công Giáo, tôi phải trả lời về tất cả những hành vi và ý nghĩ của tôi lúc còn sống. Ôi “ngày của thịnh nộ” (Dies irae, dies illa). Nếu linh hồn tôi có tội trọng (mortal sin), tôi sẽ phải xuống hỏa ngục, chịu lửa thiêu đốt đời đời. Nếu linh hồn tôi không có tội trọng và trong trắng như gương, tôi sẽ được lên Thiên Đàng ngay lập tức. Nhưng nếu linh hồn tôi, tuy không có tội trọng, nhưng không trong sáng như gương, nghĩa là còn lợn cợn bụi trần, thì tôi sẽ đi đâu? Tôi sẽ phải xuống ngục luyện tội (purgatory) một thời gian để lửa đốt con người tôi cho sạch những lợn cợn, và sau đó tôi mới được lên Thiên Đàng. Thời gian ở luyện tội, có thể là 10 năm, 20 năm, 50 năm . . . Tùy trường hợp nặng nhẹ. Mà tôi thì như cụ đã biết, nhiều lợn cợn lắm, thể xác cũng như tâm hồn. Có lẽ phải ở luyện tội cả mấy trăm năm.   Tôi được đưa đến tòa phán xét. Chưa đầy 5 phút, có tiếng loa. “Ai có vợ, và đã sống với vợ từ 30 năm trở lên, hãy đứng sang bên phải.” Tôi lễ mễ chạy theo tiếng loa, đứng sang bên phải. Đông lắm, người nào trông cũng thiểu não quá sức. Hai phút sau, có tiếng vọng từ trời cao: “Các con yêu mến, lúc còn sống, các con có vợ và đã ở với vợ trên 30 năm, như thế các con được coi như đã ở luyện tội cả mấy trăm năm rồi, các con sạch mọi tội lỗi và đáng được lên Thiên Đàng ngay lập tức để hưởng Thiên Nhan Chúa”. Mọi người đều hoan hô. Một ông già Mỹ móm mém, phều phào “All right!”. Tôi cũng phều phào “All right!”.                                              

Sự chết đối với người Hồi giáo.  Theo Qur an: Thiên Chúa định trước thời điểm một người chết trước khi được sinh ra. Không ai có thể đẩy nhanh hoặc trì hoãn cái chết của chính mình hoặc cái chết của người khác nếu điều ấy trái với ý muốn của Thiên Chúa, bất kể nguyên nhân cái chết. Theo Kinh Qur an 45:26: “ Allah sẽ ban cho bạn sự sống, sau đó giết bạn, và sau dó Ngài sẽ tập hợp bạn đến Ngày Phục sinh, trong đó không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, hầu hết mọi người không biết điều nầy”.  Có người nói rằng, người chiến binh Hồi giáo chết vì kẻ thù, linh hồn sẽ được lên thiên đàng và được Allah thưởng cho bảy (7) trinh nữ. Trước kẻ thù mà người chiến binh Hồi giáo bỏ chạy thì đàn bà cũng có quyền chém chết.                                                                                                   

Phát biểu của đức Đạt Lai Lạt Ma (Phật giáo) về cái chết.    

Với những người chuyên tạo ác nghiệp thì hơi ấm của thân thường thất thoát ở phần trên của thân trước tiên và sau đó mới thất thoát ở các phần khác của thân. Ngược lại, người chuyên tạo nghiệp thiện, thì hơi ấm thường thất thoát từ dưới chân trước tiên. Trong cả hai trường hợp trên, hơi ấm sau cùng tụ lại ở nơi tim, và từ đấy lìa khỏi thân. Các phần tử vật chất này, gồm tinh cha và huyết mẹ kết hợp lại, là nơi thần thức nhập vào lúc đầu tiên để vào tử cung mẹ khi bắt đầu sự sống. Các phần tử vật chất này biến thành trung tâm luân xa tim, và chính từ những điểm nầy mà thần thức cuối cùng lìa khỏi thân. Ngay khi thần thức lìa luân xa tim, thân trung ấm bắt đầu, trừ trường hợp của các vị tu hành cao, thác sinh trong cảnh trời vô sắc của các cõi không vô biên giới, thức vô biên giới, các “cõi Không” hoặc là các cảnh giới cao nhất của cõi luân hồi, thì đi tái sinh ngay sau khi chết. Những người thác sinh vào các cõi dục giới và sắc giới thì vẫn phải trải qua thân trung ấm, ở trong đó những người này sẽ mang hình dạng của thân tái sinh tương lai. Thân trung ấm có đầy đủ 5 giác quan và có cả nhãn thông, có khả năng đi xuyên qua vật chất, và bay ngay lập tức đến nơi mình muốn. Thân trung ấm cũng có thể thấy được các thân trung ấm khác cùng thể loại (tức là cùng cõi đi tái sinh). Các thể loại khác nhau là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, a tu la và trời. Khi thân trung ấm chưa tìm được nơi đi tái sinh thích hợp với nghiệp lực của mình sau 7 ngày thì nó sẽ phải trải qua sự chết của trung ấm và tái sinh trong một thân trung ấm mới. Tái sinh trung ấm chỉ có thể diễn ra nhiều nhất là 6 lần, có nghĩa là thần thức chỉ có thể trải qua tối đa là 49 ngày trong cõi trung ấm. Điều đó cũng có nghĩa là khi một thần thức sau khi chết đi một năm trời, hiện ra và cho biết vẫn chưa được tái sinh, không còn ở trong cõi trung ấm nữa, thì thần thức đó đã tái sinh thành ma. (hết  trich) 

 Tóm lại đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Do Thái tin rằng, sau khi chết, linh hồn sẽ bất diệt, được về với Thiên Chúa nơi thiên đàng. Đạo Phật thì cho rằng, linh hồn không bất diệt mà được  đầu thai vào kiếp khác tùy theo cái nghiệp mà mình đã tạo nên. Thế thì với người Á Đông (đặc biệt Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam, Đài Loan, Nhật Bản) chịu ảnh hưởng của ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo, nhận định ra sao về cái chết?

Như đã nói ở trên, với Phật giáo, con người khi chết, thân xác tiêu tan nhưng linh hồn sẽ đầu thai vào sáu cõi tùy nghiệp chướng do mình tạo ra khi còn sống. Lão giáo (Đạo gia) cho rằng, ngoài thân thể, là phần vật chất hữu hình còn có hồn và phách (vía).  Lão Tử không bàn đến Thượng Đế, linh hồn, thiên đàng, địa ngục mà chỉ nói một cách tổng quát về nguồn gốc của con người và vạn vật là từ Đạo mà ra, và cuối cùng trở về Đạo, hòa với Đạo. “Đạo khả đạo, phi thường đạo. Danh khả danh, phi thường danh” (Đạo mà có thể nói ra được không phải là đạo thường hằng vĩnh cửu, Tên mà có thể gọi ra được không phải là tên thường hằng bất biến)  Xin trích một bài báo: Đạo giáo thâm nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ thứ 2. Đạo giáo có hai phái tu là nội tu và ngoại dưỡng, phái nội tu phổ biến ở Việt Nam hơn. Thời Bắc thuộc, Đạo giáo chỉ phổ biến trong dân gian, đến thời phong kiến độc lập, các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần đều coi trong các đạo sỹ không kém các tăng sư, bên cạnh Tăng quan còn có cả Đạo quan. Từ đời Lê Trung hưng Đạo giáo bắt đầu suy thoái, những đạo quán bị Phật giáo hóa, trở thành chùa. Bên cạnh tượng các thánh của Đạo giáo còn có thêm tượng Phật[3]. Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến tư duy và đời sống xã hội của người Việt thì vẫn còn. Thuật phong thủy, các phương pháp dưỡng sinh, các môn võ thuật, các hình thức bói toán, cúng bái, trừ tà của Đạo giáo vẫn phổ biến tại Việt Nam. Tại Hà Nội vẫn còn một số đạo quán của Đạo giáo như Thăng Long tứ quán bao gồm Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên.

 Đạo giáo đi vào Việt Nam, đặc biệt là Đạo giáo phù thủy, tìm thấy ngay rất nhiều điểm tương đồng với tín ngưỡng ma thuật của người Việt nên Đạo giáo ăn sâu vào người Việt rất dễ dàng. Trước đó người Việt đã từng sùng bái ma thuật, phù phép. Họ tin rằng những lá bùa, những câu thần chú có thể chữa được bệnh tật và trị được tà ma. Tương truyền Hùng Vương vì giỏi phù phép nên có uy tín thu thập được 15 bộ để lập nên nước Văn Lang. Dưới thời Bắc thuộc, Đạo giáo rất phát triển ở Việt Nam. Nhiều quan lại Trung Hoa sang Việt Nam cai trị đều thích phương thuật, ví dụ Cao Biền đời Đường từng “cưỡi diều tìm long mạch” để triệt nguồn nhân tài Việt Nam. Thế nên, nếu Nho giáo phải đến thời Lý mới được thừa nhận thì Đạo giáo hòa trộn với tín ngưỡng ma thuật đến mức không còn ranh giới. Từ Trung Quốc vào Việt Nam, Đạo giáo cũng vẫn giữ hai phái là Đạo giáo nhân gian thờ Đức Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng Lão Quân, thần Trấn Vũ (Huyền Vũ), Quan Thánh Đế Quân. Bên cạnh đó, có sự kết hợp với tín ngưỡng dân gian, Đạo giáo còn thờ nhiều vị thần thánh khác của người Việt như Đức thánh Trần, Thánh mẫu Liễu Hạnh, cùng với Tam Phủ, Tứ Phủ, cho thấy sự hòa quyện giữa Đạo giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Ngoài ra, các pháp sư Việt Nam từ Bắc chí Nam còn thường hay thờ các thần Ngũ Hổ bằng bức tranh con hổ hay Quan Lớn Tuần Tranh là hai con rắn Thanh Xà và Bạch Xà quấn trên xà nhà trước bàn thờ. Đặc biệt, Đạo giáo đã đem sang Việt Nam phương pháp cầu Tiên (hết trích).

Tóm lại, theo đạo Giáo, ngoài thân thể, phần vật chất hữu hình, còn có hồn và phách (vía). Hồn là phần tinh thần. Khi thân thể chết đi thì phách không còn nữa, hồn tiếp tục tồn tại trong thế giới vô hình. Nguồn gốc của con người và vạn vật là từ Đạo mà ra, và cuối cùng về với Đạo hòa với Đạo. “Sống chết là do khí tụ lại hay tan mà thôi” (Trang Tử). Đạo giáo là một triết lý, sau biến thành một thứ mê tín dị đoan, ma thuật, phù thủy, bùa chú.

Còn theo Nho giáo thì người có khí, có hồn, có phách. Chết không phải là hết. Chỉ chết cái hình hài, còn cái khí tinh anh, cái hồn khí ấy thì lại về với chỗ sáng tỏ của vũ trụ. Tuy nhiên, đạo Nho chỉ hướng sự quan tâm về những vấn đề nhân sinh, nên xiểng dương phương châm “Sự quỉ thần” (khí, phách được gọi cung kính là sự quỉ thần) “Kính nhi viễn chi” và dụng đạo thần minh làm phương tiện giáo hóa tức đề cao khía cạnh phong hóa mà không bàn về khía cạnh siêu hình. Có người hỏi Khổng Tử “Con người có số mệnh không?” Khổng tử đáp “Có số mệnh nhưng không nên đứng dưới bức tường sắp đổ” “Chưa biết chuyện sống, sao biết được chuyện chết?”

Còn người Việt ta nghĩ gì về cái chết, về linh hồn?

Người Việt đa số, có đi chùa lễ Phật, xin lễ cầu siêu cho thân nhân, tin lời Phật dạy nhưng vẫn tự cho rằng mình theo “Đạo Ông Bà”. Họ vẫn tin rằng thân nhân mình, chết đi không phải đầu thai kiếp khác, không phải lên Niết Bàn hay xuống địa ngục mà vẫn ở cùng với con cháu trong gia đình. Trong nhà, chỗ trang trọng nhất là bàn thờ tổ tiên, thân nhân người đã khuất. Ngày xưa, trên bàn thờ có bài vị (thần chủ), là nơi linh hồn người đã khuất ẩn náu, ngày nay thay bài vị bằng di ảnh, tưởng như người đã chết vẫn hiện diện trong gia đình. Khi người thân trong gia đình bị “bất tỉnh nhân sự”. Để hồi sinh, chủ nhà đứng trước sân kêu lớn “Hú ba hồn chín vía (bảy vía nếu là nam) X. về nhập xác” đồng thời thắp đèn nhang trên bàn thờ, cầu xin ông bà phò hộ cho con cháu tai qua nạn khỏi. Khi người thân bị tai nạn hay bịnh tật mà “chết đường, chết chợ” thì gia chủ ra nơi người đã chết kêu lên “Hú ba hồn chín vía Nguyễn, hay Lê… X. theo tôi về nhà” Họ tin rằng nếu không gọi như vậy, hồn người chết sẽ không biết nhà ở đâu mà về để hưởng sự cúng kiếng, sẽ thành ma đói, ma khát. Người chết đuối phải nhờ thầy cúng đến lập đàn trục vong, hướng dẫn hồn về chùa nghe kinh kệ mà siêu thoát, nếu không hồn vẫn phải ở dưới nước cho đến khi (lôi kéo) một người khác chết (đuối) thay, hồn mới thoát khỏi trầm luân. Họ tin rằng, những người chết đuối, chết oan, chết “bất đắc kỳ tử”, linh hồn vất vưởng (oan hồn uổng tử) không nơi nương tựa thành ma, thành quỉ nên ngày rằm, mồng một thường có lẽ vật cúng ngoài trời (bàn thiên) cho các hồn ma đến hưởng và chấp nhận lời cầu xin của gia chủ đừng quấy phá, gây xáo trộn trong nhà đồng thời phù hộ cho mọi người được mạnh khỏe, vạn sự như ý. Vào dịp cuối năm âm lịch có lễ “rước ông bà” về đoàn tụ, vui xuân với con cháu. Sau ba ngày tết có lễ “tiễn ông bà”. Đa số người Việt tin rằng, linh hồn thân nhân vẫn đoàn tụ với nhau  ở một thế giới (vô hình) khác gọi là Âm Phủ. Âm Phủ không phải là địa ngục như Phật giáo mô tả mà là nơi linh hồn những người đã chết vẫn sinh hoạt, đi lại, giao tiếp, chuyện trò với nhau giống như một xã hội bình thường nơi dương thế. Vì vậy đến ngày giỗ chạp, rằm tháng bảy, ngoài lễ vật còn đốt theo “giấy tiền vàng bạc”, áo quần, nhà lầu, xe hơi, đô la… để người thân nơi cõi âm được sung sướng. Người bịnh nặng thường kể lại. Họ thấy cha, me, vợ, chồng… (đã khuất) đến nắm tay đòi dẫn đi. Trong cuộc chiến vừa qua “Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình”. Mạng người như hạt gạo trên sàng. Sống sót được là nhờ phước đức ông bà.

Bây giờ mới thực sự là những suy nghĩ của bọn đàn ông già của chúng tôi. Người trẻ thường hỏi người già “Có sợ chết không?” Xin trả lời “Không sợ chết, chỉ sợ bịnh” Già lão đi đôi với bịnh tật. Nhiều người lớn tuổi ngồi với nhau thường nói về bịnh hoạn của mình như chuyện thời sự. Sau đây là những lời đối đáp của mấy ông già. Một ông nói “Tôi không muốn đến thăm người bịnh, vì thấy chính mình sẽ như vậy. Nằm một chỗ, cựa mình cũng đau, thở không nỗi, ăn uống, tắm rửa, thậm chí đi vệ sinh cũng phải có người giúp đỡ… Khổ như thế thà chết quách còn hơn” Một ông khác thở dài “Vậy mà lúc đó lại muốn sống. Chẳng phải lưu luyến cuộc đời mà vì bản năng sinh tồn của một sinh vật. Hơn nữa, người bịnh chẳng nghe ai nói mình sẽ chết mà an ủi rằng không sao đâu, bịnh sẽ hết. Ngay đến bác sĩ cũng quả quyết rằng bịnh đang được cải thiện, nhưng ra bảo nhỏ với người thân rằng. Bịnh nhân khó qua khỏi, về chuẩn bị tang lễ là vừa” Một ông có vẻ vô tư “Người chết có số. Mới thấy đó mà đã bịnh chết, còn người khác bị ung thư cả mấy chục năm vẫn sống nhăn. Có người cho rằng, do di truyền. Ông bà, cha mẹ sống thọ được bao nhiêu tuổi thì con cháu thọ được khoảng tuổi đó. Vậy tôi xin hỏi. Mấy ông có lưu luyến cuộc đời nầy không?” “Ra đi tay không. Chết là hết. “Gia tài” theo mình là cái “Quan tài”. Giờ thì chỉ cầu sao ngủ một giấc và không hề thức dậy nữa” .

               Đọc  đến đây, làm gì bạn cũng sẽ phàn nàn “Viết dài dòng quá! Tôi chỉ muốn biết ông đã chuẩn bị những gì trước khi ông từ giã cõi đời?” Xin thưa “Tôi chả làm gì cả ngoài việc viết mấy dòng di chúc, đại ý: Khi đưa tôi vô bịnh viện, thấy không hi vọng gì thì rút ống trợ thở. Liên lạc với nhà quàng, lo quan tài, tẩn liệm. Không làm lễ tang ma, không cáo phó, không thăm viếng, không phúng điếu. Tẩn liệm xong đưa quan tài thẳng ra nghĩa trang. Thế là xong một đời người!” Hết!

Phạm Thành Châu

tháng 9/2020

         

Sư Đoàn Tiền Giang

Trần Bạch Thu

Chuyến xe khách đến trại giam vào buổi xế chiều. Trời mây đen u ám vần vũ chùng xuống thấp như sắp chuyển mưa. Dưới đường thấp thoáng bóng công an đi lại quanh quất trước cổng dẫn ra con đường chính. Từ trong trại một đoàn người tù xếp hàng đôi đi ra ngồi xuống cạnh bên thành xe chờ gọi tên từng người đứng lên bước đến cửa cho công an khám xét trước khi lên xe. Tù nhân đi chân đất, đầu trần không được phép mang theo bất cứ một thứ gì. Tất cả đồ đạc vật dụng đã được nhét vào trong bao bố cá nhân gởi theo xe tải từ trưa. Im lặng bao trùm bầu không khí trên xe. Mọi người đang trên đường đến trại cải tạo Vườn Đào, nổi tiếng từ lâu với tên gọi chính thức rất đẹp – Mỹ Phước.

Tất cả tù nhân đã kết thúc giai đoạn tạm giam điều tra ở trại chấp pháp P15 hoặc cơ quan an ninh P12 sau đó được đưa xuống trại giam tỉnh Tiền Giang trong một vài tuần để chờ chuyến đi Mỹ Phước. Thành phần tù nhân bao gồm đủ loại từ vượt biên, vượt biển, hình sự, chính trị hay kinh tế nhưng đông nhất và ồn ào nhất là tù vượt biên.

Đoạn đường đi tới trại Mỹ Phước khoảng hơn 2 tiếng đồng hồ. Từ Mỹ Tho đến ngã ba Long Định phố xá chen chúc hai bên đường tạo thành từng khu dân cư đông đúc, rồi từ ngã ba rẽ phải đi vào, nhà cửa bắt đầu thưa thớt dần. Hai bên đường cỏ dại, đưn lác mọc cao um tùm. Xe cộ, người đi vắng vẻ. Trông thật đìu hiu ảm đạm.

Xe dừng lại giữa đồng trống mênh mông, xa xa cổng trại làm bằng gỗ trên viết hai hàng chữ sơn đen “Trại cải tạo Mỹ Phước” hiện lên trơ trọi được bao bọc xung quanh bởi hàng rào dây kẽm gai dầy đặc. Chúng tôi xuống xe xếp thành hàng đôi điểm danh rồi lần lượt đi theo con đường đất nhỏ vào bên trong trại. Từ những ô cửa sổ bằng phên đất trong các dãy nhà dài dọc theo đường, hằng trăm con mắt tò mò nhìn ra theo dõi xem đoàn người tù được phân tán vào các dãy nhà. Họ hy vọng có người vào buồng mình để biết tin tức ở bên ngoài dù là rất ít, nhưng cũng đủ giúp cho họ đủ niềm tin sống sót chờ ngày về.

Tôi được phân vào dãy nhà ở góc trong cùng của trại dành cho tù nhân chính trị, gần dãy nhà tù nữ, mặc dù đa số tù nhân chuyển lên đợt nầy đều là “khách” vượt biên. Căn cứ vào kinh nghiệm của các đợt chuyển tù theo cách gối đầu, có nghĩa là trại thả đợt trước thì sẽ có đợt sau được chuyển lên từ Mỹ Tho trám vào, mỗi đợt như vậy thụ án ở trại cảo tạo chừng 6 tháng đến một năm là được thả. Ngược lại tù chính trị thì không có án và không biết được thời gian thụ án là bao lâu cho nên khi bị chuyển vào khu nầy thì mọi người ai nấy cũng đều nhìn bằng cặp mắt e ngại.

Ngay khi mới bước vào buồng giam tôi có cảm giác như đi lạc vào một nơi thâm u cùng cốc. Không gian tối lù mù chỉ có một bóng đèn tròn, vàng vọt ở giữa buồng. Mùi ẩm mốc hòa lẫn với mùi mồ hôi người xông lên nồng nực. Hai bên sạp ọp ẹp, lố nhố người đang ngồi dựa lưng vào vách không thấy rõ mặt chỉ thấy mờ nhạt, xanh xao một màu xám xịt. Buồng trưởng hướng dẫn đi một vòng tìm chỗ trống, cuối cùng đưa tôi đến gần nơi lối đi ra phía sau sát bờ kênh, ngay bên cạnh một người tù đang nằm bất động phủ toàn thân bằng một tấm mền đen mỏng che kín mặt ở cuối buồng.

Buồng giam nền đất lợp lá, vách phên luôn tuồn, tù nhân trải chiếu đệm trên sạp kết bằng cây đước ngủ ban đêm cũng như sinh hoạt ban ngày ăn uống tại chỗ trên manh chiếu nhỏ không hơn không kém. Mỗi tuần dọn vệ sinh một lần, nhưng cũng làm cho có lệ, chỉ quét rác thôi chứ không có tẩy rửa. Lâu ngày nền đất gồ ghề lên bóng láng như vảy cá đen thui. Đêm nằm ngủ mơ thấy như đang đi trên xe nhà rồng ra miền đất lạnh.

Mọi người ai đã từng ở trại Mỹ Phước đều biết địa ngục trần gian là có thật. Điều đầu tiên là đi ị phải đúng giờ. Mỗi sáng theo thứ tự từng dãy nhà chừng hơn 40 người xếp hàng ra dãy cầu tiêu cá đi tập thể trên chừng 10 căn chòi lá dừng sơ sài. Đi trên cây cầu khỉ lắt lẻo đang còn sợ té chưa kịp hoàn hồn thì công an đã ra lệnh khẩn trương cho đợt khác. Thời gian chừng nửa tiếng sau đó tất cả tập họp trở vô buồng cho dãy nhà khác đi ra.

Hôm đầu tiên đến trại đi cầu tiêu cá buổi sáng tôi thấy hơi khó, nhưng không sao, tự quên mình đi so với hình ảnh đập vào mắt, trông thấy vô cùng tội nghiệp khi đoàn tù nữ đi ra xếp hàng chờ. Bất ngờ một nữ tù nhân băng vượt lên phía trước vội vàng lao ngay xuống bờ cầu tiêu cá lềnh bềnh chất thải để ngắt thật nhanh vạt rau muống mọc quanh bờ. Nữ tù nhân nầy còn trẻ đã ở đây hơn 2 năm rồi mà không có thân nhân thăm nuôi. Công an thấy cũng làm lơ, quay mặt đi chỗ khác.

Mỹ Phước là vùng đất trũng phèn nặng nên mỗi buồng giam đều có một hàng lu nước phèn lọc bằng vôi hoặc tro để chắt nước uống và nấu ăn. Lao động chủ yếu là làm thủy lợi đắp đất thành từng luống trồng khóm. Đội cải tạo đi ra ngoài lao động trên nắng như đỗ lửa, dưới dầm chân quá gối trên kênh, xắn đất chuyền đắp lên luống. Bữa sau, hai ống quần đóng phèn bạc hoe, đỏ chạch. Chỉ một tuần thôi dưới chân nhất là ở các móng chân dính phèn vàng khè và mặt mày, tay chưn dộp da tróc vảy trông thật thảm thương.

Ngoài các đội lao động nông nghiệp, trong trại còn có nhiều đội đan lát hoặc làm các tạp vụ linh tinh mà phần lớn là tù vượt biên và tù nữ. Chung quanh trại ở tầm xa ngoài các rẫy khóm còn có các chốt canh giữ hoa màu do một số tù nhân tự giác trông coi, các tù nhân nầy thường đã thụ án hơn hai phần ba bản án hoặc ở đây trên 5 năm mà vụ án vẫn chưa kết thúc. Họ được đi lại tự do sinh hoạt riêng biệt trong các căn chòi lá chốt ở cuối rẫy. Đây là nơi cung cấp thực phẩm chui cho tù nhân trong trại. Dĩ nhiên cũng là nơi giúp các gia đình thu lượm tin tức của người thân đang bị giam bên trong, nhất là tù vượt biên thường có gia đình ở Sài Gòn hay các tỉnh xa xôi ngoài miền Trung. Công an chia chác tiền bạc qua những dịch vụ mua bán đổi chác và đồng thời cũng gián tiếp kiểm soát hàng hóa chuyển lậu vào trong trại.

Trong số các chốt nầy có một tù nhân bị bắt nguội trong một vụ án phản động và không có án. Khi chuyển lên đây anh đã nhiều lần vượt ngục và bị bắt lại. Bắt đi bắt lại mấy lần cho đến nay hơn 5 năm rồi mà cũng chưa được thả. Ra rẫy lao động mọi người thường hay liên lạc với anh ta để gởi mua thêm thức ăn tươi ngoài chợ Long Định vì ngoài nhiệm vụ canh giữ ở chốt anh còn được cán bộ cho theo ghe ra cầu kênh Xáng lấy chở nước ngọt về trại.

Quen dần anh tù tự giác tín cẩn tôi nên mới tiết lộ chi tiết về người tù ít nói lầm lì suốt ngày, gần mười năm không có ai thăm nuôi, nằm kế bên tôi trong buồng giam thuộc tổ lao động vệ sinh trong trại và đồng thời thỉnh thoảng anh ta cũng có nhờ tôi chuyển một ít gạo và cá mắm cho người tù nầy mà anh ta gọi là “ông thầy.”

Thật tình cờ và cũng rất thú vị khi được nằm kế bên và trò chuyện nhiều đêm với “ông thầy” tên thật là Trần văn Đ. nguyên sĩ quan tác chiến Sư Đoàn 7 Bộ binh quân lực VNCH, anh là nhân chứng sống và đang thụ án trong tù về một vụ án mà ít được nhắc tới sau nầy.

Câu chuyện bắt đầu với trí nhớ của một người tù 10 năm.

Tháng 8 năm 1977 cộng sản mở một phiên tòa tại Mỹ Tho để xử một vụ án âm mưu lật đổ chính quyền, tổ chức có danh xưng là Sư Đoàn Tiền Giang. Tuy luôn luôn nói là công khai nhưng không có thân nhân bị cáo tham dự cũng như không có phóng viên báo chí theo dõi và tường thuật, kể cả báo chí trong nước. Phiên tòa chỉ đọc cáo trạng trong khoảng hơn 2 giờ đồng hồ. Tất cả nhân viên pháp lý cũng như bồi thẩm nhân dân đều do chính quyền chỉ định. Tất cả bị can không có kháng án. Hoàng văn Ngãi, Tư lệnh sư đoàn, tử hình. Hai anh em Trương văn Thân (Bí danh Trần Minh Dũng), Tham Mưu Trưởng và Trương văn Dậy (Mười Dậy) Chỉ Huy Trưởng khu căn cứ Long An, mỗi người lãnh án 10 và 20 năm tù khổ sai. Khoảng hơn 10 người khác gồm có Lê Duy Phong (Sinh viên), Đỗ Hữu Thọ (Sinh viên), Phạm văn Quyền, Nguyễn văn Hiệp. Lê văn Điểu … và TVĐ. lãnh án từ 5 đến 10 năm tù giam. Tất cả đều bị bắt tại nhà Trần Minh Dũng vào buổi chiều tối ngày 10 tháng 10 năm 1976 và đem về biệt giam ở khám đường cũ, số 2 đường Lãnh Binh Cẩn, thành phố Mỹ Tho.

Ngược dòng thời gian, kể từ khi có lệnh đầu hàng từ Tướng Dương Văn Minh trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 tất cả sĩ quan binh lính cùng viên chức tại địa phương đều rời khỏi cơ sở hoặc nơi đơn vị đồn trú. Sau đó, đa phần đều ra trình diện đi cải tạo theo như thông báo trên báo chí và đài phát thanh cộng sản. Một số khác vẫn còn lẫn trốn không ra trình diện. Có người mai danh ẩn tích về các vùng xa xôi hẻo lánh tận miền Thất Sơn, Châu Đốc hay xuống vùng U Minh, Cà Mau. Lâu dần biệt tích, có thể họ đã vượt biên hoặc chết không ai biết. Cũng có người chờ tham gia các tổ chức kháng chiến được móc nối từ nước ngoài như trong vụ án Trần văn Bá sau nầy.

Chỉ một thời gian ngắn sau ngày cộng sản chiếm đóng toàn miền Nam, họ đã biểu lộ rõ dã tâm thống trị đất nước Việt Nam bằng một chế độ độc tài hà khắc. Giam cầm, lưu đày các sĩ quan, viên chức VNCH vô thời hạn. Ngược đãi thành phần trí thức, học giả miền Nam. Trấn áp dân chúng rời thành phố đi các vùng rừng thiêng nước độc để cán bộ đảng viên miền Bắc trán vào chiếm ngụ nhà cửa trong thành phố hoặc các vùng đất đai trù phú trong Nam. Kể từ giữa năm 1976 họ ban hành các chính sách phân biệt đối xử với các thành phần xã hội. Người miền Nam sinh sống trong vùng do VNCH kiểm soát bị loại ra khỏi các sinh hoạt công quyền kể cả trong các lãnh vực kinh tế và xã hội. Không đủ sức để chống đối lại kẻ xâm lược, một làn sóng vượt biên vượt biển đã trở thành phong trào rộng khắp trên toàn miền Nam.

Lúc bấy giờ, sư đoàn Tiền Giang là một tổ chức sớm nhất ở trong Nam chống lại sự cầm quyền của cộng sản. Thành phần tham gia đa số là quân nhân, viên chức VNCH đã cải tạo về hoặc còn lẫn trốn trong vùng Tiền Giang từ sau ngày cộng sản chiếm đóng. Tên gọi là sư đoàn nhưng chưa có trang bị vũ khí trong giai đoạn hình thành và chuẩn bị hoạt động như một phong trào nhân dân nổi dậy chống lại cộng sản. Cấp chỉ huy sư đoàn là các nhà hoạt động chính trị thời VNCH như ông Trương văn Thân là sáng lập viên đảng Tân Đại Việt, cùng thời với GS. Nguyễn Ngọc Huy, nguyên Trưởng Ty Nông Nghiệp tỉnh Định Tường. Trung Tá Hoàng văn Ngãi là Sĩ quan Tham mưu, Tiểu khu Định Tường. Lê văn Điểu là Tỉnh Đoàn trưởng Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, Kiên Giang.

Theo kế hoạch của tổ chức thì sư đoàn sẽ là lực lượng nồng cốt một khi tổ chức ra mắt công khai chống lại nhà cầm quyền cộng sản được dư luận quốc tế quan tâm cũng như sự ủng hộ, tài trợ của nước ngoài. Sư đoàn thành lập vào đầu tháng tư năm 1976 tại Mỹ Tho dưới sự chỉ đạo của Trần Minh Dũng (Tư Thân). Hoạt động chính yếu lúc bấy giờ là tổ chức rải truyền đơn chống cộng sản. Tuyên truyền kết nạp cảm tình viên và thành viên hoạt động. Cho đến khi bộ chỉ huy bị vây bắt tại nhà Tư Thân, đường Pasteur, thành phố Mỹ Tho thì thành viên sư đoàn hầu như có mặt khắp nơi trên vùng lãnh thổ của ba tỉnh Long An, Định Tường và Kiến Hòa. Sau ngày 10 tháng 10 năm 1976 công an Tiền Giang ráo riết truy lùng bắt tiếp các thành viên hoạt động của sư đoàn.

Bắt đầu là khu căn cứ ở Long An do Mười Dậy chỉ huy. Công an phối hợp với bộ đội địa phương dùng súng tấn công căn cứ gây thiệt mạng nhiều người và bắt sống một số người tay không có vũ khí. Một số vượt thoát ra ngoài bị bộ đội rượt theo bắn chết. Số còn lại ẩn trốn trong nhà dân và thoát đi về hướng Mộc Hóa.

Sau đó công an dùng các phương tiện giam cầm dã man đối với tù nhân bị bắt. Tra tấn, biệt giam và cùm chân trong phòng tối là đòn cân não để khai thác tin tức. Càng lúc họ càng truy ra nhiều manh mối hơn và đi lùng bắt nguội (không có lệnh của Tòa án) khắp nơi. Thành phần bị bắt bao gồm đủ mọi loại từ sĩ quan, binh lính VNCH cho đến các giới chức trong chính quyền cũ tại địa phương, Trong đó có cả các viên chức tốt nghiệp Quốc Gia Hành Chánh (QGHC). Công an ruồng bố trong các cư xá công chức cũ và trại gia binh trước đây. Chỉ trong vòng 10 ngày khám đường cũ chật kín người, công an chuyển một số tù nhân xuống trại giam mới, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho chừng khoảng 4km.

Trong thời gian 6 tháng, công an truy lùng bắt tất cả mọi người có liên quan đến những người bị bắt từ quan hệ gia đình cho đến bạn bè người quen, thân thuộc. Tháng 4 năm 1977 công an chuyển tất cả những người bị bắt vì tham gia sư đoàn Tiền Giang xuống trại giam chính của tỉnh. Tình hình căng thẳng khiến cho nhiều người có liên quan chưa bị bắt bỏ trốn dây chuyền, mặc dù không có liên can gì cả. Một người bị bắt kéo theo hàng chục người bị công an bắt đi thẩm vấn. Thật ra tổ chức cũng chỉ mới còn trong vòng tụ họp và tuyên truyền tham gia với tính cách cảm tình viên thì nhiều nhưng tuyên thệ tham gia vẫn còn rất ít trừ những người chủ chốt.

Cộng sản giấu nhẹm các sự kiện trong vụ án và mở một phiên tòa nhanh chóng để xử các bị can. Theo lời một nhân vật có thẩm quyền cho biết vụ án được Mai Chí Thọ chỉ đạo không khoan nhượng. Không biết cộng sản xử kín bao nhiêu người, chết hay sống trong mười năm qua không có tin tức. Anh cho biết lúc còn ở trại giam Tiền Giang, có thời gian anh bị nhốt chung với hai anh Lê Tấn Trạng và Ngô Ngọc Vĩnh (QGHC).

Vụ án Sư Đoàn Tiền Giang khép lại khi tòa tuyên án chính thức và những người bị bắt sau đó đều có lệnh tập trung cải tạo 3 năm vào cuối năm 1977. Phạm nhân được đưa đi các trại cải tạo tại địa phương hoặc án nhẹ hơn được đưa đi khu nông nghiệp Cồn Tròn ở Cái Bè thuộc Tỉnh ủy Tiền Giang, ở đây phạm nhân sinh hoạt thoải mái, làm việc hưởng theo chế độ công nhân một thời gian ngắn trước khi được trả tự do về với gia đình.

Từ khi được đưa đến trại Mỹ Phước, trong tù anh Đ. thường chỉ nghe ngóng và quan tâm đến tin tức ở nước ngoài. Thật là phấn khởi khi biết được phong trào phục quốc của nhóm Mai văn Hạnh và Trần văn Bá đã về tới Cà Mau. Hay là phong trào kháng chiến của Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đã về tới biên giới Lào – Việt. Ngoài các tổ chức trên anh còn luôn biểu lộ sự kính ngưỡng đến các “anh hùng” Võ Đại Tôn và Lý Tống.

Tết năm 1989 tôi được trả tự do. Trước khi biết tin có lệnh được thả hai hôm, tôi và anh có tâm sự nhiều điều. Điều sau cùng anh nói:

– Tôi bây giờ không còn hy vọng gì. Trừ phi các anh ra ngoài còn giữ được tinh thần phục quốc VNCH.

Ra khỏi cổng trại Mỹ Phước tôi bước lên xe mà đầu còn ngoảnh lại. Bóng anh mờ dần sau khung cửa sổ chằng chịt dây hàng rào kẽm gai. Tôi thầm khấn.

Trần Bạch Thu (ĐS 17)

Trận đánh Quận đường Đak-Tô năm 1969

Tôn Thất Hùng

Dân hành chánh, trong cuộc chiến bảo vệ Miền Nam thường được nghe dư luận cho là ít can đảm. Bài viết của một cựu sinh viên Học viện Quốc Gia Hành Chánh, (QGHC) vừa là cựu sinh viên trường sĩ quan trừ bị Thủ-Đức K1/ 68, hồi ký về trận đánh của quân chính quy Bắc-Việt tấn công vào quận đường Đak-Tô. Bài viết trình bày tinh thần anh dũng của nghĩa quân, bộ chỉ huy chi khu địa phương quân và tài điều quân hợp tác đồng bộ giữa Trung tá Quận trưởng, Ban Cố vấn Mỹ cùng hỏa lực yểm trợ đã đẩy lùi cuộc tấn công này.

 

Cá nhân người viết (NV) cũng như bao thanh niên cùng trang lứa, không ai muốn làm người hùng. Trong cuộc chiến Quốc Cộng, là trách nhiệm làm trai đúng với 3 tín niệm: “Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm”, nên mọi người tùy hoàn cảnh, địa vị, đã đem hết trách nhiệm để bảo vệ Miền Nam cho đến ngày tàn cuộc.

Ngày 7 tháng 12 năm 1967, NV tốt nghiệp khóa 12 Đốc-sự QGHC. Tháng 3/1968 thụ huấn 9 tuần Khóa sinh dự bị Sĩ Quan ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Tháng 6/1968 sang Trường Bộ Binh Thủ-Đức. Vừa đặt chân xuống là đã được K.27 đàn anh chào mừng, cho chạy hai vòng Vũ Đình Trường, cũng đã thực hiện tốt đẹp, vì đã được thụ huấn ở Quang Trung, mà các đàn anh không bao giờ được biết.

Tháng 10/1968 lên Kontum, vào thời điểm NV đã vào tuổi 22. Ở nhà đàn anh Lê văn Minh, khoá 10. Ngày hôm sau 8/10, Thiếu tá Quận trưởng Đak-Tô Lò văn Bảo, đến nhà đón về Quận bằng trực thăng. Từ Tỉnh lỵ Kontum theo quốc lộ 14 lên Quận đường Đak-Tô là 57 kilomét. Sau Tết Mậu Thân 1968, địch thường xuyên bắn phá, đặt mìn trên đoạn đường Võ Định, Ngô Trang và con dốc dài Đakma-Konhring, là hai nơi nguy hiểm nhất. Ngày nào cũng có xe chở̉ khách, xe quân đội bị mìn hoặc bị phục kích bắn sẻ, làm cho nhiều thường dân và quân nhân bị tử thương, nên đoạn đường này được báo chí mệnh danh là “tử lộ”, và tên Đak-Tô được báo chí Mỹ mệnh danh là “The Hell of Dakto’’, tạm dịch ‘’Hỏa ngục Đak-Tô’’. Vì di chuyển bằng đường bộ là đùa với tử thần, nên trong suốt thời gian từ tháng 10/ 1968 cho đến tháng 3/1970, NV thường xuyên được trực thăng chở về dự họp ở Tòa Hành chánh Tỉnh, chỉ khi nào không có máy bay, thì mới di chuyển bằng xe của Quận.

Lần đầu tiên được di chuyển bằng trực thăng, từ cao độ trên 3000 mét, NV đã thấy nào là rừng già đang vào Thu, lá vàng núi non trùng điệp, nào là cảnh thác nước Yali trắng xóa dưới ánh mặt trời, nào là đồi hoang, nào là sông Dakla nước chảy ngược dòng, cùng với những thung lũng trải dài sâu rộng. Hai đỉnh núi Ngok-wan, Ngok-xi, còn loang lổ cây rừng cháy đen, đất lở, vết tích của trận đánh năm 1965, do cố Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam chỉ huy, cùng với Chiến đoàn Dù, đã làm nên chiến tích. Mãi say sưa thưởng ngoạn, trực thăng đã đáp xuống sân bay nhỏ trước cổng Quận đường hồi nào không hay.

Thiếu tá Lò văn Bảo, sinh năm 1934, hơn NV 12 tuổi, xuất thân Khóa 8 Sĩ quan Võ bị Đà Lạt năm 1954, người Thái trắng, con một Chánh tổng ở Lai châu,. Sau khi tốt nghiệp trung học trường Pháp, đã từng được du học Mỹ, nên nói tiếng Anh rất lưu loát. Trước khi về làm Quận trưởng ông đã nhiều năm giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng thuộc Trung Đoàn 42 biệt lập, đồn trú tại Thị trấn Tân Cảnh. Trung Đoàn trưởng là Trung tá Đinh Thế Thoại, người Nùng và hầu hết gần 4 Tiểu Đoàn đều là người Thái, Nùng, Mường thuộc các tỉnh thượng du Bắc Việt.

(Dakto Camp)

Sau biến cố Tết Mậu-Thân 1968, chính quyền quân sự ở trung ương, đã giao thêm chức vụ Chỉ Huy trưởng Lực lượng Nhân Dân Tự Vệ (NDTV) Quận cho Phó Quận trưởng. Xét thấy với nhiệm vụ là cấp trưởng của guồng máy hành chánh Quận, nay thời chiến chức vụ Chi Khu Trưởng kiêm nhiệm Quận trưởng, phải có trách niệm cho sự mất còn của Quận và Quận đường. Thiết nghĩ Thiếu tá Quận trưởng giữ Quận, thì Chuẩn uý Phó Quận, cũng phải cùng với Quận trưởng bảo vệ Quận là hợp lý. Bên cạnh văn phòng Quận và Bộ Chỉ Huy Chi Khu, từ trước năm 1963, thời cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền Tỉnh đã xây thêm một căn nhà gạch, làm hành dinh, để cho cố Tổng Thống có nơi nghỉ qua đêm, khi đến kinh lý Quận. Vợ chồng Thiếu tá đã cư ngụ ở đó, cùng với 2 cháu nhỏ. Trước đây các đàn anh tiền nhiệm đều ở Thị trấn Tân Cảnh, cách Quận đường vài cây số. Thị trấn luôn đông đúc, náo nhiệt. Dân cư ở đây bao gồm gia đình các sĩ quan và quân nhân của Trung đòan 42, và rất đông thường dân buôn bán, cung cấp dịch vụ cho cả Trung đoàn, trên dưới 2500 người. Ở Tân Cảnh có rạp hát, có nhiều quán ăn, giải khát nên các đàn anh thường đến ở đó. Cố đàn anh Nguyễn Khánh, Khoá 8, trước đây đầu năm 1968, đã về nhậm chức Phó Tỉnh trưởng Quảng Nam. Trong buổi ăn tối với vợ chồng Thiếu tá, nhìn thấy có một phòng đối diện với phòng ngủ của Thiếu tá còn trống, NV đề nghị xin cho ở căn phòng này. Thiếu tá đồng ý vì ông nghĩ là NV sẽ có mặt tại chỗ, thay thế ông trong bất kỳ công việc nào cần thiết khi ông vắng mặt. Mỗi thứ bảy, chủ nhật vợ chồng Ông Quận trưởng đều cho NV tháp tùng, đến thăm các gia đình bạn bè vừa là đồng hương ở Bắc Thái, vừa là thuộc cấp cũ. Quý vị có biết không, tập tục của người Thái như sau: khách đến nhà là phải uống rượu cho đến say mèm mới được cho về. Chủ xị thường là các bà Thầy pháp, hôm nào quý bà làm chủ xị, thường có luật uống rượu khác nhau. Mỗi bà ra lịnh mỗi cách, có lần một bà ra lịnh cầm bát bằng tay trái, mà khách vì uống nhiều, tửu nhập ngôn xuất, nên khi đến lượt mình, quên cầm bát qua tay mặt, thì phải chịu phạt 10 bát rượu liên tiếp. NVcũng đã được nếm mùi rượu phạt này, đến độ đến bát thứ 10, thì các mạch máu đều giản ra căng thẳng muốn đứt luôn. Khi vừa về đến nhà, có bao nhiêu chai soda trong tủ lạnh của ông Quận trưởng, NV đều đổ vào họng hết, mặc dù ngoài trời rất lạnh. Có nhiều đêm trăng non trên đường từ Quận đường xuống Tân cảnh qua “eo tử thần”, nơi cố Trung tá Lai văn Chu Trung Đoàn trưởng bị phục kích tử thương năm 1965, thì Thiếu tá cho hai nghĩa quân người Thượng nhảy xuống canh phòng, khi về thì bốc theo. Thiếu tá rất biết đãi người, đi đâu ông cũng ngồi ở ghế tài xế và để NV ngồi ở ghế trưởng xa.

Cuộc sống giữa NV và gia đình Thiếu tá có nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Bà Thiếu tá cứ nhắc hoài là có lần cháu trai tên Lôi làm gì sai đó, Thiếu tá định đánh đòn nặng, NV vội chạy đến kịp thời ẵm cháu, chạy lẹ thoát trận lôi đình của ông. Ngày thường các sắc dân Thượng khi vào văn phòng Quận, từ cách xa 10 mét là cúi đầu chào, mời Bót Phó, Bót Quận đi “bắt cái rượu”, vì Lễ Hội truyền thống, nhưng một khi trong tình trạng say xỉn, thì chạy vào cặp hông 2 Bót kéo đi, khỏi có lễ phép gì cả. Ban đêm Ban Cố vấn Mỹ sang mời uống rựợu, vào những ngày Lễ Hội của Mỹ, cho nên NV thường cặp nách “Ông già đi bộ” hoặc bẻ cổ lùn Ngài Nã Phá Luân, ngày ngày say men rượu cần, đêm đêm bia rượu hội ngộ.
Cũng có đôi lần, sau khi thu nhận các nguồn tin tình báo từ Ban 2, Cảnh sát, An ninh Quân đội và ban Cố vấn Mỹ, Bộ Chỉ huy Chi khu kết luận là đich sẽ tấn công vào Quận đường bất cứ lúc nào, thì Thiếu tá liền cho vợ con về Tùng Nghĩa, Đà Lạt trước đó vài ngày. (Tùng Nghĩa là nơi định cư của dân tộc Bắc Thái, và các sắc dân thượng du Bắc Việt, khi di cư vào Miền Nam sau năm 1954). Thiếu tá và Bộ Chỉ huy Chi khu, luôn luôn được đặt trong tình trạng báo động. Khi chỉ còn lại hai người, ông đã tâm sự rất nhiều với NV. ông thích bia Miller, thuốc lá Marlboro, còn NV thì Lucky, rồi thì trao đổi ý kiến về hiện tình đất nước, về việc cán binh Bắc Việt bị xiềng chân vào các súng phòng không, mà Trung tá và NV đã chứng kiến vài hôm trước, trong tháng 10/1969, khi quân Bắc Việt tấn công vào Tổng Konhring. Mỗi khi phi tuần F.4 dội bom vào bọn chúng, tiêu diệt các mũi tiến công, dập tắt hết các khẩu thượng liên, đại liên, B.40 và AK.47, đến khi phi tuần thứ hai vào vùng, thì vẫn còn nghe độc nhất tiếng súng phòng không tác xạ vào các phi tuần F.4 này mà thôi. Nhiều hôm mãi say sưa chuyện trò đến thật khuya, khi ngoài trời Tây Nguyên sương đêm rơi xuống giá lạnh, hai người mới chia tay về phòng.

Đầu năm 1969, ông Bảo được thăng cấp Trung tá. Mặt trận B.3 đã nhiều lần ra lịnh tấn công vào Quận đường. Sau Tết 1969, hai đaị đội chính quy Bắc Việt tấn công vào Quận. Đêm hôm ấy NV về Tỉnh họp, ngày hôm sau trở lại Quận, thì Trung tá cho biết đã bắt được một cán binh người Thừa Thiên, thuộc Quận Quảng Điền ven biển. Người này bị bắt khi tấn công vào Quận, bị chống trả mãnh liệt, không biết lối đào thoát, cùng đường phải nhảy xuống hố phân ẩn núp. Sáng sớm hôm sau một nghĩa quân đi cầu nghe tiếng lạ, soi đèn bấm bắt được. Trung tá nói: “Ông Phó người Huế, nhờ hỏi giùm tôi mấy câu”. Trung uý Trưởng Ban 2 và Chuẩn uý Ban 5, đưa anh cán binh Việt cộng vào, trong bộ quân phục nghĩa quân màu xanh mới, sau khi đã được tắm gội sạch sẽ. NV kéo ghế mời ngồi, tay mở tù lạnh, lấy ra chai rựợu ngọt Lychee trái vãi, quà của chủ trại cưa gỗ nhân dịp Tết Kỷ Dậu, rót vào ly mời uống. Anh ta e dè, NV bèn uống một hớp, rồi đưa cho anh ta uống. NV hỏi “Anh đã được ăn no chưa?” Anh ta bảo là “có”. Mở gói thuốc Lucky thơm phức, mời anh một điếu, bật lửa cho mình, rồi bật lửa cho anh. Anh cho biết quê quán ở Quận Quảng Điền, Tỉnh Thừa Thiên, bị bắt đi bộ đội trước Tết Mậu Thân 1968. Đã theo đường mòn Hồ Chí Minh vào Nam, nay thuộc Mặt trận B3, hay là Mật khu Bông Hồng. Trung tá Quận trưởng giao bộ đội VC cho Tiểu đoàn 3, Trung Đoàn 42, dẫn theo hành quân khai thác và chỉ điểm các hầm vũ khí VC cất dấu. Do sơ hở của đơn vị canh phòng, người cán binh VC này đã lăn xuống đồi trốn mất. Sau đó anh này đã dẫn hai Đại đội chính quy Bắc Việt vào tấn công Quận đường Đak-tô lần thứ hai.

Cuộc tấn công vào Quận đường tháng 11 năm 1969

Từ đầu tháng 11/1969, địch quân đã pháo kích vào sân cờ Quận đường nhiều lần. Vào ngày Thứ Hai, lúc toàn Bộ Chi khu, các sĩ quan, binh sĩ và các chi sở hành chánh, đang trong giờ chào Quốc kỳ, thì địch phóng nhiều hỏa tiễn 122 ly vào. Tiếng hú tử thần rít qua đầu, Trung tá Quận trưởng cho lịnh mọi người vào hầm ẩn núp, sau đó là ban hành lịnh giới nghiêm, cho trung đội công vụ kéo dây kẽm gai, chặn hai lối vào Quận đường. Sau nhiều ngày pháo kích bằng hỏa tiển 122 ly, để áp đảo tinh thần quân phòng thủ, ngày Thứ Hai trung tuần tháng 11, tin tức tình báo từ Ban 2, Cảnh sát và đặc biệt là từ Ban Cố vấn Mỹ, do máy dò độ nóng ghi nhận chính xác, VC đang di chuyển về hướng Quận với khoảng hơn 200 người, và có thể tấn công vào lúc 12 giờ khuya. Thiếu tá Culp, Cố vấn Trưởng, đã cùng họp với các sĩ quan Chi Khu, Trung tá Quận trưởng và NV. Vừa họp vừa uống bia. Vài hôm trước đó, theo yêu cầu của Ban Cố vấn, Quận đã quyết định cho đại bác 175 ly từ Ben-Hét (Ben-Hét là Trại Lực lượng biên phòng, nằm cách xa ngã 3 biên giới Việt Miên Lào chừng 6 miles), bắn thí điểm vào các nơi tiên liệu là đường tiến binh và chém vè của chúng. Tiếng nổ 175 ly nghe ù tai nhức óc, ngộp tim. Sau mỗi trái nổ, liền tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ của các chuổi đạn nổ chùm sát thương. Cùng trong thời gian này, bà Trung tá và hai con nhỏ đã được đưa về Tùng nghĩa vài ngày trước đó. Cuộc họp từ 6 giờ chiều đến 10 giờ tối là kết thúc. Tất cả sĩ quan, nghĩa quân các Ban, đều vào vị trí chiến đấu tại các pháo tháp phòng ngự với trung liên Bar, xuống giao thông hào dưới địa đạo phòng thủ. Lực lượng phòng ngự có khoảng một trung đội nghĩa quân người Thượng, cùng với nhân số sáu Ban Chi khu gồm: Sĩ quan, Hạ sĩ quan và binh sĩ Địa phương quân khoảng 20 người. Tổng cọng vừa NQ và ĐPQ trên dưới 60 tay súng. Trung sĩ Lưu, người Quảng Bình, xem lại vị trí khẩu súng cối 4.6, chuẩn bị phản pháo với bản đồ có các tọa độ đã chấm sẵn. Vào thời điểm này chưa có trung đội pháo binh 105 ly trực thuộc cấp Chi khu.

(Dakto Base)

Khi địch pháo 130 ly có đầu đạn nổ chậm, chui qua bao cát rồi mới nổ. Trung tá Quận trưởng cho Trung đội công vụ, làm bao cát phòng thủ ở trong phòng ngủ ông. Ông ta hỏi NV có muốn làm bao cát không? Vì thuộc loại Chuẩn úy nai tơ, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ và vì không cho mình là người quan trọng, thêm tốn công sức của lính, nên NV đã nói “cám ơn, không’’. Bất cứ ai đã qua thời gian thụ huấn quân sự, đều có được thói quen là: đang ngũ mà luôn cảnh giác, cảnh giác này chỉ mất đi, khi ta bị bệnh hoặc đã uống nhiều rượu. Đang nằm thiu thiu trên giường gỗ, bỗng dưng nghe tiếng pháo 82, nổ dồn dập cùng với đại liên, AK 47 áp đảo, có tiếng nổ rớt ngay ngoài sân cờ, cách phòng ngủ khoảng 2,3 mét. Có trái nổ ngay tại văn phòng Quận, NV xem đồng hồ tay đúng 12 giờ đêm, không có cảm giác sợ hải là gì cả. Tháng 4/1968 lúc còn ở Quang Trung, có đêm bị VC pháo kích. Trong ánh sáng hỏa châu, nghe bắn hù dọa cũng không cảm thấy lo âu, thầm bảo: “Mày pháo tao trên 15 phút thì tao mới dậy, nếu không thì tiếp tục ngủ”. Đạn súng cối vẫn tiếp tục nổ, hòa cùng nhiều tiếng đại liên của địch nổ dòn sát phạt xối xả. Và đây rồi tiếng nổ của cây trung liên Bar, ở pháo tháp phòng ngự sau nhà vang lên chát chúa. Khói mù khét lẹt ùa vào phòng khách. Vì đã chuẩn bị nên đã trang phục tác chiến, với giày trận trước khi lên giường, NV đeo vội khẩu P38 ngắn nòng, hối hả bước ra cửa sau .Trong tiếng súng liên thanh của ta và địch, hoà với mùi khói, nghe tiếng la của anh nghĩa quân Thượng cận vệ: ‘’ Ai đó?’’, ‘’Bót Phó đây, sao em?’’. Tiếng trung liên vẫn nổ chát chúa. Tiếng đại liên địch nổ liên hồi. Nhiều tiếng bộc phá nổ ầm dưới hàng kẽm gai phòng thủ quanh Quận. Tiếng AK47 nổ khắp bốn phía.” Nó đánh tới rồi, Bót Quận đâu?” ” Xem kỹ, bắn đi. Bót kêu Bót Quận ngay”. Vài bước vội quay lại. Trong tiếng đạn pháo, tiếng bộc phá, tiếng đại liên nổ dồn dập, khói khét lẹt mù mịt, NV đập cửa phòng Trung tá Quận trưởng thật mạnh, vì mỗi giây chậm trễ là phải trả giá rất đắc. Phòng kín quá, bao cát dày quá, chừng hai phút sau Trung tá bước ra: “Gì vậy ông Phó ?”. ” Dạ nó đánh tới nơi rồi”. Trung tá vội gọi ngay Thiếu tá Culp. Bước ra sân cờ thì hỏa châu đã soi sáng. Chiến trường đã được soi sáng rõ mồn một, nghe tiếng súng cối 4.6 của Trung sĩ Lưu, liên tiếp phản pháo vào các vị trí tấn công của địch. Từ các pháo tháp phòng thủ, tiếng nổ chát chúa của nhiều khẩu trung liên Bar, cùng tiếng AR.15 (sau này thay bằng AR.16), NV theo liền Trung tá. Các sĩ quan Chi khu đã có mặt ở các vị trí phòng thủ, cùng với Trung tá Bảo, Đại úy Bửu Uyên, Chi khu Phó kiêm nhiệm Trưởng ban 3 và Chuẩn úy trưởng khẩu cối 4.6, quyết định chấm tọa độ phản pháo. Thiếu tá Culp, Cố vấn Trưởng, Trung uý Nhảy Dù Furnman, người cùng đi ngủ Ấp với NV, thường xuyên đến các xã ấp xa xôi hẻo lánh nguy hiểm, trong Chương Trình Hành Chánh về Làng của chính quyền, đã có mặt tại chổ. Thiếu tá Cố vấn, sau khi hội ý với Trung tá Bảo, đã gọi về Quân Đoàn. Tiếng súng đại liên M.60 của Ban Cố Vấn, tiếng súng Garant, Carbine, Shotgun của lực lượng Nhân Dân Tự Vệ Xã Toumorong đang tị nạn, nằm sau Quận đường thi nhau nổ, hoà cùng với đủ loại vũ khí của ta và địch, dưới ánh sáng hoả châu, đã tạo nên một cảnh chiến trường sôi động. Súng đạn nổ vang trời, nhiều lằn đạn đan chéo nhau chi chít tạo thành những chuổi dài lửa liên tục nhắm vào cả hai bên ta và địch. Chợt một trái 82 nổ ầm gây khói lửa, nhiều mãnh đạn cùng đất sõi tung tóe lên. Chuẩn uý Kim, Ban NDTV bị thương ở tay trái, được Trung úy trợ y Thiện và Ban Quân Y kịp thời băng bó ngay. Tay mặt vẫn tiếp tục cầm súng. Địch có ý đồ tấn công vào Quận đường và Xã Toumorong cùng một lúc.

(Phi Trường Đak-Tô)

Chừng 20 phút sau, hai chiếc Hỏa Long Spooky nhào xuống. Đánh không đẹp thì thôi!. Hỏa châu thay nhau soi sáng chiến trường. Từ trên hai chiếc trực thăng võ trang, phi công cho hạ sát hàng rào phòng thủ, phóng rockets. Lửa cháy ngùn ngụt. Tiếng cánh quạt nổ lớn làm chủ chiến trường, át hẳn các tiếng súng tấn công của địch. Địch quân chưa kịp phản ứng gì thì đã được nghe nhiều tiếng nổ kinh hồn chính xác khủng khiếp. Từng tên lửa sát thương nhắm vào các đặc công cảm tử, bộc phá nổ tung, hoà cùng với nhiều tiếng nổ của các mìn Claymore chống tấn công, làm banh xác những kẻ xâm lăng mù quáng do bị nhồi sọ. Đồng thời bốn cây Đại liên M.60 từ trên hai chiếc Hỏa long, nhắm đúng, chính xác khạc đạn liên hồi, tạo thành những chuổi dài lửa, viên sau nối tiếp với viên trước mang thần chết đến cho đám địch quân cộng sản. Cứ sau một vòng bắn tên lửa và đại liên thì Hoả Long quay ngay lại, tiếp tục gieo kinh hoàng chết chóc cho hai đại đội chính quy sinh Bắc tử Nam này. Tiếng bộc phá im ngay, tiếng đại liên thưa dần. Sau gần 20 phút làm chủ chiến trường, hai chiếc Hỏa Long rời khỏi trận địa. Một phi tuần F.4 vào vùng, dội bom chính xác vào các vị trí tấn công và đường rút lui của chúng, khoảng 5 giờ sáng, địch rút lui mang theo nhiều tên bị thương và tử thương. Đến 6 giờ sáng, tiếng súng giao tranh đã ngưng bặt, chiến trường đã trở lại im lắng. NV và các Sĩ quan Quận, Ban NDTVệ, Bình định Phát triển rời công sự, đi ra khỏi cổng Quận, cùng với trung đội phòng thủ để lục soát chiến trường. Vì hiếu kỳ và trong trách nhiệm chỉ huy trưởng NDTV Quận, muốn biết tổn thất lực lượng NDTV Toumorong về nhân mạng và vũ khí như thế nào, nên NV đã theo chân các Nghĩa Quân (NQ) và NDTV Xã tỵ nạn, cho lệnh lục soát các bụi cây dọc hai bên đường. Kết quả Trưởng Ấp thuộc Xã tỵ nạn và NQ đã bắt đựợc một cán binh Bắc Việt, đang ẩn núp trong lùm vì không biết đườ̀ng thoát chạy. Trưởng Ấp có vợ vừa bị trúng đạn súng cối chết, ông ta vung dao rừng định chém đầu tên Việt cộng, NV vội đưa tay ngăn cản và bảo: – “Để Bót Quận lo”, trước ánh mắt ngỡ ngàng, sững sốt, đầy nổi kinh hoàng khiếp sợ, pha lẫn sự bàng hoàng ngạc nhiên của cán binh VC, vốn đựơc học tập vào giải phóng các Xã Ấp bị Mỹ Ngụy kềm kẹp, sao bây giờ lại bị người được giải phóng muốn chém đầu”. Qua thẩm vấn, tên tù binh khai là người Thái Trắng ở Lai Châu, trùng quê với Trung tá Quận trưởng. Quanh đây nồng nặc mùi hôi thối khét lẹt của thây người, do bị rockets của Hỏa Long tác xạ, có thây bầy nhầy chỉ còn gan ruột, nằm vắt trên hàng rào kẽm gai, có thây trong túi quần cụt có vài viên “Hùng Lực”(viên thuốc kích thích chém giết), một ít lương khô của Trung cộng. Lần lượt lục soát cẩn thận các bụi cây quanh vòng đai an ninh Quận, NV đã nhìn thấy nhiều vết máu loang lổ kéo dài trên cỏ, chứng tỏ đơn vị VC tấn công, bọn chúng đã mang theo đồng bọn bị thương nặng khi chúng chém vè. Trời thì quá lạnh, mà sao bọn đặc công này, chỉ với một cái quần cụt mình trần, lại dám liều thân chui vào đặt bộc phá, trên nhiều hàng rào kẽm gai đã được Quận phòng thủ, gàì đặt dày đặc sẵn nhiều mìn Claymore, mìn chống tấn công, thì NV cũng phải bái phục ma lực tuyên truyền của Việt cộng. Giao tù binh cho Ban 5 và Ban 2 Chi Khu giải quyết. Khoảng 8 giờ sáng, cố Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, Tỉnh Trưởng và Đại tá Cố vấn Trưởng Tiếu Khu Kon Tum, đáp trực thăng xuống Quận đường. Trung tá Bảo đã trình một khẩu K.54, cùng hai khẩu CKC súng trường bá đỏ. Nhờ đã chuẩn bị trước, nên khi các toán đặc công cảm tử đặt bộc phá, cùng với chiến thuật tiền pháo hậu xung, đã bị Chi Khu phản pháo chận đứng, với hỏa lực khủng khiếp của Hỏa Long, cùng với sức chống trả mãnh liệt kiên cường của NQ, đã tiêu diệt kịp thời các mũi đặc công, không để cho chúng vượt qua được hàng rào phòng thủ Quận đường. Do nhiều kinh nghiệm chiến trường và tài điều quân của Trung Tá Quận trưởng, hai đại đội chính quy Bắc Việt, đã bị thảm bại, bỏ lại chiến trường nhiều xác chết và vũ khí, một số cán binh bị bắt làm tù binh, một số đông bị tử thương và bị thương, được mang đi chưa được kiểm chứng. Đó là câu trả lời thực tế cho các cán binh sinh Bắc tử Nam, thấm thía về sự tuyên truyền chính trị xảo quyệt, của Đảng Cộng sản Việt Nam qua chiêu bài: Giải phóng Miền Nam.

(Dak-Tô Hill)

Cũng trong ngày này, khoảng 9 giờ sáng, khi mở cửa văn phòng, NV thấy nguyên một quả đạn 82 ly rớt ngay bàn Phó Quận. Trái cối không nổ, mũi nhọn đầu đạn gây một dấu lõm lớn. Một sĩ quan và ba nghĩa quân bị thương nhẹ, không ai bị tử thương. Vài phòng bị hư nát, nhiều mái tôn bị lũng hoặc bị bay mất. Trong trận đụng độ này, Trung sĩ Lưu được tưởng thưởng huy chương và thăng cấp Trung sĩ nhất.
Sau khi di tản khỏi Đak-Tô trong Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, Trung Tá Bảo đã đảm nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng Tỉnh Phú Bổn. Ước nguyện sau cùng của ông là muốn được làm một Đại tá hồi hưu. Nghe đâu ông và gia đình đã được định cư ở Hoa-Kỳ.
***

Grand Rapids, Michigan, March, 30. 2020

Tôn Thất Hùng

Cựu Đốc Sự K.12
Cựu Trung Uý K.1/68.

Nỗi Đau Buồn Tháng Tư

Tam Bách Đinh Bá Tâm

Ngày 21-4-75, dân Long Khánh trên đường đào thoát cộng sản

Đối với người Việt ở hải ngoại, hay cả người Việt yêu chuộng Tự do trong nước, 30 tháng Tư là ngày đau buồn nhất, kể từ năm 1975 và mãi mãi về sau. Riêng với tôi, một cựu công chức tốt nghiệp trường QGHC Sàigòn, đã từng phục vụ tại một quận nhỏ bé nhưng là một chiến trường thật sôi động, thì ngày tháng đau buồn đáng ghi nhớ bắt đầu từ 20 tháng 4, 1975. Nơi đó quân ta đã anh dũng chống trả với ba sư đoàn Việt Cộng trong gần nửa tháng. Sau đó, chúng tôi cùng với Sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo và các quân cán chính tại địa phương đã triệt thoái khỏi quận Xuân Lộc tỉnh Long Khánh, qua mật khu Bình Giã, về Bà Rịa, tỉnh Phước Tuy.

Sau gần sáu giờ hãi hùng di chuyển dưới đạn pháo của địch bằng xe jeep dân sự của quận, chúng tôi đã về đến Phước Tuy an toàn. Sau này chúng tôi mới biết rằng số quân nhân, sĩ quan đã hy sinh trong trận di tản này khá nhiều, trong đó có Trung tá Tiểu khu phó bị tử trận, Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng bị thương và bị địch bắt … Đoàn người di tản phải dừng lại ở Bà Rịa để kiểm tra. Quân nhân được tái phối trí để lập tuyến phòng thủ thủ đô Sài gòn. Cán bộ, công chức được phép về Sài gòn hay các tỉnh phụ cận…. Khi xe chúng tôi dừng lại ở Thủ Đức để ăn sáng đã nghe tin đồn có một số du kích đêm trước lẻn về tuyên truyền, kêu gọi dân chúng chuẩn bị “đón tiếp quân giải phóng”! Chúng tôi về đến Sài gòn vào buổi trưa. Sau đó tôi lái xe đưa các các nhân viên trong đoàn di tản ra bến ôtô bus để họ đón xe về nhà… Mọi người lưu luyến chia tay để rồi từ đó, bốn mươi năm qua, tôi chưa bao giờ gặp lại họ, những nhân viên đã đồng cam cộng khổ với tôi trong suốt thời gian ở Xuân Lộc, cũng như trên đường di tản đầy hiểm nguy đêm ấy …

* * *

Không khí tại Sài Gòn những ngày hạ tuần tháng Tư thật căng thẳng. Chúng tôi cho đục nền nhà, làm thang gác xuống nhà bố mẹ vợ tầng dưới để tránh pháo kích. Ngoài phố, người dân hối hả tìm đường di tản ra nước ngoài… Một buổi tối, bố mẹ vợ tôi đến thăm, ôm hôn giã từ các cháu nhỏ. Một ông chủ đóng tàu thân thiết với ông nhạc tôi đã hứa cho gia đình bố mẹ vợ tôi cùng đi ! Nhưng hai hôm sau, ông chủ tàu đã thất hứa, lo bôn tẩu trước!

Những ngày sau đó, tôi đi lang thang đến nhà bạn bè, hy vọng gặp vận may để tìm đường di tản. Vô vọng, tôi bước vào rạp Cinê Nguyễn Văn Hảo trên đường Trần Hưng Đạo, xem một phim Pháp. Như thường lệ, trước khi xem phim, khán giả đứng lên nghiêm chỉnh chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà. Nhìn lá cờ thân yêu đang phất phới trên màn ảnh lớn trước mắt, bỗng nhiên tôi nhớ đến lá cờ vàng ba sọc đỏ phất phới trong ánh lửa pháo kích của địch sau lưng chúng tôi như vẫy tay giã biệt, khi chúng tôi rút khỏi chiến trường Xuân Lộc mấy ngày trước đó …Hôm nay, chào lá quốc kỳ thân yêu trong một rạp hát ở Sài gòn, tôi có cảm giác mình lại phải di tản một lần nữa, trước khi Cộng Sản vào đây. Nhưng đi đâu, bằng cách nào ? Hai giòng lệ ứa ra, lăn dài xuống đôi má hóp, nhạt nhoà đôi mắt mang kính cận của tôi lúc ấy! Tôi không còn lòng dạ nào xem hết cuốn phim, bèn bước ra khỏi rạp với tâm trạng lo lắng bồn chồn!

Chiều ngày 26-4, tôi đứng trước nhà nghe tin tức, bên cạnh vợ đang bế con gái út mới hai tháng tuổi. Các con khác đã đi học về, đang quây quần chơi với mẹ. Ông Đại úy Hải quân ở cạnh nhà tôi, đậu xe đậu lại nói nhỏ với tôi:

-Tàu chúng tôi rời bến đêm nay. Ông và gia đình có muốn đi với chúng tôi, hãy chuẩn bị sẵn sàng. Khoảng mươi lăm phút nữa, tôi sẽ xuống đây chở ông bà đi ngay…

Thấy tôi do dự, ông ta nói tiếp:

-Bằng mọi cách, mình phải đi thôi! Sĩ quan như tôi, công chức như ông, chúng nó vào đây sẽ giết hết! Tôi di cư từ Bắc vào Nam năm 54, đã từng nếm mùi Cộng Sản rồi ông ạ. Đi thôi, đừng do dự gì cả!

Tôi quay sang vợ đang lo lắng nhìn tôi. Tôi nhìn ba đứa con tuổi từ ba đến năm tuổi đang đứng quanh mẹ chúng, cười nói vô tư. Đứa con gái út mới hai tháng, còn lim dim ngủ trong vòng tay mẹ. Tôi bỗng do dự: đi hay ở?

Tôi quay sang nói với vợ:

-Các con còn bé quá, làm sao chịu nổi sóng gió mà đi. Hơn nữa em mới sinh xong, còn yếu lắm…!

Vợ tôi im lặng trao cô bé út cho bà ngoại, bước lên lầu bỏ quần áo tôi vào chiếc túi xách du lịch. Đoạn đến bên tôi, tháo chiếc nhẫn vàng đeo vào tay tôi, nói nhỏ:

-Anh cứ để mẹ con em ở nhà với bố mẹ. Đừng lo chi cả! Anh cứ đi một mình. Việt Cộng vào đây, anh sẽ bị hiểm nguy như ông Đại úy nói đó!

Tôi nhìn nàng, người vợ đã từng lo lắng chờ đợi tôi gần nửa tháng khi địch quân bao vây quận Xuân Lộc. Người vợ đã có ý tưởng hy sinh cuộc sống chính mình và bốn con thơ để tôi ra đi một mình. Tôi bỗng liên tưởng đến truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng, trong đó người vợ buông mình theo giòng nước lũ sông Hồng, để chồng sống sót, nuôi ba con thơ dại… Giờ đây nỡ nào tôi ra đi một mình, để nàng với bốn đứa con nhỏ ở lại hay sao? Đã ra đi, làm sao có thể trở lại, khi quê hương đất nước bị Cộng sản thống trị. Và rồi vợ chồng sẽ mãi mãi chia lìa; các con sẽ mãi mãi không gặp lại bố…Thế thì tôi ra đi làm gì? Khi ông Đại úy trở lại, hỏi tôi đã chuẩn bị xong chưa để ra đi, tôi im lặng lắc đầu … Ông nhìn tôi, ánh mắt ngạc nhiên lẫn buồn rầu. Đó là lần cuối cùng chúng tôi nhìn nhau, thông cảm hoàn cảnh của nhau…

Sài gòn vào những ngày gần cuối tháng Tư năm ấy, trở nên hoảng loạn. Tin tức chiến sự bi quan từng ngày. Đêm 25 tháng 4, Tổng thống Thiệu lên TV trần tình về tình hình đất nước, đổ lỗi cho người Mỹ không viện trợ đầy đủ cho Việt Nam Cộng Hoà để ngăn chặn làn sóng CS xâm lăng…Sau đó dùng xe hơi riêng, cùng đoàn tùy tùng lên máy bay của Đại sứ Mỹ ra đi… Những đêm kế tiếp, VC từ bên kia sông Sàìgòn pháo kích vào thành phố. Ban ngày người ta đi hôi của tại các nhà giàu đã di tản…

Đến sáng ngày 30 tháng Tư, một người chú của tôi đã chạy trốn Việt Cộng từ Miền Trung, vội chạy đến đến hốt hoảng nói với tôi:

-Cháu ơi! Việt Cọng đã vào đến Hoà Hưng rồi … Liệu tìm đường mà chạy đi thôi!

-Nhưng thưa chú, chạy đi đâu bâu giờ?

Chú cháu nhìn nhau, đau buồn và tuyệt vọng…

Đến 10 giờ rưỡi trưa, nhạc trên đài phát thanh Sài gòn vụt tắt.… Có tiếng của tướng Dương Văn Minh, nhân danh Tổng thống và Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa ra lệnh cho các đơn vị quân đội đầu hàng…Sau đó là tiếng hát, tiếng đàn ghi ta của Trịnh Công Sơn, vang lên ca khúc phản chiến “Nối Vòng Tay Lớn”…Tôi ngồi phịch xuống giường, nhìn trừng trừng vào chiếc Radio vừa phát ra những lời kêu gọi đầu hàng, buồn rầu vô hạn. Hai dòng nước mắt thất vọng và căm tức chảy dài xuống má! Hỡi ôi! Cuộc chiến đấu bảo vệ Tự do của quân dân cán chính Miền Nam đã kết thúc nhanh chóng và tủi nhục như thế này sao?

Trưa hôm ấy, tôi bước ra ngoài để xem quang cảnh náo động ngoài đường. Người ta đổ xô đi làm quen với những “chú bộ đội”, với dép râu nón cối, súng AK kè kè bên hông…Người ta ngắm nhìn họ như những “sinh vật lạ” mà lâu nay chỉ nghe, chứ chưa thấy tận mắt. Người ta hỏi những câu ngô nghê chỉ cốt làm quen với đám “chủ mới”, đầy quyền uy với súng đạn và bạo tàn! Trên đường phố, xe hơi quân sự chạy qua chạy lại, với những “tên cách mạng giờ thứ 25” , với băng đỏ quấn cánh tay, mồm la hét trong những chiếc loa cầm tay, náo động cả khu phố! Có tin đồn về một cảnh sát viên của “chế độ cũ” vừa tự tử ở “ngã tư quốc tế”, không xa nhà chúng tôi…Rồi một sĩ quan tự kết liễi đời mình cạnh bức tượng Thủy Quân Lục Chìến ở cuối đường Lê Lợi, Sài Gòn…

Khi trở về nhà, tôi gặp một người láng giềng trong cư xá công chức gia đình tôi ở từ lâu. Anh này trước đây thỉnh thoảng hỏi thăm tôi mỗi khi tôi từ Quận về phép. Anh chỉ chiếc xe Jeep dân sự của quận Xuân Lộc đậu trước nhà – chiếc xe tôi đậu nơi đó từ ngày di tản từ Xuân Lộc về đây:

-Xe riêng của anh, hay xe của Quận anh làm việc đó?

Tôi trả lời “người bạn tốt” mà tôi quen từ khi anh ta vào ở cư xá này:

-Tôi làm gì có tiền mua xe?…Đó là công xa của quận, mang số ẩn tế, anh thấy đó !

Anh ta “cảnh báo” tôi:

-Anh liệu mà giao nộp sớm cho “mấy ông cách mạng”, kẻo sau này rắc rối lắm đó!

Sau này tôi mới biết “người bạn tốt” mà tôi tưởng lầm bấy lâu nay, lại là tay VC nằm vùng, nhận nhiệm vụ, theo dõi tôi – cũng như những “đối tượng” khác từ lâu! Chẳng bao lâu sau, anh ta lên làm “tổ trưởng dân phố” trong cư xá.

Nghe người bạn lên tiếng “cảnh báo”, tôi sực nhớ những đến giấy tờ, khuôn dấu mang theo từ quận Xuân Lộc. Tôi gói ghém những khuôn dấu của cơ quan hành chánh quận Xuân Lộc, bỏ vào túi, đem đi ném xuống sông Sài gòn …Theo sử sách, trong trận vua Quang Trung đại phá quân Thanh năm 1789, tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị đã vội vã một mình một ngựa, không kịp mang giáp trụ, trốn chạy với đám loạn quân, bỏ lại cả ấn tín…Còn chúng tôi, mặc dù phải rút lui khỏi trận địa Xuân Lộc, chúng tôi vẫn trật tự nghiêm chỉnh, vẫn không để những khuôn dấu quận Xuân Lộc – biểu tượng của nền hành chánh Việt Nam Cộng Hòa – rơi vào tay kẻ địch! Nhìn giòng nước cuồn cuộn chảy, nhận chìm những khuôn dấu đã từng quen thuộc với chúng tôi trong hơn hai năm làm việc tại quận Xuân Lộc, mà lòng buồn vô hạn!

Bỗng nhiên tôi nhớ đến một buổi chiều mùa đông âm u bên bờ sông Vệ cuối năm 1954. Hôm ấy gia đình chúng tôi đang chờ chiếc đò bên kia sông sang chở khách. Bên kia sông, lá cờ vàng đang phất phới tung bay trong gió đông, gợi trí tò mò lẫn ước mơ của cậu thiếu niên đã sống chín năm trong tăm tối của Việt Minh! Bên kia sông là cuộc sống huy hoàng, là tương lai tươi sáng mà cậu thiếu niên và gia đình đang mong ước, chờ đợi. Hai mươi mốt năm sau, vào buổi chiều cuối tháng 4 năm 1975, tôi ngồi bên bờ sông Sài Gòn, nhìn làn nước đục trôi đi mà nghĩ đến thân phận mình, tương lai và gia đình mình, đến những người bạn “đồng cảnh ngã ngựa” không biết ngày mai những “kẻ thắng cuộc” sẽ ra “đòn thù” thế nào đây?

* * *

Sáng hôm nay, một buổi sáng đầu tháng Tư của Mùa Quốc Nạn, nắng ấm rực rỡ chan hoà vùng đất tỵ nạn miền Nam California. Tôi đi giữa đại lộ Bolsa thênh thang mà nhớ đến những ngày tháng cũ khi chiến trường Việt Nam sôi sục vào thời điểm bốn mươi năm trước. Chiến tranh đã tàn từ lâu, nhưng những ám ảnh về ngày tháng u buồn năm xưa vẫn theo đuổi tôi suốt một quãng thời gian dài gần nửa thế kỷ; suốt một quãng đường dài gần nửa vòng trái đất. Từ trại tập trung Cộng sản ở miền Nam ra miền Bắc Việt Nam.; và rồi mười năm sau, từ một đất nước mất cả độc lập, dân chủ lẫn tự do… tôi đã đến một xứ sở ấm no hạnh phúc, đầy đủ tự do, nhân quyền này… Xứ sở ấy cách xa cách quê hương cũ của tôi đến nửa vòng trái đất, đến một Thái Bình Dương bao la bát ngát . Tôi đã nhận nơi này làm quê hương thứ hai, với tất cả sự cảm mến chân thành…

Khi tôi đậu xe trước một khu chợ đông đảo khách hàng người Việt, bỗng thấy một người hát rong đang ôm đàn, hát một ca khúc mà đã lâu lắm tôi chưa được nghe. Đó là một thanh niên gốc Việt trẻ tuổi, đứng bên chiếc xe hơi cũ, trên mui có đặt chiếc loa thùng, tay cầm chiếc micro… đang say sưa hát bài Một Mai Giã Từ Vũ Khí của cố nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Tiếng người ca sĩ trẻ đầy xúc cảm, vang vang trong khu đậu xe trống vắng vào buổi sáng tinh sương, giữa lòng phố chính khu Little Sài Gòn. Tôi im lặng đứng nghe, lòng rưng rưng theo tiếng ca trầm bổng nức nở , sâu lắng của anh:

Rồi có một ngày, sẽ một ngày chinh chiến tàn

Anh chẳng còn chi, chẳng còn chi Ngoài con tim héo em ơi

Xin trả lại đây, bỏ lại đây Thép gai giăng với lũy hào sâu

Lỗ châu mai với những địa lôi

Ðã bao phen máu anh tuôn, cho còn lại đến mãi bây giờ…

Chàng trai trẻ kia, khi “chinh chiến tàn”, có lẽ hãy còn bé lắm. Nhưng bố anh, người chiến sĩ can trường của những ngày cuộc chiến sôi sục trước năm 1975, có lẽ đã nằm xuống khi chiến cuộc chưa tàn! Máu ông đã tuôn ra, với ước mơ về “một ngày chinh chiến tàn”. Để rồi khi ngưng tiếng súng ngoài chiến trận, “đất nước thống nhất”, máu người dân tiếp tục tuôn rơi trước mũi súng đàn áp tàn bạo của “chính quyền cách mạng”! Và hàng triệu người đã tìm mọi cách bỏ nước ra đi, hàng nghìn người đã bỏ xác ngoài biển cả, trong các trại cải tạo của CS…!

Hôm nay, những ngày gần đến tháng Tư đau buồn, tiếng hát của anh gợi đã gợi lại trong tôi tôi vết thương lòng bốn mươi năm về trước… Hãy hát lên đi, hát nữa lên đi hỡi những người trẻ tuổi Việt Nam của thế hệ hôm nay. Để tiếng hát xoá đi nỗi u buồn, đớn đau của những ngày Sài gòn sụp đổ. Để tiếng hát xua đi những tăm tối hiện tại, làm bừng lên chút ánh sáng tươi đẹp cho một thế giới huy hoàng trong tương lai. Nơi đó sẽ không còn độc tài tham lam, không còn gông cùm đấu tố, không còn áp bức bạo tàn…

Tam Bách Đinh Bá Tâm (ĐS 12)

Trăng Rọi Sông Dài

Trần Bạch Thu

Tôi rời Kontum chiều ngày 8 tháng 3 năm 1975 trên chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam cùng với một số viên chức thuộc tỉnh như Ty Xã Hội, Công Chánh, Sở Học Chánh cũng như Trung Tâm Bình Định Phát Triển để dự phiên họp tổng kết chương trình định cư, khẩn hoang lập ấp (KHLA) của địa phương tại Phủ Phó Thủ Tướng. Trong thời gian họp ở Sài Gòn báo chí và đài truyền thanh, truyền hình loan tin Cộng quân tấn công Ban mê Thuột ngày 10 tháng 3 năm 1975 và chỉ ba ngày sau là hoàn toàn thất thủ.
Họp xong ở Phủ Phó Thủ Tướng tôi về trình diện Bộ Nội Vụ vì Hàng Không Việt Nam đã hủy tất cả các chuyến bay về cao nguyên trong đó có Kontum và Pleiku. Văn phòng Phụ tá Đặc Biệt Tổng Trưởng Nội Vụ gọi điện giúp đăng ký chuyến bay quân sự về Pleiku ngày 16 tháng 3 năm 1975. Sáng hôm ấy tôi ra phi trường Tân Sơn Nhất cùng với Trung Tá Lộc, Quận trưởng Quận Kontum lúc 6 giờ sáng chờ chuyến bay đi Pleiku. Sau gần hai giờ chờ đợi, nhân viên phụ trách chuyến bay thông báo vì lý do an ninh chuyến bay bị hủy bỏ. Kế hoạch Di Tản Chiến Thuật bắt đầu đúng vào ngày nầy.

Chỉ một tuần lễ sau, quân dân hỗn loạn từ cao nguyên đã lần lượt tràn về tới miền duyên hải, mọi người đang cố gắng nhanh chóng đi về Nha Trang, Khánh Hòa vì có tin đồn không biết do đâu là đã có thỏa thuận cắt đất từ vĩ tuyến 13 trở ra sẽ thuộc quyền kiểm soát của Chánh phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Lúc nầy thời sự biến chuyển rất nhanh chóng, không thể tưởng tượng được, bộ đội Bắc Việt tràn tới đâu, dân chúng chạy tránh tới đó, cứ càng xa vào trong Nam càng tốt và cảm thấy an toàn hơn.

Tình hình chiến sự dồn dập và lan nhanh khiến cho mọi người xôn xao bàn tán khắp mọi nơi trong thành phố. Suốt thời gian nầy tôi ở Sài Gòn trong khi các viên chức di tản về tới Sài Gòn càng lúc càng đông nên giới chức ở Bộ cho phép đặt luôn Văn phòng đại diện tỉnh cạnh Bộ để điều hành các công việc thuộc tỉnh và làm công tác tiếp nhận các viên chức di tản từ Kontum về Sài Gòn, chủ yếu là xác minh nhân viên thuộc tỉnh để họ được lãnh tiền và nhận thực phẩm cứu trợ. Mỗi người trên đường di tản về Sài Gòn là môt câu chuyện thương tâm đầy nước mắt. May rủi khôn lường.

Ngày 30 tháng 3 tin Đà Nẵng thất thủ làm rúng động toàn miền Nam nhưng cũng chưa có dấu hiệu gì hoảng hốt vì còn “quân mạnh tướng bền.” Cho đến khi Mặt trận Phan Rang bị tràn ngập ngày 15 tháng 4 và Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị địch bắt sống thì sự hoang mang, dao động lên đến tột độ. Một tuần lễ sau, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu từ chức, mọi người bắt đầu tìm mọi cách để di tản. Bắt đầu là các nhân viên làm sở Mỹ và thân nhân có danh sách di tản ở Tòa Đại Sứ Mỹ hay Phi trường Tân Sơn Nhất.
Một số bạn bè thân thiết và người quen đề nghị tôi nên ra đi theo họ. Đến lúc nầy tôi vẫn chưa tin rằng miền Nam bại trận vì ít nhất VNCH cũng còn làm chủ một số tỉnh thuộc quân đoàn 3 và quân đoàn 4 với đầy đủ lực lượng và phương tiện chiến đấu. Về phương diện chính trị các tổ chức và phe phái tại miền Nam qua tin tức từ trại Davis, trụ sở Ủy Ban Liện Hợp Quân Sự bốn bên đã áp lực Tổng Thống Thiệu từ chức thì sẽ có đàm phán về một thể chế chính trị hòa hợp hòa giải cho miền Nam. Sau khi Phó Tổng Thống Hương lên thay thì lại có tin là chỉ có Đại tướng Dương Văn Minh mới có đàm phán. Đến đây thì tình hình gần như nguy ngập. Tướng Nguyễn Cao Kỳ hô hào tại xứ đạo Tân Sa Châu kêu gọi tử thủ không di tản ra nước ngoài “không có mắm tôm mà ăn” nhưng lại không có lực lượng. Tướng Nguyễn văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 và một số viên chức cũng như đảng phái dự tính một cuộc đảo chánh.

Đến khi Đại tướng Dương văn Minh nhận quyền từ Tổng Thống Trần văn Hương trong phiên họp khoáng đại lưỡng viện quốc hội cũng còn hiệu triệu quân nhân các cấp hãy giữ vững tay súng. Nội các Vũ văn Mẫu đang còn sắp xếp nhân sự, ra tuyên cáo yêu cầu người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam và thông tin là sắp có giải pháp hòa bình thì các sư đoàn Bắc Việt đã vây kín Sài Gòn.

Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975 ba anh em tôi ra bến Bạch Đằng ăn sáng và bàn thảo chuyện xuống tàu di tản, đứa em kế là Hải quân cơ khí tại Hải quân công xưởng cho biết tình hình rất nguy ngập không thể nào chần chừ được nữa, mọi người đang chen nhau xuống tàu di tản càng lúc càng đông. Cho đến lúc đó, tôi vẫn không có ý niệm ra đi sống ở nước ngoài, lại càng không thể di tản, tránh đi một thời gian rồi trở về khi tình hình tạm lắng nên tôi quyết định không đi và thuyết phục các em là tình hình tuy xấu nhưng so với hồi tết Mậu Thân cũng chưa đến hồi tuyệt vọng. Vả lại dân chúng thì được, sau khi tình hình ổn định có quay về cũng không sao chứ quân nhân, công chức thì không được. Phần hy vọng rằng có thể có giải pháp hòa hợp hòa giải trên vùng đất còn lại nếu có cắt đất phân chia vùng lãnh thổ đôi bên. Đứa em thứ hai là Quân cảnh nên đồng ý là dĩ nhiên. Ăn xong ngồi uống chưa hết ly cà phê sữa đá, đứa em kế đã đứng lên đội kết-pi, sửa lại cho ngay ngắn rồi nói: “Thôi anh về nói với ba má em đi.”

Nhìn theo bóng quân phục màu xanh nước biển thu nhỏ dần sau cổng trại, hai anh em tôi không nói được lời nào, cũng không buồn đứng lên đưa tiễn, chỉ với tay lấy điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ, bật lửa mồi thuốc và rời quán.

Đêm hôm ấy hai anh em qua Thủ Thiêm ngủ ở nhà người quen gần bến đò. Suốt đêm tàu đò qua lại đưa người vội vã di tản ra các tàu lớn. Những ngọn đèn dầu lấp lánh trên sông như bầy đom đóm. Xa xa ánh trăng chiếu loang loáng trên mặt nước lung linh rọi dài một vùng sương phủ mênh mông. Lặng thinh buồn rười rượi chờ sáng.

Sài Gòn thất thủ tôi ra trình diện học tập cải tạo theo diện ngụy quyền tại trường Nữ Trung học Trưng Vương đúng với nội dung thông cáo của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn ghi rõ trại viên phải chuẩn bị quần áo, mùng mền vật dụng cá nhân và mang theo tiền để đóng tiền ăn trong một tháng. Khi nghe thông báo trên đài phát thanh cũng như trên báo “Sài Gòn giải phóng” về điều kiện và thời gian học tập cải tạo một tháng, các viên chức chế độ cũ hiện đang cư ngụ trong thành phố ai nấy đều đang hồi hộp chờ đợi sự thể ra sao, nay nghe được tin nầy mọi người rất hân hoan lo thu xếp để đến nơi trình diện đúng hạn.

Tôi về Mỹ Tho nói với mọi người về thông cáo trên, ai cũng có vẻ nghi ngờ vì số sĩ quan và viên chức trình diện ở Mỹ Tho đã bị nhốt hết vào trong khám đường rồi và nghe đâu đang chuẩn bị đưa vào trại Vườn Đào (Mỹ Phước Tây) để lao động, chớ có nghe học hành cải tạo gì đâu?

Lên Sài Gòn đúng ngày tôi trình diện ban đầu ở trường Gia Long, không ngờ mọi người đã đến rất đông từ sáng sớm nên đến phiên tôi, địa điểm trường Gia Long đã hết chỗ, cán binh cộng sản hướng dẫn sang trường Trưng Vương trình diện.

Khi đến nơi người đông như kiến, xếp hàng đôi dài dọc theo đường trước cổng trường. Lâu lâu chừng hai mươi phút, cán binh mở cổng cho từng tốp người vào độ năm phút thì ngăn lại và chờ, cứ thế cho đến xế trưa, số người được vào bên trong không biết là bao nhiêu, nhưng theo suy đoán có lẽ cũng sắp hết chỗ chứa. Quả thật khi đến lượt tôi vừa vào lọt bên trong thì nghe bên ngoài nhiều loạt súng nổ vì số người chen nhau tràn lên phía trước xô ngã cổng rào khi nghe cán binh thông báo đợt nầy là đợt cuối, những ai còn ở lại bên ngoài về nhà chờ lệnh mới.

Lạ thật, khi vào đến bên trong, xếp hàng đứng trước một dãy bàn, mỗi bàn có ba cán binh, nam có nữ có, còn rất trẻ, dáng điệu ở trong quê mới ra, ăn mặc đồ bà ba đen, trời nóng mà quấn khăn rằn, đội mũ tai bèo, hình như đọc chữ không được nên hỏi đi hỏi lại nhiều lần mặc dù đã trình giấy đăng ký rõ ràng và chỉ có một người viết danh sách nên mức độ tiếp nhận rất chậm. Sau khi đã ghi được vào danh sách, mọi người túa vào trong các phòng học, lo trải chỗ nằm chen chúc trên sàn gạch bông xen kẻ giữa các dãy bàn ghế còn nguyên tại chỗ, không được di dời đi nơi khác, lệnh cán binh đưa ra mọi người phải chấp hành, không được đi lại linh tinh. Hàng ngày có hai chuyến xe chở cơm nước tới, thấy có ghi bảng hiệu Nhà hàng Đồng Khánh.

Được ba ngày, tới ngày thứ tư, thình lình nửa đêm cán binh đến từng phòng tắt đèn, rọn đèn pin vào ra lệnh im lặng, khẩn trương tập họp dưới sân trường. Tất cả lặng câm trong bóng tối, cán binh cộng sản rọi đèn pin trên mảnh giấy nhỏ, đọc tên một số ít người tách riêng ra, trong số đó tôi biết có người là nhân viên Ngân hàng quốc gia.

Sau đó tất cả mọi người đều lên xe đò chở khách trên hai mươi chiếc di chuyển ra khỏi thành phố. Gió lạnh thổi phần phật trên những tấm bạt che kín cửa sổ, hòa lẫn với tiếng máy xe nổ đều đều. Mọi người cùng đưa mắt nhìn lơ đễnh về phía trước, không mường tượng được gì và lặng im bao trùm lên khoảng không gian bít bùng tối mờ mờ trong xe, nghe chừng như đang đi về nơi vô định.

Đến gần bốn giờ sáng, trời còn tối om, đoàn xe rẽ vào khu vực gồm nhiều dãy nhà bỏ trống. Một số người nhận ra ngay là làng Cô Nhi Long Thành do ông Tư Sự xây dựng trước đây, giờ đã bỏ hoang từ nhiều năm nay. Nhờ ánh sáng của mấy chục chiếc xe đậu xuôi ngược rọi chung quanh khu vực vắng vẻ mà đoàn người mới bước xuống xe nhanh chóng và xếp hàng trên những bãi đất trống, đến khi có lệnh của cán binh cộng sản từng tốp khoảng gần hai trăm người mới lần lượt túa vào trong những căn nhà trống trơn chỉ có tường chung quanh và vách ngăn thành ba, bốn buồng mà không có cửa. Mọi người tự do kiếm chỗ ổn định hành lý và tụ tập nhau thành từng khu gồm những người quen biết hoặc thân thiết nhau từ trước khi trình diện cải tạo.

Chờ đến sáng rõ, không thấy cán binh cộng sản ở đâu mọi người mới bắt đầu ra ngoài các bãi đất trống để quan sát. Ngoài những dãy nhà trống lợp tôn xi-măng còn lại toàn khu vực rộng lớn hoang vu chỉ mọc đầy cỏ dại cao gần nửa người, không có hàng rào chung quanh. Không có dấu hiệu có người sinh sống, không có nước. Gần đến xế chiều mới có một xe bồn loại nhỏ chở nước tới, cả ngàn người xếp hàng tới tối để nhận được một xô nước vì xe bồn cứ hết nước lại đi lấy và mọi người cứ xếp hàng chờ.

Ngày hôm sau mới có xe chở cơm tới với cá khô. Gần cả tháng trời như vậy, cán binh cộng sản mới điều động mọi người tự xây cất khu nhà bếp, căn-tin và ổn định phân chia thành tổ, đội trong từng nhà. Sau đó sửa chữa hội trường dã chiến, lợp tôn, đóng từng thanh gỗ ngang làm thành ghế ngồi hai bên trên nền đất.

Ban đầu, mỗi tuần cả trại lên hội trường nghe cán binh cộng sản thuyết giảng vài ngày, tối về sinh hoạt, kiểm điểm hoặc thu hoạch và thường thì đêm nào cũng có ca hát các bài ca cách mạng do các nhạc sĩ miền Bắc sáng tác trong thời kỳ chiến tranh, dần dần về sau là các bài ca mới do một số trại viên sáng tác. Thỉnh thoảng cũng có một vài cán bộ cao cấp vào trại thuyết giảng. Tôi còn nhớ có một lần cán bộ thuyết giảng là nhà văn Hoài Thanh với đề tài thơ văn Bác Hồ, điều làm tôi nhớ mãi không phải là nội dung của bài thuyết giảng mà là hình ảnh cứ chừng năm đến mười phút lại có một cán binh đến rót bia để sẵn trên bục cho diễn giả vừa ngụm bia vừa nói về văn thơ của Bác Hồ say sưa đến sùi bọt mà không biết là bọt mép hay bọt bia.

Gần nửa năm, chương trình học tập gồm 11 bài như Đế quốc Mỹ là kẻ thù số một; Nguỵ quân, nguỵ quyền là tay sai của Đế quốc Mỹ; Tình hình mới, nhiệm vụ mới. v…v… Trong thời gian học tập cũng có một vài đợt được trả tự do, cán binh cộng sản tung tin qua các Nhà Trưởng là chương trình học tập đã xong khiến mọi người ai nấy cũng đều hy vọng là sẽ được ra trại sớm. Sau đó cán binh cộng sản, một số chuyển sang mặc áo vàng và một số khác được thay thế bằng công an.

Trại bắt đầu tổ chức thành tổ đội lao động và bắt đầu xây tường rào kiên cố chung quanh trại và đồng thời sửa chữa các căn nhà trống trước đây thành các buồng giam có cửa. Các đội sinh hoạt theo tiếng kẻng báo giờ và chủ yếu là lao động ngày hai buổi theo chế độ, nội qui của trại giam từ đó. Không có chế độ thăm nuôi, chỉ được nhận quà của gia đình hằng tháng 5 kg theo địa chỉ hộp thư 15NV (“mười năm anh về.”) Cấm tiết lộ địa điểm, nơi giam giữ khi gởi thơ về cho gia đình xin quà.

Cải tạo tại Long Thành được một năm cho đến một buổi chiều sau khi cơm nước xong xuôi có kẻng tập họp bất thường, mọi người rất lo lắng về số phận của mình vì trước đó thỉnh thoảng cũng có tập họp như vậy, tôi còn nhớ có một buổi chiều trời chạng vạng cán binh cộng sản đi xe jeep tới trại và áp tải bốn người về Quảng Ngãi mà trong đó tôi có quen biết một người. Lần nầy cán bộ trại đọc danh sánh hơi dài hơn 250 người, sau đó được cách ly và cán bộ cho biết là sẽ di chuyển đến một nơi có điều kiện học tập, lao động tốt hơn.

Nhưng thật sự lại là một chuyến đi kinh hoàng hơn mấy lần trước, những người có tên trong danh sách bị còng tay lên xe tải chở xuống bến Tân Cảng, nửa đêm đem nhốt xuống hầm tàu Sông Hương mấy ngày đêm chở ra miền Bắc giam ở trại Phú Sơn, Bắc Thái. Khi Trung quốc tấn công các tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979 thì được đưa về trại Ba Sao, Hà Nam Ninh. Đến năm 1982 lại bị còng tay đẩy lên xe lửa ở ga Phủ Lý xuôi Nam về trại Z30D, Hàm Tân.

Lúc ở trại Long Thành còn hy vọng được về trong vài ba tháng, đến giữa năm khi có chánh sách mười điểm của chính phủ Cộng Hòa Miền Nam công bố cải tạo từ một đến ba năm cũng còn hy vọng. Nhưng khi xuống tàu ra miền Bắc thì hết hy vọng, nhất là khi gặp lại các quân nhân bị bắt từ hồi Tết Mậu Thân năm 1968 cho đến nay vẫn còn giam rải rác ở trong các trại. Kinh hoàng hơn nữa khi biết được rằng một số quân nhân, viên chức từ thời 1954 vẫn còn bị giam giữ và số khác được thả ra nhưng bị chỉ định vùng cư trú vĩnh viễn ở các tỉnh miền Thượng du, Bắc Việt.

Lao động cải tạo đói rét trên miền Bắc đến năm thứ ba coi như đã kiệt sức, sống chết gần kề, không có chế độ thăm nuôi, thậm chí người thân còn chưa biết rõ là bị giam cầm ở đâu. Bệnh tật không thuốc men, mỗi sáng sau tiếng kẻng báo thức ra sân điểm danh, sạp nào còn phủ mùng thì tổ trưởng tạp dịch vào thu dọn đưa người không chịu dậy điểm danh âm thầm ra đồi đá bên kia suối. Có hôm một lượt có đến hai, ba người như thế thì may mắn hơn được bó chiếu đặt trên xe cải tiến và có nhiều người đi theo sau vì đồi đá bazan năm người đào một huyệt từ sáng đến chiều chỉ sâu được chừng một mét. Huyệt được phủ đá vụn, bằng phẳng, không ghi dấu. Tổ trường tạp dịch trước khi xuống đồi thường hay ngớ ngẫn đứng trước mộ không biết cầu nguyện gì mà không thấy làm dấu thánh giá hay chấp tay xá chỉ nghe lẩm nhẩm: “Người yêu người sống để yêu nhau” (Thơ Tố Hữu).

Người chết đã thế còn người sống ra sao? Đến muối mà còn phải pha nước màu làm bằng gạo rang cháy khét và mỗi bữa ăn chỉ được phát ba muỗng thì nói chi đến cơm gạo, chỉ bo bo và sắn lát làm chuẩn, mỗi người một chén sắt. Như thế cũng còn sống được miễn là đừng có nhận tin buồn gia đình tan nát ở bên ngoài vì có khi nhận được tin như thế lại lo buồn mãi là sẽ ra đồi đá sớm hơn.

Thư từ trại qui định chừng đôi ba tháng mới được viết một lá thư gởi về cho gia đình không được ghi địa chỉ nơi gởi mà chỉ ghi mã số giống như hồi ở trại Long Thành là 15NV và ít khi nhận được thư hồi âm. Thư qua kiểm duyệt của cán bộ trại giam, nếu không đúng mẫu thì bị kiểm điểm vừa không được gởi đi mà còn bị kỷ luật và phạt không được gởi thư lần tới.

Một số tù nhân, trước kia khi di cư vào Nam hồi năm 1954 còn thân nhân ở lại miền Bắc nay đã trở thành cán bộ là được thăm nuôi cũng chỉ có vài ba ký đường, kẹo bánh và thuốc lào, một số khác được bảo lãnh ra khỏi trại, chính nhờ số anh em nầy mà một số anh em thân tình mới gởi được thư “chui” nhờ đem ra Hà Nội gởi về cho gia đình. Tôi cũng gởi được một lá thư về cho gia đình với nội dung thực sự là không biết được ngày về và nói với mẹ rằng con sẽ cố gắng vượt qua mọi khó khăn, may ra nếu còn sống con sẽ trở về với gia đình.

Năm năm sau mẹ tôi ra Bắc lần đầu tiên thăm nuôi. Từ Cai Lậy lên Sài Gòn ngủ qua đêm, hôm sau theo đường xe lửa mất mấy hôm mới ra đến ga Phủ Lý, Nam Định rồi thuê xe trâu cùng với vài người nữa cũng đi thăm nuôi cùng vào trại Ba Sao.

Đường vào trại ngoằn ngoèo, quanh co, hai bên vách núi đá vôi lởm chởm, nhô ra nhiều hình thù trông rất là kỳ quái. Được non chừng mười hai cây số thì xuống xe bên đường lộ đá, sau đó thuê người gánh quà đi dọc theo đường đất chừng non cây số thì đến khu nhà thăm nuôi nghỉ qua đêm, hôm sau mới được gặp thân nhân. Trại Ba Sao có ba phân trại A, B và C. Tôi ở phân trại C là phân trại trước tiên, vào thêm độ năm cây số nữa là phân trại A và cuối cùng nằm sâu trong vách núi là phân trại B.

Thời gian gặp mặt ngắn ngủi quá, tôi có hỏi về mọi chuyện, nhưng mẹ nói nhà mình khổ quá, cũng không biết cô Trâm ra sao nữa, mẹ nói thỉnh thoảng hai đứa em gái tôi làm ở tổ hợp bánh kẹo tại thị trấn đi Sài Gòn mua hàng cho tổ hợp thỉnh thoảng có ghé nhà anh Suy vẫn còn ở trong chung cư Nguyễn Thiện Thuật nhưng cũng không có tin tức gì nhiều về cô Trâm ngoài Kontum. “Nhưng chắc cũng khổ như nhà mình.” Mẹ tôi nói trong nghẹn ngào.

Trên đoạn đường từ căn nhà tranh vách đất làm nơi thăm nuôi về đến cổng lán trại tôi khóc mù mịt, không thấy đường thấy xá gì cả cho đến khi anh bạn tạp dịch thuộc đội nhà bếp nhắc nhở là nên bình tỉnh thì cán bộ kiểm tra quà thăm nuôi sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn. Tôi cố gắng mím môi quẹt nước mắt cho thật khô, nhưng đến khi cán bộ dỡ ra xem, kiểm tra từng món quà mà mẹ tôi đem từ Nam ra Bắc thăm nuôi thì tự nhiên nước mắt tôi ứa ra không cầm lại được nữa.

May mắn lắm, tôi là người cuối cùng, hơn nữa đã gần đến giờ đóng cửa trại nên cán bộ không nói gì, quay đi và ra lệnh khẩn trương mang quà vào trại. Nhanh chóng anh bạn giúp tôi chuyển quà vào trại đầy đủ và an toàn.

Kể từ đó hằng năm mẹ tôi dù khó khăn thế mấy cũng lần lượt dẫn các em tôi ra trại Ba Sao thăm nuôi cho gặp mặt anh vì sợ bị giam lâu quá tôi sẽ chết mất trong tù. Em út tôi năm đó mới học lớp 6, nhà nghèo, cha bị bệnh, mẹ buôn bán hàng rong, ba anh trai đi cải tạo mấy năm chưa về, chị lớn đang học trường Luật thì phải về quê đi làm hợp tác xã bánh kẹo ở thị trấn để được lãnh tem phiếu. Trong hoàn cảnh khó khăn vô cùng đó em tôi vẫn đi học và học rất giỏi. Những mong là khi tôi về sẽ được khen ngợi. Lúc bấy giờ ai cũng nghĩ rằng cải tạo đôi ba tháng hoặc cùng lắm là một hoặc hai năm thôi vì đã có chính sách được công bố rõ ràng. Mãi đến gần năm thứ ba, gia đình mới biết là tôi đã được chuyển ra miền Bắc ban đầu ở trại Phú Sơn, Bắc Thái sau chuyển về trại Ba Sao, Nam Hà.
Hy vọng còn lại, không mong gì được về sớm, là làm sao có tiền để đi thăm nuôi gặp mặt. Em còn nhỏ, nhà nghèo nên biết lo, thường hay năn nỉ xin mẹ đi chợ khi nào có heo thừa vú, bán rẻ thì mua về nuôi, nhớ là mua heo nái. Người còn không đủ ăn lấy gì mà nuôi heo mà lại là heo nái nữa mới khó. Mẹ tôi nói hằng ngày sau giờ học, em tôi thường đi vòng khắp xóm xin chuối cây đã chặt buồng về xắc trộn ít cám cho heo ăn. Đợt đầu được bầy ít con, đem bán lấy tiền mua cám nhiều hơn nuôi đợt hai. Trời không phụ, nuôi được vài lứa heo được khá tiền mẹ bảo con gái lớn nên sửa soạn chút đỉnh, may mặc quần áo cho tươm tất. Em chẳng nói gì. Một buổi tối, em nói với má là con đã để dành đủ tiền, má lo xin phép và mua đồ đi thăm nuôi anh Hai, lâu quá rồi má. Mẹ tôi khóc hết nước mắt.

Nhờ có thăm nuôi mà hai đứa em gái tôi liên lạc với anh Suy thường hơn và mẹ tôi cho biết rằng cô Trâm, vị hôn thê tương lai của tôi, hồi tháng 3 năm 1975 cùng với gia đình di tản ban đầu thuê xe đi từ Kontum đến Phú Bổn, sau đó xe hư và bị kẹt đường nên mọi người phải đi bộ mấy ngày mới tới bờ sông Ba, lúc còn đang ở bên nầy bờ chưa qua sông thì chiến trận khốc liệt xảy ra, bộ đội Bắc Việt nã trọng pháo vào đoàn người di tản dân quân hổn loạn, thương vong vô số kể. Em cùng với gia đình chạy lạc vào trong rừng, đói khát tưởng đâu đã bỏ mạng, may nhờ có người Thượng quen với gia đình trước đây giúp đỡ dẫn ngược đường về nguyên quán an toàn và hiện nay cô Trâm vẫn còn ở Kontum, có sạp mua bán ngoài chợ để phụ giúp mẹ nuôi ba đang cải tạo và các em.

Đến khi được chuyển trại về Hàm Tân, tình hình tương đối dễ thở, ăn uống được cải thiện tốt hơn nhờ trồng trọt thêm. Mẹ tôi đi thăm nuôi thường hơn, hằng tháng đều có gởi thơ cho cô Trâm biết, lúc đầu cô có gởi quà về nhà tôi để tập trung cho mẹ đem đi, sau đó cô Trâm xin địa chỉ để gởi trực tiếp về địa chỉ trại và lần nào ngoài đường tán, chuối khô bao giờ cũng có vài ba chai dầu gió. Tôi trở thành đại lý dầu gió ở trại Z30D. Vui mừng nhất là nhận được thư em vẫn chờ anh. Bấy giờ đã gần mười năm./.

Trần Bạch Thu (ĐS 17)

Xuân Trên Núi Hoàng Liên

Nguyễn Nhơn

Những mùa xuân tù đày trên đất Bắc

Đầu Đông năm 76, hai ngàn tù cải tạo Miền Nam lênh đênh trên chiếc tàu Hồng Hà trên đường ra Bắc. Đổ bộ lên Bãi Cháy, Hải Phòng.Đoàn tù chia thành hai nhóm. Một hướng về Cao Bằng – Lạng Sơn tiến phát. Một quẹo trái thẳng về Hoàng Liên Sơn. Sau một ngày và gần một đêm rong ruổi, đoàn tù nhóm tôi đặt chân xuống “Trại Cải Tạo Trung Ương Số 1″, Lào Cai lúc 3 giờ sáng. Đường vào các phòng giam chật hẹp, đèn đóm lập lòe, chốc chốc hiện ra khung cửa hẹp, trông giống hệt cảnh Địa ngục A Tỳ, vẽ trên vách các ngôi chùa cổ Miền Nam.

Mùa Đông năm đó thời tiết thật là khắc nghiệt, đó là lời của bọn cai tù nhận định như vậy. Ban ngày còn được 5-7 độ C, ban đêm dưới 0 độ. Đội 11 chúng tôi khi đó chưa được phân công chẻ tăm mành xuất khẩu nên được xua đi, xa cách trại 5-3 cây số, cuốc đất trồng mì (sắn). Theo “kỹ thuật thâm canh tăng vụ xã nghĩa hiện đại” thì … hốc mì phải vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc, rồi bỏ phân xanh xuống, tức là quơ lá cây rừng bỏ xuống đầy hốc, lấp đất lại, ủ năm ba bửa mới bỏ hom mì xuống. Trong Nam, chỉ cần cuốc một cuốc, bỏ hom mì xuống, lấy chân gạt đất lắp lại là xong. Còn ở đây, đồi núi toàn sỏi đá, không làm như trên thì hom mì không làm sao bắt rễ nổi. Cho nên phải làm như vậy chớ chẳng phải kỹ thuật xã nghĩa cái mụ nội gì! Đội 11 triển khai đội hình, tức là dàn hàng một vòng quanh ngọn đồi trọc, vì trước đó tù hình sự đã phát xong lùm bụi rồi, bắt đầu cuốc dần lên đỉnh. Sức tôi lúc đó cầm cuốc còn không vững, lại thêm trời lạnh như cắt, tay chưn run lập cập, dẫu cho có dùng hết “tinh thần cách miệng tiến công”, ra sức cố cù lừ cuốc xuống thì chỉ thấy sỏi đá văng tứ tung mà lưỡi cuốc không ăn xuống được bao nhiêu! Tên cai tù trẻ nhìn tôi, lắc đầu ngán ngẩm, bèn bảo tôi chạy đi gom chà, đốt một đống lửa to cho nó ngồi sưởi ấm. Nghỉ giữa buổi, chúng cho phép anh em xúm quanh đống lửa, sưởi ấm một lúc. Nhìn anh em mặt mày tái xanh, tái xám, ngồi ủ rủ giống như một lũ u hồn, oan khuất. Lại thêm gió giật từng cơn, đã lạnh càng thêm giá buốt, tôi cám cảnh sanh tình, đặt tên cho ngọn đồi đó là “Đỉnh Gió Hú” cho nó văn chương, thơ mộng. Chiều xuống, sương mù giăng mắc, gió rét căm căm, bọn tù lầm lủi bước. Về đến trại, trời đã tối mịt mùng. Nuốt vội một chén đá duy nhất củ mì băm mà nơi đây gọi là “sắn dui” là cai tù đã lùa vào phòng giam, khóa lại. Ai nấy lật đật giăng mùng. Bao nhiêu mền chiếu đều đem ra quấn vào người. Riêng tôi, lấy hết mền chiếu trải phía dưới, quấn quanh người tấm nệm mỏng của trại tù, ngồi dựa vách run rẩy, chống lạnh cho đến khi mệt mỏi, thiếp đi. Phòng giam chật hẹp, chứa 50 nhân mạng mà lúc nầy vắng lặng như nhà mồ vì không ai đủ sức cựa quậy, đi lại. Thuở nhỏ, ở Miền Nam ấm áp quanh năm nên nghe ông già, bà cả ví von “lạnh thấu xương, lạnh nứt da, nứt thịt hoặc lạnh trong xương lạnh ra” đều không hiểu nổi. Lúc này tuổi ngoài 40 mới hiểu được thế nào là cái lạnh trên núi rừng Việt Bắc.

Cho nên một buổi sáng tàn Đông, nhằm ngày Chúa Nhật, cai tù mở cửa trễ. Đang ngồi thiêm thiếp, bất đồ anh bạn nằm bên cạnh mở tung cửa sổ ra. Ngoài song cửa hoa rừng nở rộ một màu trắng xóa khắp núi đồi, báo hiệu mùa Xuân đến. Chỉ trong một thoáng, tôi cảm thấy trong lòng bừng nở một sức sống mới: Sự HỒI SINH của Mùa Xuân. Cho nên sau nầy, khi đọc Thiền Luận của Suziki, dẫn bài “Hài cú” của một thi sĩ Nhật Bản, nhìn một đóa hoa đơn côi bên vệ đường, cảm tác nên, để dẩn giải về nguyên lý “Chẳng phải một, chẳng phải hai” của Thiền Đạo, tôi cảm nhận được liền. Cũng tương tự, khi đọc bài Xuân Thiền cuả Trúc Lâm Trần Nhân Tôn:

Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không
Xuân về hoa nở, rộn trong lòng
Đến nay hiểu được điều không sắc
Xuân đến, giường Thiền, ngắm rụng hồng

Hoặc giả hai câu trứ danh:

Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước, MỘT CÀNH MAI

Tết năm đó, trên núi rừng Hoàng Liên, chúng tôi có một điều vui nhỏ, mỗi người được một cặp bánh chưng nhân đậu, có một lát thịt mở đàng hoàng, tuy nhỏ và mỏng. Đáng ghi nhớ là một sự kiện chấn động: Đó là tin hai người tù cải tạo Miền Nam toan vượt ngục, bị bắt lại. Ngày mồng ba tết năm đó, toàn phân trại K1 tập hợp tại Hội trường để nghe viên Chúa ngục xỉ mắng và đe dọa về vụ nầy. Về sau, biết được hai người anh em dũng cảm nầy là: Thiếu Tá TQLC Tôn Thất Thiện Nhơn và một Trung Tá HQ dường như tên là Phát.

Đó là cái Tết đầu tiên trên đầu phía Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn. Về sau, khi từ phòng kỷ luật ra, anh Nhơn được bố trí về Đội 11 chẻ tăm mành của chúng tôi. Lúc nầy đã sang Hè, trời nóng như thiêu, như đốt. Cột kèo bằng tre nứa, giữa trưa nổ đom đóp.Trong một buổi họp đội do tên quản giáo chủ trì, anh T3 Nhơn liền cho nổ bom, long trời, lở đất, chấn động cả toàn trại. Chẳng là vừa khi khai họp, một tên “ăng ten” hèn nhát đứng lên tố cáo, “Nhờ ơn Bác đảng nuôi cho ăn học, nhà cao, cửa rộng, áo quần lành lặn, mà có người còn phát ngôn phản động… “. Tên nầy chưa kịp chỉ danh ai thì anh T3 Nhơn đã hùng hổ đứng vụt lên, bất kể cai tù dọa nạt, hô lớn như vầy: ” Đồ bợ đít, ngồi xuống. Tao chẳng những không biết ơn mà tao thù, tao oán. Bởi vì bác đảng mà thân tao tù tội, gia đình tan nát, đói khát, rách rưới tả tơi. Còn nhà cao, cửa rộng hả? Coi kìa! cái phòng giam chật hẹp, nóng như thiêu đó giống như Hỏa ngục A tỳ. Đồ bợ đít hỗn xược! Câm miệng, không thôi tao dọng vỡ mồm”. Trước tình cảnh lỡ khóc, lỡ cười, tên cai ngục bèn đứng dậy … dong thẳng một lèo … vì không có võ trang bảo vệ.

Mùa Xuân năm Kỷ Mùi 78 kế tiếp là một cái Tết buồn. Đêm 29 Tết, bác Hồ Đắc Trung cựu Dân Biểu và Tỉnh Trưởng Tây Ninh bị đau ruột trầm trọng. Trại chở đi Bệnh Viện Lào Cai cấp cứu, mãi không thấy về, không biết thân xác vùi dập nơi đâu! Đó là cái chết đầu tiên của người tù cải tạo Miền Nam trên núi rừng Hoàng Liên. Lại thêm năm đó, trại cạn láng rồi nên mỗi thằng tù chỉ được phát cho một cặp bánh chưng mỏng lét, ruột toàn khoai lang. Đến nổi bọn cai ngục mắc cở, chống chế, “Thôi mấy anh ăn đỡ cái Tết xoàng ở đây để năm tới về nhà ăn Tết vui hơn”.

Mà quả có thế thật, vì cuối tháng sáu năm đó, toàn trại, trừ hình sự và các anh Biệt Kích Miền Nam bị giam cầm ở đây từ trước, được lịnh chuẩn bị di chuyển. Có điều … KHÔNG phải về NAM mà là về Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, về phía hữu ngạn sông Hồng. Trại nầy nổi danh là “MỒ CHÔN TÙ CẢI TẠO MIỀN NAM”! Vốn nó là trại cải tạo địa phương cải sang. Nhà cửa lụp xụp, lợp toàn bằng lá cói, lương thực dự trữ không có. Cho nên chỉ sau đó một tháng, xãy ra trận “dịch chết đói” mà họ gọi văn hoa là “suy dinh dưởng”. Có trên một trăm anh em tù cải tạo Miền Nam, rải rác khắp 5 phân trại, nhất là phân trại K1, K2, ngã gục, vùi thây khắp các đồi trồng khoai mì.

Mùa Xuân năm Canh Thân 79, vì suốt năm dài không nhận được chút ít tiếp tế nào của gia đình từ trong Nam gởi ra, nên sức dự trữ trong cơ thể cạn rồi, ai nấy đều phờ phạc, lửng lơ như xác chết chưa chôn. Tuy nhiên, tôi có một kỷ niệm cuối cùng với Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Bình Dương. Tết năm đó, họ để cho tù đi lại các khu, thăm hỏi nhau. Khu tôi ở cách khu ĐT Của chỉ một bức tường cao. Tôi qua đó tìm thăm Ông. Thấy tôi, ông bước lại bá cổ, mừng rở. Tôi dang ra nhìn Ông đùa, “Coi bộ còn khá lắm”. Ông vừa chửi thề, vừa kéo lưng quần ra, “Coi nè, lưng quần tao hụt cả tấc vầy! Được, được cái nỗi gì!” Lúc nầy quả thật Ông Tỉnh Trưởng đã ốm yếu quá rồi. Tôi chỉ đùa cho Ông vui vậy thôi. Mùa Đông năm ấy, Ông bị phổi có nước. Mặc dầu anh em ở Bệnh xá, cũng là tù cải tạo, tận tình giúp đở, nhưng mà Ông yếu quá, quỵ xuống vĩnh viển.

Ngày chôn Ông, tôi đang cuốc đất bên vệ đường. Chống cuốc, đứng nhìn anh em đội Cải Lương quảy chiếc hòm dã chiến, đầu cao đầu thấp, lắt lẻo bước đi, trông thật thảm thương. Đàng sau chiếc hòm đong đưa đó, không có một ai thương khóc tiễn đưa. Tôi đứng đó, thầm khóc tiễn Ông mà cũng khóc cho thân phận khốn khổ của chính mình. Nói rằng khóc thầm là bởi vì, nếu chảy nước mắt mà bọn cai tù hay ăng ten nhìn thấy thì vừa bị chửi, vừa bị làm kiểm điểm về tội “không yên tâm cải tạo”.

Hồi đó, mùa Đông năm nào hay nói cho đúng là bắt đầu từ đầu tháng 9 tức là mới đầu Thu là tôi bắt đầu ôm bụng, rên rỉ cho đến hết Đông qua Xuân. Cho nên kể từ khi ĐT Của thượng đồi chè, tức là chôn bên cạnh đồi trồng trà, anh em thường kháo nhau, “không biết mùa Đông năm nay Phó Nhơn có qua khỏi không hay là lên đồi chè làm Phó cho Ông Của?”. Tôi nghe thấy được, liền dẫy ra, “Ổng có kêu thì kêu thằng Vinh đó! Nó là Phó của ổng chớ can hệ gì tới tao.”

Tuy nói đùa như vậy mà suýt tí nữa thì tôi đã theo Ông Của thật. Giữa tháng 12 năm 80, tôi đau một trận, thập tử, nhất sinh. Không phải ví von mà thật sự là như vậy. Đêm đó, khoảng 10 giờ, tôi bắt đầu lên cơn đau. Đến nửa đêm, chịu không nổi, la hét dữ dội, kêu lính gác, đòi cho đi Bệnh xá. Tên nầy lém lỉnh, dở trò hoãn binh, bảo chờ đi kêu cai ngục mở khóa cửa. Tôi chỉ biết lăn lộn, rít lên từng cơn. Gần sáng, tôi chịu hết nổi, làm liều, bước lại cửa sổ, thò tay qua song sắt, kêu toáng lên, xin cho một mủi Atropine. Thằng lính gác có biết trô pin, trô péc cái gì, nạt lại bảo chờ một chốc là mở khóa. Tới sáng, lả người nên khi cửa phòng giam được mở, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy anh Mai, Đội phó Đội Rau Xanh, quấn mền, bồng đi. Đến Bệnh Xá, anh vừa đặt xuống là tôi bất tỉnh nhân sự. Từ đó về sau, tôi không biết gì nữa.Tỉnh lại thì đã nửa đêm, lại bắt đầu rên rỉ. Anh Lang cũng là tù cải tạo, được cử làm y tá trực Bệnh Xá, nghe thấy, bước lại nhỏ nhẹ bảo, “Cả Bệnh Xá chắt chiu mãi mới có được 5 ống Atropine. Từ sáng đến giờ, thấy anh đau đớn quá, không cầm lòng được, đã chích cho anh hết rồi. Bây giờ, dẫu còn thuốc cũng không dám chích cho anh nũa. Thôi, ráng ẩn nhẫn cho qua cơn.” Tôi dật dờ, khi tỉnh, khi mê như vậy trải qua 4 ngày, đêm. Sáng ngày thứ năm, thấy tôi có vẽ tỉnh táo, anh Lang cầm một ống thuốc đưa ra trước mặt tôi, không rõ là thứ thuốc gì, miệng nói, “Thuốc nầy khá mạnh, anh liệu sức kham nổi không, tôi chích cho.” Tôi cùng đường rồi, đánh liều, đưa tay ra. Quả nhiên, mủi kim chích chưa kịp rút ra, tôi cảm thấy như có ai cầm búa tạ đập mạnh vào ngực. Vừa tức thở, vừa nghe khí huyết nhộn nhạo, dâng lên, dâng lên. Sức sống từ mười đầu ngón tay, ngón chân thoát ra khỏi thân thể. Tôi kêu lên, “Anh Lang ơi! Tôi mệt quá!” mà nghe văng vẳng như tiếng của ai đó chớ không phải tiếng của mình. Tôi mơ hồ nghe thấy anh bảo, “Nằm xuống, nằm xuống.” Nếu tôi nghe lời anh, nằm xuống, có lẽ đã đi luôn rồi! May sao, tôi chỉ chống hai tay ra sau cho vững, nủa nằm, nửa ngồi, cố ngáp ngáp thở. Đợt thứ nhứt vừa hạ xuống, đợt nhộn nhạo thứ hai lại bùng lên. Có điều lạ lùng là lúc nầy tôi không cảm thấy đau đớn gì. Trí óc vẫn sáng suốt. Nhìn ra bên ngoài, buổi sáng mùa Đông mà lại có ánh nắng vàng le lói. Đồi núi dường như nhảy múa, khi gần khi xa. Tôi thầm than, “Cả đời không làm gì ác, sao đành phải vùi thây nơi rừng núi xứ lạ, quê người?” Rồi cố gắng hít thở. Bỗng nhiên, tất cả đều lắng xuống, thân tâm cảm thấy êm ả lạ thường. Đến nỗi khi về lại giường, nằm xuống đi vào giấc ngủ cô miên, êm đềm như chưa từng thấy.

Hồi đó, tôi chưa đọc Kinh Phật nên không lý giải được hiện tượng kể trên. Về sau, trong những năm cày cuốc trên Khu Kinh Tế Mới Bảo Lộc, tôi lần mò đọc Kinh Luận mới vỡ lẽ. Nếu hồi đó tôi hiểu được lẽ “Tùy Thuận Duyên Giác”, yên lặng nằm xuống, có lẽ đã dứt nghiệp từ khi ấy. Nhưng vì không hiểu biết, tôi lại cưỡng cầu, lại còn dấy lên “một niệm” oan khuất nên lại tái sinh. Nói cho rõ thì như vầy: Đạo Phật giải thích về Nghiệp bằng hình ảnh một mủi tên, ví như thân mạng. Nghiệp lực là sức mạnh phóng mủi tên thân mạng lao đi. Nghiệp dứt, mủi tên hết đà rơi xuống, thân mạng cũng dứt theo. Lúc đó, tôi đâu hiểu lý nầy nên mới cưỡng cầu, dấy lên một niệm oan khuất, tạo ra một Nghiệp Lực mới, đẩy mủi tên thân mạng tiếp tục duyên nghiệp mới.

Trên đây là những MÙA XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN, bởi vì nói là Tân Lập, Vĩnh Phú, kỳ thật nơi đó vẫn là một thung lũng hẹp nằm giữa rặng Hoàng Liên trên Đất Bắc

Xuân năm nay là bắt đầu năm thứ năm, sống trên đất Mỹ. Bốn Mùa Xuân qua đều không cảm thấy gì là Tết. Hội Tết ở đây, dẫu cho tổ chức khéo léo cách mấy cũng không thể tạo nên “không khí” của Ngày Tết nơi Quê Nhà. Con lân múa trong Hội Chợ Mỹ không thể nào sinh động như con cù giỡn pháo trên đường phố quê tôi. Con cù râu bạc đó làm thế nào sánh được với con cù râu bạc của Hội Chùa Bà, xứ THỦ, Bình Dương.

Tìm đâu thấy cành mai vàng rực rở của Ngày Tết ở Quê Nhà!? Tìm đâu thấy cảnh trẻ em mặc quần áo Tết sặc sỡ, vui đùa trên hè phố, thỉnh thoảng đốt trái pháo chuột nổ tì tạch!? Cho nên ngày Tết, cứ nằm nhà, ngâm Kiều, giải khuây:

Ngày Xuân con én đưa thoi
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Hoặc giả, xót thân 15 năm lưu lạc phong trần thì ngâm Kiều vịnh:

Tấm lòng nhi nữ thương mà trách
Chẳng trách chi Nàng, trách Hóa công

Nguyễn Nhơn (ĐS 6)
Cuối Đông 1994

 

 

Mùa Xuân Rực Lửa

Để tưởng niệm quân dân cán chính đã bỏ mình khi  di tản khỏi mặt trận Xuân Lộc cùng Sư Đoàn 18 BB (đêm 20-4-1075 ), sau 12 ngày bị vây hãm. 

Đinh Bá Tâm

Hàng năm vào đầu Xuân, người Việt tỵ nạn Cộng Sản vùng Little Sài gòn, thành phố Westminster, lại tưng bừng tổ chức các buổi Hội chợ Tết –  với tiếng pháo đì đùng rộn rã, với chợ hoa muôn hồng nghìn tía, với những Đại hội tân niên của các hội Ái hữu, hội Đồng hương… Gặp nhau trong những ngày hội ấy, người Việt tỵ nạn có dịp ôn lại những kỷ niệm xưa, ai còn ai mất; nhớ lại mùa xuân xưa, mùa xuân cuối cùng của Miền Nam nước Việt    tự do no ấm. Để rồi sau đó là đói khổ, là đày dọa hận thù… khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi.

Đối với Tân – đã trải qua một mùa xuân rực lửa trên chiến tuyến Xuân Lộc trong suốt mười hai ngày đêm, mùa xuân 1975 đã để lại một dấu ấn sâu đậm mỗi khi xuân về trên miền đất Tự do ở hải ngoại. Anh nhớ lại mùa xuân đó trong nỗi ám ảnh kinh hoàng, những nuối tiếc khôn nguôi, chen lẫn niềm kính phục đối với những quân cán chính đã dựng một bức tường hy sinh vô bờ bến để ngăn cơn hồng thủy bạo tàn Cộng Sản!  Họ đã tham dự một trận đánh lịch sử cuối cùng trước khi Miền Nam bị sụp đổ vào 30 tháng 4 mùa xuân năm ấy!

Hơn bốn mươi năm sau, anh gặp lại những con người dũng cảm đã thoát khỏi bàn tay tử thần trong đêm rút lui 20 tháng tư năm 1975, vào buổi họp mặt mừng xuân tại một nhà hàng lớn vùng Little Sài gòn. Khi anh bước vào hội trường, đã thấy đông đảo những bạn đồng liêu từng làm việc cơ quan chính quyền tại tỉnh, tại các quận thuộc tỉnh Long Khánh; các cựu sĩ quan tiểu khu, chi khu Xuân Lộc; các cựu sĩ quan thuộc Sư đoàn 18 ngày xưa. Ngoài ra, anh cũng thấy nhiều khuôn mặt quen thân của các đồng hương hai quận Xuân Lộc, Định quán, nơi anh đã từng phục vụ hơn năm năm ở đó.

Anh đến ngồi cùng bàn với người cựu sĩ quan từng làm việc tại toà Hành chánh tỉnh, đại úy Mai. Chưa đến giờ khai mạc, nhưng hội trường đã đông nghẹt, xôn xao tiếng cười nói, tiếng chào hỏi; rộn ràng những bàn tay nắm chặt, những khuôn mặt tươi vui của các chiến hữu đã từng sống chết bên nhau trên chiến trường đẫm máu Xuân Lộc năm xưa… Cạnh sân khấu, một đám người đang vây quanh một người đàn ông cao niên, dáng cương nghị, đầu ngẩn cao, đôi mắt rực sáng sau cặp kính trắng. Anh quay sang hỏi đại úy Mai :

-Vị nào đang đứng nói chuyện kìa, trông quen quá, ông biết không?

Người bạn đồng nghiệp cũ-cũng là bạn tù thân thiết trong những năm gian khổ trong trại tù “cải tạo” Thanh Hoá – nhìn anh ngạc nhiên:

-Tướng Lê Minh Đảo đó, ông không nhớ sao?

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, chỉ huy mặt trận Xuân Lộc

Anh ngắm nhìn vị cựu tướng lãnh nổi danh đã chỉ huy Sư đoàn 18 cùng các đơn vị địa phương và tăng phái, chống trả mãnh liệt ba sư đoàn VC trong suốt gần nửa tháng trời.  Để rồi sau đó tuân lệnh cấp trên, ông đã chỉ huy một cuộc rút lui chiến thuật đúng theo kế hoạch, với hàng ngũ trật tự, bao gồm cả quân, dân, cán, chính Xuân lộc, tỉnh Long khánh . Trong 17 năm bị giam cầm tại các trại tù đất Bắc, ông luôn hướng về Miền Nam, nhớ người Mẹ đang ngóng chờ mà thời gian dài vẫn “cứ trôi qua cho bạc mái đầu”, nhớ mãi lời Mẹ nắm tay dặn dò trước ngày từ biệt : “Nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối, và thương yêu, và tự do sẽ còn mãi nhé con!” Đó là lời ca trong nhạc phẩm hùng tráng, thiết tha và cảm động “Nhớ Mẹ” do Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Đỗ Trọng Huề đồng soạn trong thời gian bị biệt giam trong khu F ở trại tù  Hà Tây Miền Bắc.

Khi Tân và Mai trở lại bàn mình, người cựu đại úy giới thiệu một nữ đồng hương đang ngồi nhìn anh, hỏi:

 -Đây là cô Linh, nữ sinh trường trung học Long Khánh năm xưa …

Cô gái mỉm cười mau mắn chào Tân:

-Ông còn nhớ em không? Chắc ông quên ? Ông chỉ gặp em một hai lần hồi còn nhỏ.   Hơn bốn mươi năm rồi, còn gì!

Tân hỏi lại cô gái:

-Về phần cô, còn nhớ tôi không?

Cô gái mỉm cười hóm hỉnh:

-Dạ nhớ chứ! Em còn nhớ cả biệt anh của ông nữa kìa! Để em nói nhỏ cho ông nghe…

Cô đứng lên, tự nhiên và bạo dạn, ghé vào tai anh:

-Hồi đó người ta lén gọi ông là “Ông Phó sợ lạnh” ! Chắc ông không biết đâu!

Tân nhìn cô gái hỏi:

-Quả thật tôi không biết…Nhưng vì sao tôi có biệt danh đó?

Người thiếu phụ trẻ nhíu mày như để nhớ về quá khứ:

– Em nhớ hình như tối hôm đó ông tới nhà thăm ba mẹ em. Anh tài xế lái xe quận nhờ em nấu một nồi nước nóng để ông tắm. Anh ta nói là ông sợ lạnh nên không thể tắm nước lạnh được…

Cô nhìn Tân thắc mắc:

-Em vẫn không hiểu: vì sao trong cảnh chiến tranh nóng bỏng như thế mà ông lại sợ lạnh?

Tân cười nói đùa:

-Có lẽ lúc đó tôi “lạnh cẳng “ vì sợ chết đó cô ạ!

Những kỷ niệm xưa qua mẩu chuyện nho nhỏ về tình thân thiết giữa người dân với viên chức chính quyền vào thời điểm chiến tranh đang rực lửa…khiến anh không làm sao quên được cuộc chiến tại Xuân lộc, mùa Xuân  năm 1975.

                                                                                            *   *    *

Quận Xuân Lộc là nhiệm sở thứ ba của Tân trong bảy năm công vụ của một  đời công chức ngắn ngủi, sau hai quận Lộc Ninh và Định Quán. Trước cuộc chiến tháng 4 năm 1975, trong ba năm phục vụ tại đây, quận Xuân Lộc đã cho anh cảm giác êm đềm, yên ổn của một thị trấn, dù bé nhỏ nhưng có nếp sống  không khác biệt với đô thành Sài gòn là bao! Về mặt quân sự, Xuân Lộc là vị trí chiến lược quan trọng, vì đó là ngã ba của hai quốc lộ 1 và 19 giao nhau. Đây cũng là cửa ngõ của thủ đô Sàigòn từ Miền Trung vào, qua ngã ba Dầu Giây. Ngoài ra, Xuân Lộc cũng nằm trên đường giao liên của địch, giữa chiến khu C và D, với mật khu Mây Tào, Xuyên Mộc của Phước Tuy. Do đó, về mặt chiến lược, mặt trận Xuân Lộc có thể ví như một Điện Biên Phủ thứ hai ở thời điểm 1975.

Tình hình an ninh tại Xuân Lộc bắt đầu căng thẳng sau khi Định Quán thất thủ ngày 17-3-1975. Thế rồi vào lúc 5 giờ sáng ngày 9-4, khi một ngày mới bắt đầu, dân chúng dọn hàng ra chợ, các tín đồ Thiên Chúa Giáo đi lễ sớm tại các nhà thờ,  bất thình lình VC nã hàng ngàn quả pháo đủ loại vào thành phố, đa số rớt vào chợ, nhà thờ và nhà cửa của dân chúng. Trận pháo kích kéo dài trong 2 tiếng đồng hồ với hơn 300 trái đạn rót xuống liên tục không ngớt.

Sau bốn ngày chịu đựng cuộc chiến ác liệt, dân chúng tại thị xã Xuân Lộc bắt đầu thiếu thốn lương thực. Vô số đồng bào từ các xã quanh thị trấn chạy về tỵ nạn tại ấp Tân Phong , gần chi khu Xuân Lộc. Nhận được công điện kêu cứu của Quận, một phái đoàn đại diện Hội đồng Tỉnh đến tiếp tế thực phẩm cho đồng bào chiến nạn. Sau đó Bộ Xã Hội cung cấp thêm hai tấn gạo và lương khô. Để thực hiện việc cấp phát, Phó quận đã huy động các Trưởng chi, cán bộ Xây dựng nông thôn  tại Quận tham gia công tác. Anh cho tháo mui chiếc xe Jeep của quận để dễ dàng chở gạo. Đồng thời lập thủ tục cấp phát lưu động nhanh chóng cho đồng bào chiến nạn ngay tại xe.  Việc cấp phát  thực hiện chưa đến một tiếng đồng hồ lại bị địch pháo kích, cán bộ lẫn dân chúng bị thương, toán cấp phát lại di chuyển đến địa điểm mới…

Trong đoàn người xếp hàng chờ lãnh khẩu phần lương thực hôm ấy, anh nhận thấy nhiều khuôn mặt thân quen: các sĩ quan hồi hưu đã  từng phục vụ tại tiểu khu Long khánh;  các thầy giáo, cô giáo , các học sinh, trong đó một cô nữ  sinh lớp 12 trường trung học Long khánh mà anh đã gặp trong lần đến chơi nhà một người quen. Cô nữ sinh tên Linh ấy có dáng mảnh mai- có lẽ do thiếu thốn lương thực trong mấy ngày qua-  vẫn  nhí nhảnh, vui tươi. Sau khi lãnh phần gạo trợ cấp cho gia đình, cô tình nguyện phụ gíúp việc cấp phát gạo, mặc dù cô cũng biết đây là công tác khá nguy hiểm, bị lãnh đạn pháo kích của địch một cách dễ dàng!

Chiều hôm ấy, sau khi tạm xong công tác,  cô Linh ngỏ lời mời “ông Phó ghé qua nhà em uống nước nghỉ mệt …”.  Anh nhận lời và theo cô gái  về nhà tại ấp Tân phong gần đó. Anh muốn đến nhà để cám ơn gia đình cô đã có người con gái gan dạ và có tinh thần thiện nguyện hăng say như vậy! Người nhà của cô mời anh ở lại dùng “bữa cơm đạm bạc”, nhưng anh từ chối vì trời sắp tối, trên đường về Chi khu sẽ gặp nguy hiểm. Anh chỉ xin được tắm cho khoẻ người trước khi trở về. Anh nói nhỏ với người tài xế quận rằng, anh cảm thấy muốn bịnh, nên nhờ người nhà cô gái nấu cho một nồi nước sôi để tắm! Không biết người lái xe trẻ tuổi, có phải muốn có “câu chuyện làm quà” nên đã nói điều gì với người nữ sinh xinh đẹp ấy hay không , mà bốn mươi năm sau, cô vẫn còn nhớ biệt danh “ông Phó sợ lạnh”?

                                                                                        *   *   *

Một tuần sau ngày chiến cuộc bùng nổ, phái đoàn báo chí Việt nam và ngoại quốc đến thăm chiến trường Xuâ Lộc. Sau phần thuyết trình của các giới chức quân sự và hành chánh tỉnh Long Khánh, Phó quận được giao nhiệm vụ hướng dẫn phái đoàn thăm viếng thị xã. Họ đã chứng kiến cảnh nhà thờ Xuân Lộc bị pháo kích, nhà cửa dân chúng bị sập đổ, chợ búa bị thiêu rụi do địch quân nã trọng pháo bừa bãi vào khu dân cư. Họ cũng được nghe trình bày về dự án tái thiết thị trấn Xuân Lộc sau khi địch quân bị đẩy lui khỏi thành phố và các xã chung quanh.  Tuy nhiên, hôm ấy các ký giả trong phái đoàn tỏ ra không tin tưởng vào báo cáo của thuyết trình viên. Cuối buổi họp, một nhà báo Việt nam đến tâm sự với Phó quận, giọng nghiêm trọng:

– Tôi đã theo chân các đơn vị quân ta rút lui từ Miền Trung về… Sàigòn sắp mất đến nơi rồi ông ạ! Ông cứ tin tôi đi… Khi nào thấy các đơn vị sửa soạn lên đường, các quân xa lắp “rờ mọoc” kéo đi thì ông hãy nhanh chân theo họ, kẻo trễ…

Phái đoàn báo chí lên trực thăng rời Xuân Lộc, rời chiến trường đang nghi ngút khói lửa, giữa tiếng ì ầm của đại pháo, của xe tăng đang giao chiến nhau, giữa âm thanh cuồng nộ của bom đạn …Tất cả đã để lại trong lòng anh bao phân vân lo lắng, bao thắc mắc ưu phiền. Tất cả xoay quanh ý tưởng: “Đi hay Ở ” ?! Anh tự hỏi lòng: mình có thể viện cớ xin đi công tác ở Sài gòn, bỏ mặc người dân tỵ nạn Xuân Lộc, bỏ mặc phẩm vật trong kho không ai chỉ huy công tác cứu trợ  mà ra khỏi nơi đây để bảo toàn sinh mạng chăng?  Tuy nhiên tinh thần trách nhiệm, niềm tự hào của một Cán bộ Hành chánh có cho phép mình trốn chạy khỏi chiến trường như một kẻ “đào ngũ trong thời chiến” hay không?…

Ngày hôm sau,  khi  ra sân bay dã chiến tại Tân Phong  để gởi  người bà con bị bệnh, theo chuyến trực thăng tải thương về Sàigòn, anh thấy rất nhiều thương binh, tử sĩ được đưa vội vã lên trực thăng, máu tươi loang đầy sàn máy bay! Anh tự nhủ: Những chiến binh hào hùng này có bao giờ cân nhắc, lựa chọn giữa  “chiến đấu hay trốn chạy khỏi chiến trường” không?  Anh lên xe trở về văn phòng Quận, với quyết tâm: phải ở lại chiến trường Xuân Lộc!

                                                                                               *  *  *

Thế rồi lệnh rút bỏ Xuân Lộc bất ngờ được thông báo trong cuộc họp tại Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 18 vào trưa 20-4-1975, trong khi các đơn vị tại mặt trận Xuân Lộc vẫn còn giữ vững vị trí chiến đấu. Khi phê bình cuộc rút lui khỏi Xuân Lộc, sử gia John Bowman đã viết trong “The World Almanac – Vietnam War” như sau:  “Cuộc rút lui chiến thuật bỏ ngõ Xuân Lộc cho VC vào chiếm thị trấn  ngày 20-4-1975 đã  khởi đầu cho việc thất thủ Saigon và Miền Nam Việt nam…”

Cuộc rút lui bắt đầu từ chiều ngày 20-4, khi trời vừa tối.  Tất cả các lực lượng tại đây, theo thứ tự di chuyển theo Liên tỉnh lộ 2, phát xuất từ Tân Phong, Long Giao, băng qua mật khu Bình Giã của VC,  đến Đức Thành, Long Lễ, Bà Rịa , với 3 cánh quân của Sư đoàn 18 BB, Tiểu khu Long Khánh và ĐPQ, Lữ đoàn 1 Dù và Tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Sau đó là các đơn vị hành chánh Tỉnh, Quận; Cảnh Sát sát Tỉnh , Quận….

Theo đúng chương trình, đến 12 giờ đêm Tiểu khu Long Khánh và Chi khu Xuân Lộc mới bắt đầu di chuyển. Thiếu tá Quận trưởng, Phó quận cùng các Sỹ quan Chi khu, các Trưởng Chi Quận Xuân Lộc di chuyển trên hai xe với vũ khí cá nhân … Đoàn xe vừa ra khỏi cổng đã nghe tiếng B40 bắn vào Chi khu ào ạt,.. Trên Liên Tỉnh lộ 2, đồng bào lũ lượt gồng gánh, bế bồng nhau, theo chân đoàn quân cán chính di tản. Cả một quanh cảnh bi hùng diễn ra trong đêm tối. Một dòng quân xa, chen lẫn bộ binh, dân chúng …đã lặng lẽ âm thầm đi dưới ánh sao đêm! Không một ánh đèn, không một đóm lửa thuốc lá, không một tiếng động ồn ào hỗn loạn! Trong quanh cảnh âm u quạnh quẽ đó, chỉ nghe tiếng rì rầm của quân xa, tiếng cót két của xe tăng M48 hộ tống đoàn di tản.

Thỉnh thoảng chỉ thấy ánh lửa pháo kích của địch theo sát đoàn di tản… Trung tá Lê Quang Định, Tiểu khu phó Tiểu khu Long Khánh đã bị tử thương vì đạn B40 của Cộng quân. Đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng bị địch bắt sống… Tại nhiều khúc quanh ở Cẩm Mỹ, người bộ hành di tản lạc lối, rơi xuống hố bên đường…Người tài xế xe Quận, một Nghĩa quân biệt phái, vừa căng mắt lái xe trong đêm tối, vừa lẩm nhẩm cầu nguyện…

Đoàn di tản đến ranh giới tỉnh Phước Tuy lúc trời hừng sáng. Vừa thấy lá cờ vàng phất phới trên nóc đồn Nghĩa quân Bà Rịa, mọi người đều vui mừng đến tuôn tràn nước mắt!  Những chiếc nón sắt tung lên trời, những tiếng reo hò mừng vui vang lên trong buổi sớm của vùng đất an toàn, sau một đêm dài căng thẳng , đầy mùi tử khí!

Tân về đến Sài gòn vào buổi chiều hôm ấy. Vợ và các con ôm chầm lấy anh, mừng mừng tủi tủi. Mẹ anh nhẹ nhàng trách mắng:

– Sao bây giờ con mới về? Vợ con ngày nào cũng dò hỏi tin tức, lên tận căn cứ quân sự Long Bình để tìm con! Con muốn làm anh hùng hay sao mà còn ở lại?  May mà Trời Phật thương cho con an lành trở về đó con ạ!…

Anh cúi đầu thưa với Mẹ: con chẳng muốn làm anh hùng ! Nhưng làm sao con rời bỏ đồng bào chiến nạn để chạy lấy  một mình? Vì họ cần có con…

                                                                                      *   *   *

Đã bốn mươi năm trôi qua, kể từ đêm di tản khỏi Xuân Lộc, dòng đời vẫn lạnh lùng trôi như nước chảy dưới cầu. Nhưng trải qua bao tang thương biến đổi cuộc đời, Tân vẫn không quên được trận đánh hào hùng tại mặt trận Xuân Lộc năm xưa. Đó là trận đánh cuối cùng, kết thúc một trang sử oanh liệt của Miền Nam nước Việt.

Đêm nay Tân viết những dòng hồi ức này, đã bốn mươi ba năm trôi qua, sau ngày Quân đội VNCH rút khỏi mặt trận Xuân Lộc, dẫn đến sự sụp đổ Miền Nam nước Việt, khiến chúng ta phải đi tỵ nạn ở một đất nước xa xôi bên kia Thái Bình Dương.  Nơi đây không còn bom rơi đạn nổ, không còn đấu tố hận thù, không còn ngục tù đày đọa!

Hằng năm đến ngày 4 tháng 7, người dân Mỹ đốt pháo bông ăn mừng Lễ Độc Lập của đất nước Hoa kỳ, kỷ niệm ngày họ đã đứng lên dành chính quyền từ tay người Anh, xây dựng một Hợp chủng quốc đầy Tự Do, Nhân Ái và Hùng Cường…Cứ mỗi khi nhìn những chùm pháo bông rực sáng trên bầu trời miền đất Tự do này, Tân lại liên tưởng đến ánh hỏa châu chập chờn, le lói trên đường di tản khỏi mặt trận Xuân Lộc năm xưa. Anh như còn thấy lại lá cờ vàng lẻ loi phất phới trong đêm tối,  trên chiến trường Xuân Lộc còn bốc khói,  như buồn bã chia ly, như quyến luyến vẫy gọi, khi đoàn di tản rời bỏ nơi ấy. Và sáng hôm sau, 21-4-1975, anh lại thấy lá cờ vàng thân yêu xuất hiện dưới ánh bình minh, trên nóc lô cốt đồn Nghĩa quân ở Bà Rịa,  khi đoàn quân dân cán chính di tản trên Liên tỉnh lộ 2 . Nơi đó họ đã tìm lại Sinh Lộ, sau một đêm dài vượt qua Tử Lộ!

Tam Bách Đinh Bá Tâm (ĐS 12)

Little Saigon 20-4-2018