Thư Ngỏ Gởi Nhân Dân Việt Nam và Nhân Dân Hoa Kỳ: Tôi Không Bao Giờ Quên

Dưới đây là bản dịch sang tiếng Việt của một bức thư ngỏ mà Giáo Sư Sử Học người Mỹ, tên Bill Laurie, PhD, cư ngụ tại tiểu bang Arizona, đã gửi đến cho người bạn Việt Nam của mình ngày 30/10/2016 vừa qua.,

Theo GS Laurie, bức thư ngỏ này đã được đăng trên nhật báo Saigon Post ngày 17/4/1975, một tờ báo Anh ngữ xuất bản ở Saigon trước đây. Tác giả bức thư ngỏ giấu tên, và lý lịch của ông cũng không tìm ra được. Chỉ biết tác giả, theo GS Laurie, là một người đã từng phục vụ nhiều nhiệm kỳ ở Việt Nam.  GS Laurie cũng cho biết thêm là khi bức thư được đăng thì cũng là lúc trận đánh Xuân Lộc trở nên ác liệt và Cộng quân với đạn dược và vũ khí tối tân đang tiến về Saigon.

Ban Biên Tập xin cám ơn GS Laurie; người bạn Việt nhận bức thư; và GS Cao Thị Lễ, người đã sưu tầm và dịch bức thư ngỏ này.

Đó là tháng 8 năm 1966. Lúc ấy tôi là một thanh niên 20 tuổi với đầu óc đầy những lý tưởng học được từ sách vở nhà trường và nhiệt tình yêu nước, khi bước xuống chiếc phi cơ 707 mang tôi từ một nơi an toàn với một cuộc sống thoải mái đến sân bay nóng bức của phi trường Tân Sơn Nhứt, Việt Nam. Khi ấy tôi không ngờ là xứ sở nhỏ bé và dân tộc nầy đã xâm chiếm hồn tôi trong năm sau đó, và sau nầy đã trở thành một phần của tim tôi và cũng là một niềm đau riêng tư của tôi.

            Kể từ ngày ấy và trong rất nhiều năm về sau, tôi vẫn giữ những ký ức về Việt Nam và dân tộc nầy, mà một số ký ức đem lại cho tôi nụ cười và hạnh phúc, và một số khác đem lại cho tôi nước mắt, khổ não và giận dữ. Nhưng ký ức mà tôi trân quý nhứt là một nước Việt Nam của năm 1966, với một dân tộc trầm lặng, bình dị và lễ độ, ký ức của một “Viêt Nam của người Việt Nam” .  Và có cả ký ức về sự hãnh diện của một người Mỹ đã đóng góp vào chính nghĩa “tự do và dân chủ” của đất nước nầy.

            Năm đầu tiên của tôi qua nhanh, và tôi trở về với đời sống dân sự, trở về với cuộc sống an bình. Nhưng tôi cảm thấy có điều gì không đúng. Tôi không cảm thấy thoải mái trên đất nước của tôi nữa. Tôi cứ nhớ đến vẻ đẹp trầm lặng với những đêm ấm áp đầy hương vị của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy nhớ nhà. Tôi tự bảo điều nầy không đúng. Làm sao tôi có thể nhớ nhung một nơi không phải là nhà của tôi? Nhưng cảm nghĩ nầy vẫn không phai đi.

            Vì thế, tôi làm một quyết định sau cùng. Tôi  tái ghi tên vào Quân Đội và trở lại Việt Nam, trở lại đất nước mà tôi biết là tôi đã yêu.  Khi tôi trở lại, thì Việt Nam mà tôi rời chỉ trong vài tháng ngắn ngủi đã không còn nữa.  Tôi nhận thấy là tôi không bao giờ được thấy lại Việt Nam 1966, và điều nầy làm tôi rất buồn phiền.

Con số quân sĩ Mỹ đến càng ngày càng nhiều và sự căng thẳng giữa người Mỹ và người Việt càng ngày càng lan rộng và trầm trọng. Tôi rất buồn khi nhìn thấy tiền bạc của người Mỹ đã làm hư hỏng những ngưòi Việt bình dị và hiền lành, đem lại sự tham lam, và việc nầy làm cho nạn tham nhũng lan tràn. Tôi cảm thấy chua xót và khổ não  khi chứng kiến nước Mỹ đã phá  đi một “nước Việt Nam của người Việt Nam” và xây dựng một ”Việt Nam của người Mỹ”. Một Việt Nam Mỹ hoá chỉ đẹp đối với những kẻ thừa cơ hội chiến tranh làm giàu. Nhưng đối với mọi người khác thì đây là điều nhục nhã. Dân tộc Việt Nam bị hạ thấp vì bị ngưòi Mỹ lấn áp. Họ bị mất đi niềm hãnh diện và cảm thấy thấp kém. Đối với những ngưòi không cảm thấy thấp kém, những ngưòi vẫn còn giữ niềm hãnh diện, thì điều nầy gây ra sự thù ghét và khinh bỉ. Sau khi nước Mỹ đã lấy đi niềm hãnh diện và tự trọng của dân tộc Việt Nam và thay thế bằng sự vô dụng và lệ thuộc vào người Mỹ, khi các lãnh đạo vĩ đại và các chính trị gia của nước tôi tuyên bố là chúng ta phải Việt Nam hóa chiến tranh để nước Mỹ có thể thoát ra khỏi “vũng lầy” Việt Nam.

 Hòa Đàm Paris được khởi sự để Việt Nam có thể được “Hòa Bình trong Danh Dự” với “ Tự Do và Dân Chủ “ cho nhân dân Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng, ngày trọng đại đã tới, “Hiệp Định Hòa Bình Paris” được ký kết. Người Việt một lần nữa hy vọng, sau bao nhiêu năm đầy nước mắt, những khổ đau, sợ hãi, chết chóc và tàn phá do chiến tranh gây ra sẽ chấm dứt. Nhưng tôi không tin điều nầy, dù chỉ trong phút chốc, là chiến tranh sẽ chấm dứt. Những lý tưởng học từ nhà trường, niềm tin tưởng nơi người Mỹ và những điều tốt lành nơi họ đã bị tan vỡ từ lâu, từ việc một người tớ gái bị hãm hiếp đến thảm kịch Mỹ Lai. Tôi biết là đối với Việt Nam và dân tộc Việt, hòa ước không có nghĩa gì, và những hứa hẹn của các nhà ngoại giao uy tín chỉ là rổng tuếch như cây mục. Tôi đã biết là hòa uớc nầy chỉ giúp Mỹ ra khỏi vũng lầy mà họ đã tạo ra mà thôi.

   Tôi chỉ còn lại có một hy vọng, một ước mơ khi người Mỹ và Đồng Minh rời khỏi Việt Nam.  Đó là nước Mỹ sẽ cung cấp cho Việt Nam những khí giời, đạn dược và trang thiết bị, và quý vị, nhân dân Việt Nam, sẽ chữa lành niềm tự hào bị tổn thương, tìm lại được niềm tự trọng và tận lực tranh đấu đến chiến thắng với kẻ xâm lăng man rợ. Uớc mơ và hy vọng nầy đã bắt đầu thành hình.  Các bạn đã tìm lại niềm hãnh diện và tự trọng và tôi đã rất vui. Nhưng mà điều tệ hại đã xảy ra, các lời hứa bị phản bội, các viện trợ không còn đến nữa.  Các bạn vẫn tiếp tục đấu tranh, tử trận hay bị thương vì tổ quốc của mình. Các bạn đã yêu cầu giúp đỡ từ những người đã nói những lời “rổng tuếch”, đã ký vào những ”tờ giấy vô nghĩa“ và đã bỏ rơi các bạn. Một lần nữa các bạn đã cố nén niềm hãnh diện và cầu cứu một cách vô vọng. Vì thế những người Mỹ nhân đạo đã gởi một phái đoàn Đại Biểu Quốc Hội đến đất nước của quý các bạn. Khi đến, họ thấy con cháu của những kẻ giàu cưỡi xe gắn máy với những mái tóc dài và những cặp mắt dại đi vì nha phiến, họ thấy những kẻ làm giàu nhờ chiến tranh lái những chiếc xe ngoại quốc đắt tiền và đến những hộp đêm. Họ tiếp xúc với giới lãnh đạo và các tướng tá của các bạn, sau đó họ cho là họ thấu hiểu tình hình Việt Nam và có cơ sở để cảm thấy lương tâm nhẹ nhàng vì đã phản bội các lời hứa trước kia.

     Và bây giờ, quý vị Dân Biểu “đáng kính” (?), những vị đã được cử đến để tìm hiểu tình hình Việt Nam và đã đưa ra những khuyến cáo trên. Vài vị trong các Dân Biểu vĩ đại nầy đã khuyến cáo ngưng viện trợ cho Việt Nam, vài vị đề nghị chỉ viện trợ thức ăn và thuốc men thôi.  Các vị nầy sẽ thấy lương tâm thoải mái nếu quý vị chết với bụng no thay vì bụng đói.  Một trong các  chuyên viên nhân đạo ấy đã nói như thế nầy: ”Sớm muộn gì Cộng sản cũng chiếm được toàn bộ Việt Nam vì tính bạo dạn (aggressiveness), ý chí và chủ đích của họ hiện giờ đã vượt qua tính bạo dạn, ý chí và chủ đích của dân chúng Miền Nam Việt Nam.

    Có đúng như thế không? Tôi tự hỏi ai đã gán cho quý vị một “chủ đích” rồi lại xây lưng khi sự việc trở nên khó khăn? Ai đã đẩy “chủ đích” của quý vị vào vũng bùn ở Đồng Bằng sông Cửu Long? Ai đã dẩm nát “tính bạo dạn” của quý vị trong bụi đỏ của vùng Cao Nguyên? Ai đã nhận chìm “ý chí” của quý vị trong Biển Nam Trung Hoa ngoài khơi Đà Nẳng? Chúng ta biết ai đã làm thế phải không quý vị? Đúng rồi, chính Phái Đoàn Mỹ đã đến, quan sát và tìm hiểu nhưng họ đã không đi để thấy quý vị đang run rẩy trong cơn mưa lạnh, họ không thấy con cái của quý vị với những cặp mắt sợ sệt, họ không nghe những tiếng rên la của những người đang hấp hối … họ không đi để xem máu chảy từ các vết thương của quý vị, họ không nhìn thấy quý vị với những hơi thở cuối cùng. Họ không chảy nước mắt, không nức nở trước các cảnh nầy. Họ không hề quỳ xuống để cầu nguyện trước những bất hạnh của quý vị. Họ đã trở về những ngôi nhà an bình, đầy đủ tiện nghi của họ ở Hoa Kỳ. Gia đình của họ không bao giờ biết đói là gì. Họ không bao giờ phải ngồi một mình trong đêm khuya để quyết định có nên giết vợ con mình để họ không phải đau đớn vì bị tra tấn khi bị bọn Cộng Sản ác độc bắt được. Họ không bao giờ phải lo sợ những mảnh đạn pháo xé nát gia đình và bạn bè của họ. Các bạn thân mến, tôi e là những khẩn cầu của các bạn sẽ lọt vào những lổ tai điếc. Những lổ tai đã bị bịt kín bởi sự nhẫn tâm và sự thờ ơ, sản phẩm của sự sung túc giàu có. Xin các bạn đừng thèm muốn sự sung túc của người Mỹ vì, như các bạn đã thấy, họ đã bán linh hồn của họ để mua sự sung túc nầy.

    Và như vậy, các bạn thân mến, trong 9 năm qua, tôi đã từng gắn bó với các bạn.Tôi đã thương mến các bạn và đôi khi ghét các bạn. Tôi đã từng cuời cũng như khóc với các bạn, và có thể là trong những ngày sắp tới, tôi sẽ cùng chết với các bạn, và nếu như thế thì chúng ta đành chấp nhận.

   Hỡi đất nước Hoa Kỳ!  Mọi người có muốn biết Việt Nam hiện giờ ra sao không? Nước Viêt Nam của năm 1975 mà Hoa Kỳ đã tạo ra? Xin hãy nghe đây!

   Vài ngày trước đây, khi ngồi trên xe buýt trên đường đi Biên Hòa với vợ tôi, tôi thấy có hai đứa bé đang khóc vì mẹ chúng đang đi tìm cha chúng, một quân nhân đã trốn khỏi vùng Cao Nguyên, do đó chúng phải về nhà một mình . Một người đàn bà khác đang khóc vì đứa con vừa mới được chôn cất xong. Một người đàn ông đang khóc vì đã mất cả gia đình ở Huế. Một người đàn bà khác cho chúng tôi xem hình của chồng và năm đứa con của bà đang bị kẹt ở Đà Nẳng khi thành phố nầy bị mất vào tay Cộng Sản, và khi bà nói bà đã khóc nức nở. Tôi phải quay sang phía khác. Tôi không dám nhìn thẳng bà nữa. Điều mà tôi có thể làm là cúi đầu và nhìn xuống sàn xe vì hổ thẹn. Tôi cảm thấy nghẹn ngào truớc sự đau buồn của bà và tôi đã chảy nước mắt .

   Đó là nước Việt Nam của ngày nay đó. Tất cả buồn phiền, đau đớn, máu xương và nước mắt không ngưng. Đó là nước Việt Nam mà quý vị, các nhà nhân đạo vĩ đại của Hoa Kỳ, đã tạo dựng nên. Nước Việt Nam mà quý vị đã từ chối trách nhiệm và quay lưng phản bội.

   Ngày nay mỗi khi đọc báo, tôi cảm thấy buồn phiền làm tôi nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi và hổ thẹn vô cùng. Một sự hổ thẹn không phải do tôi giúp làm ra, nhưng tôi phải gánh chịu vì tôi là một người Mỹ.

    Khi quý vị nói lên những “câu rổng tuếch” và ký vào những “tờ giấy vô nghĩa”, hơi thở của quý vị làm người Mỹ chảy máu, chảy máu như những đứa trẻ con Việt Nam đang chảy máu. Trái tim của quý vị làm người Mỹ bị hôi thối, hối thối như những xác chết đang rơi rãi trên “con đường máu và nước măt” dài trăm dặm từ Cao Nguyên đến bờ biển. Quý vị đã phủi tay đối với Việt Nam, nhưng quý vị đã phủi tay trong nước mắt và máu của các bạn và dân tộc mà tôi yêu thương.

   Qua sự nhẫn tâm, vô cảm và không can thiệp của mình, quý vị đã đồng ý với những người cộng sản man rợ ở miền Bắc, quý vị đã đồng ý với sự hủy diệt một quốc gia và một dân tộc,mà quý vị đã từng gọi là bạn, đồng minh, là những người yêu nước . Những lời ấy đối với tôi hôm nay chua chát biết bao.

   Vậy thì dân chúng và những nhà lập pháp tốt bụng vĩ đại Hoa Kỳ, quý vị hãy trở về ngôi nhà  đẹp đẽ của quý vị, ăn những thức ăn bổ dưỡng, ngồi trên những chiếc ghế êm ái, uống cà phê, đọc những bài báo về những nổi hãi hùng và thảm kịch đang xảy ra ở Việt Nam, quý vị buông lời “thật là đáng tiếc”. Quý vị sẽ đi ngủ trong nệm ấm chăn êm với một lương tâm thanh thản. Nhưng khi quý vị giật mình thức giấc trong cái tĩnh mịch nửa đêm, và không biết tại sao, thì hỡi những người Mỹ, quý vị hãy lắng nghe, lắng nghe cho thật rõ, yên lặng mà nghe, thì quý vị sẽ có thể nghe dân tộc Việt Nam đang rên siết trong gông cùm, đau đớn, với những vết thưong bởi đạn pháo, quý vị sẽ nghe họ gọi đúng cái tên “đích thực” của quý vị ra.

   Ngày lễ Phục Sinh vừa đi qua.  Khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá, Ngài cầu nguyện:  “Lạy Cha, xin Cha tha tội cho họ vì họ không biết việc họ làm.” Quý vị đã đóng đinh Việt Nam trên thập tự giá. Tôi không có được sự cảm thông của Chúa Jesus, và tôi không bao giờ cầu xin Thượng Đế tha tội cho quý vị vì quý vị quả thực biết những gì quý vị đã làm; và tôi không bao giờ, chẳng bao giờ tha thứ hay quên những gì quý vị đã làm cho Việt Nam. Không bao giờ tôi còn cảm thấy hãnh diện là một người Mỹ. Sẽ không bao giờ tôi còn có thể ngửng đầu lên và cảm nhận yêu tổ quốc mình nữa như nhiều năm trước đây.

Bây giờ tôi chỉ còn biết cúi đầu vì hổ thẹn. Hỡi đất nước Hoa Kỳ chẳng ra chi kia, ngươi đã làm tổn thương ta đến tận đáy tâm hồn. Chính đất nuớc nầy đã hủy diệt đất nước Việt Nam thương yêu của ta.

Tái Bút: Tôi xin giấu tên vì lý do an nguy cá nhân. Nếu quý vị thấy bài nầy đáng được phổ biến thì xin đăng vào các báo Việt Nam. Tôi rất vui nếu dân chúng Việt Nam biết là có một người Mỹ nào đó cảm thông tình cảnh đất nuớc mình.

Views: 454

Phi Điểu

Lê Minh Văn

Gió biển thổi lồng lộng vào gian nhà mở toang cửa. Mặt trời đổ rực rỡ trên ban công, hắt những tia nắng tháng chín còn nồng vào gian phòng ngủ. Ông già «bảy lăm» nằm trên chiếc ghế vải xếp, lặng nhìn ngắm biển trải một màu xanh bất tận.

Phía chân trời một chiếc tàu biển đi ngang qua tầm mắt. Ông nhìn ngắm nó mãi mê, mơ hồ nhớ đến những phương trời lạ đã đi qua. Bây giờ ông đang dừng chân nơi đây, ở góc biển Hòa Dung. Căn gác thượng của ngôi nhà hai tầng trên cồn cát Thuận An này có thể là chốn dung thân vĩnh viển những ngày cuối đời của ông.

Ông mỉm cười nghĩ rằng mọi sự rồi sẽ đến một chung cuộc. Ông đã trải qua nhiều biến cố đầy sóng gió nhưng trọn vẹn hết ý nghĩa sống. Thì giờ đây sắp buông tay, tiếc nuối làm gì những thứ chẳng còn thuộc về mình nữa? Ông nghĩ thế.

Ông mỉm cười chống đôi tay lần dậy. Tinh thần ông còn khá minh mẫn, nên dù khó khăn ông có thể tựa mình trên cây gậy một cách vững vàng, lần mò ra sân thượng.

Một chiếc ghế bành đóng bằng gỗ lim, chắc nịch, chịu nắng mưa vẫn luôn nằm ở vị thế góc trái ban công, nơi đó ông có thể kéo chiếc ô riềm che nắng, hoặc có thể  xếp lại khi ông không cần đến nữa. Đó là tất cả mọi tiện nghi mà ông thừa hưởng từ người chủ nhân trước ông đã sống những ngày cuối đời ở đây.

Về ăn uống thì vợ chồng đứa con gái của Thưởng, chủ nhân ngôi nhà hiện tại  ngày hai bữa mang cơm nước lên cho ông. Chị Thưởng và hai đứa cháu thay phiên dọn dẹp quét tước trong ngoài, nhân tiện thăm chừng hoặc giúp đỡ những gì ông cần. Thằng cháu rễ đồng thời cũng là cháu nội của người chị gái ông, những ngày nghỉ dạy học, thỉnh thoảng dìu đỡ ông xuống phố cho ông hớt tóc, vào nhà hàng ngồi uống ly cà phê, hoặc cho ông xuống ngâm nước biển cho thân thể và đầu óc thư giản ra. Thỉnh thoảng nó cũng chở ông về Huế thăm nhà, thăm em trai ông và các cháu khác, hoặc đôi khi đi mua sắm chút đỉnh cho ông khuây khỏa. Ngoài tình gia đình, hình như nó có một thông cảm và cảm tình đặc biệt đối với ông.

Thật sự đời sống thường nhật của ông cũng chẳng có nhu cầu gì gọi là quan trọng. Ông chỉ cần những cái tối thiểu, ăn uống, đại tiểu tiện, tự pha lấy cà phê buổi sáng. Đời sống tinh thần thì vào dịp cuối tuần ông có thể gọi điện thoại nói chuyện với con cháu  ông ở bên Pháp và có thể đọc tin tức trên internet từ chiếc điện thoại cầm tay. Con trai ông giúp ông ứng một khoản tiền thuê gian gác trên cùng này của Thưởng và thỉnh thoảng tặng vợ chồng hai đứa cháu gọi ông bằng « ông cậu » những khoản tiền rộng rãi bù đắp vào khoản thu nhập hạn chế với đồng lương giáo viên của chúng.

Khi bệnh thấp khớp trở nặng đi đứng khó khăn, theo lời khuyên của bác sĩ điều trị con trai ông đã sắp xếp cho ông về Việt nam tránh những tháng mùa đông khắc nghiệt ở Pháp ; để nếu có thể, làm quen được với cuộc sống ở quê hương bây giờ đã đổi khác, ông có thể lưu lại dài ngày hơn với khí hậu ấm áp thích hợp cho việc điều dưỡng chiếc đầu gối sưng khớp đã hầu như bất trị.

Mọi chuyện hình như đến với ông một cách thuận lợi. Ông về Việt nam tránh mùa lạnh ở Pháp cũng đúng vào thời điểm con gái của Thưởng vận động được đổi về dạy cùng trường Trung học phổ thông cơ sở huyện với chồng nó là cháu nội của người chị ông. Cho nên Thưởng đã khéo léo sắp xếp cho vợ chồng hai đứa cháu về ở ngôi nhà Hòa Dung không xa trường bao nhiêu, nhân tiện chăm sóc cho ông ở gian nhà trên gác hiện bỏ trống.

Trong thâm tâm, con cháu ông vẫn muốn giữ ông lại Pháp cho đến cuối cùng cuộc đời, vì chúng có đủ phương tiện lo cho ông mọi điều chu tất trong viện dưỡng lão. Nhưng ông sợ những ngày cô quạnh trong những căn nhà lạnh lùng cách hẳn với đời sống bên ngoài, quyết định tìm lại những gì đã gắn bó với ông. Vào tuổi này thì chốn quê nhà của ông sẽ không có chủ nghĩa, màu sắc phe phái, cũ mới, nam bắc nữa. Quê hương  trong tâm tưởng của ông thấp thoáng dáng hình một khu đất đồi nghĩa trang gia đình rộng khoảng năm bảy chục mét vuông mà em trai ông đã điều đình mua của một lâm trường trên « Khe Đá Mài » sau khi có lệnh chính quyền sở tại giải tỏa khu nghĩa địa mênh mông của hàng trăm ngàn ngôi mộ khỏi núi Ngự Bình. Trong vuông đất ấy có di hài ông bà nội ông, hai thân sinh, chú, em gái và em trai kế của ông. Nếu được thì ông có thể về nằm ở đó, yên nghỉ cùng những người đã thiết thân gắn bó với một phần đời ông. Nếu không thì xác thân ông nên được hỏa thiêu, phần tro cốt gởi ở đâu cũng được. Chuyện hậu sự ấy chẳng có gì quan trọng đối với ông.

*

Ông già bảy mươi lăm đang nằm lơ mơ thì có tiếng gỏ cửa. Thằng cháu khệ nệ bưng lên một mâm cơm. Ông hơi ngạc nhiên vì bữa cơm trưa rất thịnh soạn. Nó giải đáp ngay thắc mắc của ông :

« Dạ thưa Ôn, hôm nay là ngày giỗ kỵ bà nội vợ cháu. Nhà con bận khách nên mời ông dùng tạm bữa. Chiều nay Ba vợ cháu sẽ lên mời Ôn xuống nhà ăn giỗ với gia đình »

Thưởng dìu ông xuống nhà dưới, mời ông ngồi vào xa lông, rót nước trà mời. Xong anh ta xin phép đến bàn thờ cúng tạ, rồi bưng mâm cổ xuống dọn vào bàn ăn.

Ông nhìn lơ đãng lên bàn thờ. Một bức chân dung khá lớn mờ trong hương khói, bên cạnh là một tấm ảnh nhỏ 10×15 cm của một người đàn bà đứng tuổi trong bộ quân phục với quân hàm Trung úy Y sĩ bộ đội.

Ông chau mày nghĩ ngợi. Người đàn bà trông quen lắm, nhưng tuyệt nhiên ông không thể nhớ được là đã gặp hoặc nhìn thấy ở đâu.

Thưởng dọn bàn xong tiến lại chắp tay kính cẩn mời ông vào bàn ăn. Vừa yên vị thì vợ Thưởng, vợ chồng đứa cháu gái cũng vừa ở dưới bếp đi lên. Thưởng xin phép ông cho các cháu vào ngồi chung bàn :

« Thưa bác, hôm nay là ngày giỗ thứ năm của mẹ cháu. Trưa nay cháu đã mời các bạn bè và chức quyền địa phương theo lể nghi bắt buộc. Nghĩ rằng bác sẽ không mấy thoải mái ngồi chung bàn với họ nên chúng cháu bàn nhau sẽ mời bác xuống dùng bữa giỗ trong vòng thân mật gia đình. »

« Thật hân hạnh cho tôi ! Cháu Thưởng nghĩ cũng phải vì sự hiện diện của tôi sẽ lấn cấn cho những người khác, vì nói cho ngay giữa cũ mới vẫn còn khác biệt. Tôi cám ơn cả gia đình đã đối xử rất tử tế với tôi. Sự chân tình của tất cả các cháu làm cho tôi rất cảm động »

Bữa ăn tối của gia đình thật ấm cúng sau một ngày khách khứa bận rộn. Mấy tháng qua liên hệ giữa ông già chế độ cũ và gia đình anh cán bộ xí nghiệp ngày càng cải thiện để đi đến chỗ thân mật và xem nhau như cùng một mái gia đình. Cảm giác đó là niềm an ủi lớn cho ông già mất quê hương gần đất xa trời.

Sau bữa ăn Thưởng mời ông ra ngồi xa lông. Anh ta lục tủ lấy ra một chai rượu ngoại XO Hennessy và hai chiếc ly pha lê, vòng tay lễ phép thưa với ông già :

« Nhân ngày giỗ mẹ, cháu có đôi điều muốn được hầu chuyện với bác. Xin phép cháu được mời bác một ly cổ nhác để tỏ tình con cháu »

Chủ, khách cùng nâng ly uống cạn chén rượu ngoại. Vợ Thưởng và các cháu biết ý đã lui hết vào nhà trong.

Chủ nhà có vẻ đăm chiêu, lựa lời :

« Bác mới biết gia đình cháu không lâu, nhưng riêng phần cháu thì đã từ lâu lắm vẫn xem bác như một người thân thuộc. Giản dị là chú Tiến (em trai ông già) thường nói chuyện về Bác. Cả Mẹ cháu ngày còn sinh tiền, hình như cũng biết bác nữa… »

Ông già hơi ngỡ ngàng. Hình ảnh người đàn bà trên bàn thờ tự nảy giờ vẫn vương vất trong đầu óc ông một hình ảnh thân quen nào đó mà ông không tài nào nhớ nổi. Nay Thưởng lại nói bà ấy biết ông, thì hẳn những tình tiết xem ra vẫn có cái gì khuất lấp.

Câu giải đáp đến không lâu sau chung rượu thứ hai.

Thưởng chậm rãi đến bàn thờ, mở cánh cửa tủ thờ lầy ra một vuôn giấy như lá thư và một chiếc thẻ bài của lính cộng hòa, kính cẩn hai tay đưa ngang mặt ông già :

« Đây là kỷ vật của Mẹ cháu, hình như có liên quan với Bác. Vì chiếc thẻ bài này mang tên bác, để chung với bức thư không địa chỉ »

Ông già run lẩy bẩy khi cầm lại trong tay chiếc thẻ bài ngày xưa đã bị tịch thu khi ông bị thương và rơi vào tay địch cũng trên bải biển này đây một ngày bi thảm cuối tháng ba năm 75. Cả một sư đoàn bộ binh thiện chiến, đã vì lệnh lạc bất nhất của các thượng cấp muốn rút về giữ Đà Nẵng rồi lại đổi ý bắt ở lại tử thủ Huế nên khi bị đánh bại lui quân về đến đây, đã tan tác hoàn toàn dưới hỏa lực khủng khiếp của địch vì các chiến hạm hải quân không thể vào gần bờ  bốc họ di tản ra khỏi địa ngục mặt trận Huế.

Ông lật qua lật lại chiếc thẻ bài thân thuộc mang tên ông « Trần Trọng Kiêm » và số quân, nhóm loại máu đục chìm trên mặt kẻm.

Những trang giấy đã bắt đầu ngả màu, tờ đậm tờ lạt chứng tỏ nó đã được viết dần dà, cách đoạn từ lâu. Một lá thư không địa chỉ vì không thể gởi đi bằng những phương tiện bình thường. Nói đúng ra đó là những trang nhật ký rời không ngày tháng hoặc bút ký dàn trải tâm tình để lại cho một người đàn ông mơ hồ là «  Anh K. »

Ông già Kiêm cứ ngồi ngây như tượng gỗ, đăm chiêu, nghẹn ngào không biết làm sao mà mở lời.

Một chuổi kỷ niệm buồn hiu hắt bỗng ùn ùn kéo về vây phủ lấy ông.

Cũng chính trên bải biển này đây một ngày cuối tháng ba 75 đời ông đã gãy vụn, tan tành.

Ông cùng đơn vị tháo chạy về vùng biển khi Huế bị tràn ngập dưới cơn lũ đỏ ác liệt của biển người, biển lửa, của đại pháo, tăng T54, T59 của Việt cộng từ miền Bắc tràn vào tấn công cố đô.

 Vượt cồn cát Thuận An là đường cùn. Pháo địch dập như mưa bấc. Những hạm tàu HQ phải dạt ra xa bờ tránh đạn. Một số tàn binh liều mình bơi theo. Đa số chới với chết chìm trên vùng biển dậy sóng trong cuồng phong bão lửa.

Ông bị thương nằm lại trên cồn cát. Một mảnh đạn dập nát ống chân cẳng trái. Đồng đội và thuộc cấp muốn cõng ông theo ra biển. Ông thét họ bỏ ông lại tìm đường thoát thân. Tình thế bất khả kháng không cho phép ông làm vướng chân những người đã cùng vào sinh ra tử với mình. Cuối cùng ông bị địch bắt làm tù binh và được cứu sống…

Thưởng biết ý, tinh tế xin cáo từ một lúc vì có công việc cần sắp xếp cho ngày mai. Ông Kiêm tỉnh cơn mê muội trở về hiện tại, thầm nghĩ :

« Lá thư không địa chỉ để chung với chiếc thẻ bài thì chắc chắn để lại cho mình chứ đâu phải ai khác nữa ! »

Ông cẩn trọng rút xấp giấy bên trong ra, nghiêng đầu đọc.

Anh K.

Không hiểu tại sao tôi lại có cái ý nghĩ muốn ghi lại đây chuyện cũ ? Những ngày êm đềm của ngày xưa đã quá xa xôi với hiện tại không mấy vui, đã nhạt nhòa theo những đổi thay của cuộc sống. Nhưng những kỷ niệm và âm vang ấy không bao giờ phai nhạt, hoặc lụi tàn trong quên lãng. Dĩ nhiên chúng có những lý cớ vững chắc để tồn tại.

Mỗi khi cầm bút, cắn môi suy nghĩ về những điều muốn ghi lại trên mặt giấy, một dấu hỏi mơ hồ cứ thắc mắc tại sao phải nói ra những điều không nên nói ? Tại sao phải sống lại những kỷ niệm thời bé dại và những tình cảm bồng bột tuổi mới lớn đã chôn sâu, đã lùi xa gần cả sáu mươi năm trời ? Cứ tại sao rồi tại sao, nhưng những giòng suy nghĩ còn tươi mùi nhựa non cứ rủ nhau quay trở về như muốn làm trẻ lại trong vô vọng một thân thể lạnh giá, xơ cứng vì bệnh tật. Dẫu sao chúng cũng còn để lại một chút màu xanh ước vọng le lói nơi tận cùng tâm khảm, giữa những đớn đau, dằn nén, chia lìa và những nghịch lý ở nơi kết cuộc của bất kỳ một cuộc nội chiến nào.

Tất cả đã sống dậy mãnh liệt một ngày cuối cùng của tháng ba năm bảy mươi lăm, ở một trạm xá tiền phương vùng Phú Thứ.

Đã có hai cuộc đời chia xa bỗng gặp lại trong một bối cảnh nghiệt ngã của chiến tranh. Giữa một nữ y sĩ của quân giải phóng và một sĩ quan chỉ huy bị thương của quân đội miền Nam bỏ lại chiến trường trong cuộc tháo chạy tuyệt vọng của  đạo quân trấn thủ trước giờ lâm tử của nó. Sắt thép của bão lửa và sóng dập của biển cả đã nhuộm đỏ một bãi biển an lành có cái tên gọi êm đềm Thuận An.

Người ấy bị trọng thương với một chiếc chân gảy vì mảnh đạn pháo. Anh đã thu hết sức lực bò lết vào được một căn chòi ngư phủ bỏ ngỏ, xé được chiếc màn buộc chặt lại vết thương trước khi ngất lịm đi bên chiếc bếp còn ấm tro trấu. Anh đã bất tỉnh trọn một ngày trước khi bộ đội chiếm đóng phát hiện ra anh, chuyển về tiền trạm.

Tôi đã được lệnh trên ở lại cứu cấp cho thương binh trước khi theo đơn vị hành quân về mặt trận phía nam Huế. Tôi đã lợi dụng những ngày ngắn ngủi ấy để cứu anh.

Định mệnh là một chiếc thẻ bài giật ra từ cần cổ một thiếu tá « ngụy ». Tôi viết từ này trong ngoặc kép, vì với tôi cho đến bây giờ, lịch sử vẫn chưa đủ phân minh để phán xét được hết một tổng thể những gì thuộc về chính và ngụy. Lịch sử cần thời gian và hiện thời tôi chẳng có lý do gì để nôn nóng tìm ra một kết luận. Những con người trong cuộc như tôi và anh đang bị lịch sử ấy chi phối nặng nề. Họ có được đãi ngộ thích đáng, công minh như trường hợp của tôi ? Họặc có được phán xét nhẹ nhàng hơn trong tinh thần hòa giải một dân tộc đã lầm lạc giết hại nhau trong ba mươi năm trời và bây giờ lưu vong biệt xứ như anh và đồng đội của anh?

Mục đích của những giòng chữ này không phải để mổ xẻ tính chính thống của một lý tưởng hay cứu cánh của một cuộc chiến tranh. Cũng không phải để phán xét những thành tựu hay thất bại của một cuộc đổi ngôi, một kế sách chính trị,  kinh tế được xưng tụng là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mà để nói về những thân phận con người lao đao trong những hoàn cảnh mập mờ dai dẳng những hận thù từ những đối nghịch giả tạo ý thức hệ đã ngăn chia tình cảm Nam Bắc. Những đứa con đã sinh ra và lớn lên trong hai phạm trù đó bắt buộc phải lao vào cuộc nội chiến để thiêu đốt chính cuộc đời mình. Và khi hòa bình tái lập thì hởi ôi họ trở thành những nạn nhân đầu tiên !

Chiếc thẻ bài mang một cái tên không bao giờ phôi pha theo thời gian. Một vết sẹo dài trên cần cổ trái xác nhận một tai nạn đáng ghi nhớ của tuổi thơ. Anh đấy chứ ai khác nữa ! Ký ức còn tươi và rõ nét vì giản dị là chính tay tôi đã xé một manh áo cũ để băng bó nó nơi vườn sau nhà tôi năm mươi tám năm về trước. Anh K, anh còn nhớ ?

Đêm trăng ấy có thể là lần cuối cùng chúng mình còn chơi đùa với nhau, còn chia xẻ, chăm sóc cho nhau sau tai nạn mà lổi chính có thể là về phần tôi đã trốn kỹ vào một góc hẽm mà không để ý đến cột sắt chống đỡ hàng chè tàu. Lần theo tiếng cười của tôi, anh đã vấp té trong trò « tròng gióng bịt mắt bắt dê »

Không lâu sau đó là định mệnh của lịch sử và chia lìa. Tôi đã âm thầm ra đi mang theo hình ảnh vết sẹo trên cần cổ anh. Tôi đã cầm nước mắt mà nói dối anh trong đêm giả từ là theo mẹ lên làm ăn ở cao nguyên. Thật sự cha tôi là một sĩ quan bộ đội phòng không, đã nhắn mẹ con tôi tập kết ra Nghệ An.

Điều thất vọng to lớn nhất của tôi không phải là một gia đình tái hợp trong bối cảnh hòa bình tạm vãn hồi. Vì cha tôi đã có một mái gia đình khác. Một vợ người địa phương và hai đứa em khác mẹ còn nhỏ.

Tôi đã hằn học tra hỏi cha tôi vì lý do gì ông phải triệu gọi mẹ con tôi, buộc chúng tôi phải từ bỏ cuộc sống êm ấm nơi mái nhà yêu thương nơi đại gia đình ngoại tôi để tập kết ra miền đất khó nghèo, trong hoàn cảnh éo le này?

Câu trả lời lạnh lùng của ông đã làm cho tôi kinh hãi. Nó sặc sụa một luận cứ tuyên truyền « Để cho con có cơ hội giác ngộ mà học tập theo gương bác và đảng. Cha không bao giờ muốn con lớn lên trong tư tưởng cực kỳ phản động của cậu Thân (em trai út của mẹ tôi đang giữ một chức trưởng phòng hành chánh quản trị ở Ty cảnh sát Thừa Thiên – Huế)

Anh nghe rõ chưa ? Cái mù quáng tai hại ấy của một người cha đảng viên quá khích, bao năm trời chờ đợi, đã xé nát những tâm tình yêu thương non trẻ của đứa con gái bỏ lại đất cố đô, đã chuyển hướng một trăm tám mươi độ cuộc đời nó với tương lai đang nẩy mầm nơi miền đất ấm đó. Tôi không thể khẳng định được là tương lai ấy sẽ ra sao, nhưng tâm linh tôi luôn bảo rằng miền đất lành ấy sẽ cho tôi một tương lai tốt đẹp hơn đây.

Không. Không bao giờ trong đầu óc thơ trẻ của tôi, cậu Thân là một con người tệ hại. Tôi không kềm được cơn giận dữ khi người cậu thân thiết, hiền lành đã hết lòng bảo bọc cho đứa cháu gái không có cha là tôi, những gì cần thiết nhất trong cuộc sống, bỗng nhiên bị xúc phạm một cách vô cớ bởi người anh rể thiếu trách nhiệm đã bỏ vợ con ra đi biền biệt :

« Ba phải lựa lời mà nói. Cậu Thân là một người đàn ông đáng kính về mọi mặt. Không có cậu ấy thì chắc gì mẹ và con có thể vượt được những khó khăn chồng chất trong cuộc sống đơn côi. Cậu đã thương con như chính con gái mình; vì cậu vẫn xót xa nghĩ rằng con có cha cũng như không. Phủ nhận một con người hiểu biết và nhân ái như vậy cũng đồng nghĩa với sự vong ơn. »

Một cái tát tai nảy lửa tôi phải nhớ đến suốt đời. Mẹ tôi cúi đầu không dám nói một tiếng nào. Hai hàng nước mắt chảy xuống, cay chua như phải nuốt lấy những giọt đắng. Tôi nhìn mẹ xót xa quên cơn đau đến tận cùng tâm khảm của chính mình.

Mẹ tôi đã phải nhận làm tất cả mọi công việc nặng nhọc của hợp tác xã nông nghiệp kiếm từng hạt cơm nuôi tôi ăn học. Phần tôi phải vất vã thích nghi dần vào những suy nghĩ và ngôn từ mới, lạ hoắc. Phải tự tôi nhồi nhét vào đầu những bài học chính trị vỡ lòng cộng sản, phải phấn đấu cật lực suy nghĩ cho đúng đường lối, chính sách…

Tôi đã trải qua tuổi dậy thì của mình không phải với hoa bướm, chim chóc như những lần săn bắt với anh nơi con hẻm ken hai hàng tre đầy những ổ chim rồn rột, nơi cây cừa đình làng với những ổ sáo, ổ cưởng, nơi những chẹn lúa đang trổ đòng đòng dấu dưới thân lá của chúng những ổ chiền chiện.

Ở đây không có những đêm trăng hòa bình như chúng mình đã trải qua với băng các chị Lý, Lài, con Lan, con Phụng và các bạn trai của anh, băng thằng Lư, chú cháu nhà thằng Hải…không hẹn mà cứ mỗi tuần trăng tụ tập hết ra đường chơi ù mọi, kéo dây, nhảy quan tiền, bịt mắt tròng gióng…

Tôi lớn dần trong vùng đất khó ấy, bắt đầu trổ mã.

Cha tôi hình như đã có chủ định, mỗi khi ghé nhà thường dẫn theo một sĩ quan trung niên, phụ tá chính trị viên tiểu đoàn của cha tôi.

Đó là một người đàn ông khô khan, ít nói. Khuôn mặt có góc cạnh không đến nổi xấu nhưng những nét thô vụng không dấu được. Đó là con trai một bí thư xã ủy đã bị xử tử những ngày đầu kháng chiến mà cha tôi quen biết trong vùng đóng quân của ông. Có lẽ từ gốc gác xuất thân ấy mà nét thù hận vẫn hằn trong đôi mắt nhìn như đổ lửa của người đàn ông ít lâu sau đã trở thành chồng tôi. Cha tôi không dấu thâm ý của ông mượn bàn tay của người con rễ chính trị viên già dặn tuổi đảng ấy để uốn nắn tôi vào khuôn phép kỷ cương của đảng.

Cuộc sống vợ chồng  tôi không hạnh phúc bao nhiêu. Qua cái nhìn không mấy tốt đẹp về con người đảng viên lạnh lùng của cha tôi, chồng tôi dù những cố gắng thương yêu dành cho vợ vẫn không thể nào khuất phục được tình cảm của một đứa con gái đã sinh ra và lớn lên ở miền Nam, còn giữ trọn trong tim kỷ niệm những ngày  êm ấm tình gia đình, hàng xóm, bạn bè. Cho nên dẫu những cố gắng để hòa vào dòng sống của xã hội miền Bắc, đứa con gái bất hạnh là tôi vẫn chôn dấu trong ký ức mình những gì thân ái rất riêng tư về tuổi hoa niên, vẫn ước mơ thầm lặng về hạnh phúc và cuộc sống êm đềm đôi lứa. Đứa con gái ấy có bao giờ quan tâm về chủ nghĩa, ý hệ chính trị mà chồng tôi đã phụng sự với hết cả thân xác lẩn tâm hồn…

Từ khi tôi học xong khóa y tá và tìm được một chỗ làm nơi bệnh viện huyện, thì công việc và những di chuyển công tác thường xuyên cũng làm cho cuộc sống chung bất đắc dĩ bớt ngột ngạt. Rồi tôi sinh thằng cháu Thưởng và hai năm sau sinh thêm đứa cháu gái. Bổn phận và tình thương một người mẹ dành hết cho con làm cho tôi khuây khỏa phần nào.

Chồng tôi xuất thân vô sản chuyên chính nên đã có một « tiền đồ » tốt đẹp đúng tiêu chuẩn. Theo cuộc chiến tranh dần đổi chiều với sự tham chiến của quân đội Mỹ ở miền Nam, anh ấy được gởi đi Liên Sô học điều khiển tên lửa phòng không. Về nước anh được đề bạt thủ trưởng đoàn tên lửa Sam bảo vệ cầu Hàm Rồng. Và trong một cuộc không tập ác liệt của những « Thần Sấm », « Con Ma » Mỹ đánh cây cầu chiến lược này, chồng tôi hy sinh.

Cuộc sống của tôi cũng không còn được yên lành nơi hậu phương nữa. Tôi được đơn vị cho đi học khóa y sĩ điều dưỡng để bổ sung cho chiến trường ngày càng trở nên ác liệt ở miền Nam. Tôi gởi thằng cháu Thưởng cho mẹ tôi và em gái nó cho bà nội, theo đoàn quân xâm nhập vào chiến trường Trị Thiên.

Dù gian khổ, lòng tôi mở hội. Từng mảnh quê hương trong trí nhớ mở lại trên những con đường tôi đi qua. Và những đêm thao thức trong láng trại, tôi mơ lại những đêm trăng thời thơ ấu có anh…

***

Rồi cuộc chiến cũng qua đi. Hòa bình vãn hồi sau những tang thương. Cuối cùng tôi cũng tìm thấy lại quê nhà, nơi tôi đã trải qua tuổi thơ êm ấm bên bà ngoại và cậu Thân. Quê nhà ấy cũng in đậm hình ảnh của anh những đêm trăng…

Tôi hầu như đã mất hết những người thân.

Trước hết là chồng tôi. Tôi không có nhiều kỷ niệm và yêu thương với anh ấy. Vì lý tưởng và chủ nghĩa hầu như đã chiếm hết trái tim của người đàn ông gọi là chồng tôi. Cho nên khi được tin anh ấy mất, lòng tôi quặn thắt, nhưng những giòng nước mắt hầu như đã cạn khô từ lâu lắm.

Mấy năm sau đến phiên cha tôi hy sinh ở chiến trường Tam biên trong cuộc tổng phản công mùa hè 72. Mắt tôi cũng ráo hoảnh vì xác thân ông bị vùi lấp đâu đó trên rừng núi thâm u Tây nguyên mà mãi lâu sau chiến tranh mới được gom về nghĩa trang tử sĩ của tỉnh. Mẹ tôi cũng gắng gượng nhỏ vài giọt nước mắt khóc chồng cho phải đạo. Tôi buồn nhưng không hề khóc vì hình ảnh người cha ra đi vì nước đã đành đoạn hy sinh tình nhà, đã đổi thay với thời gian chia cách. Chắc chắn hình ảnh mẹ con tôi không có một chỗ đứng trang trọng trong thâm sâu tấm lòng của người đàn ông ấy là cha tôi; vì ông ta là một đảng viên trung kiên. Tình cảm gia đình được gọi là ủy mị đã cố giấu kỷ xuống tận đáy lòng, sau đó nhờ bàn tay thời gian xóa nhòa hẳn đi. Mục đích cao nhất của ông là phấn đấu làm đảng viên cốt cán của giai cấp.

Ngược lại tôi đã khóc ngất ngày được tin mẹ tôi qua đời trong cô quạnh ở Nghệ An, lúc tôi đang lao đao phấn đấu để sống còn trong những trận đánh tàn bạo và khủng khiếp ở chiến trường Trị Thiên. Tôi biết suốt một cuộc đời mẹ tôi chỉ mơ thấy lại được quê nhà, nhưng ngày giải phóng miền Nam đã đến quá trể, bà không đủ sức để chờ đợi được nữa.

Chờ đến ba năm, tôi gom góp tất cả của cải có được, cải táng hài cốt mẹ tôi đem về Huế táng bên mộ bà ngoại và cậu Thân. Tôi hài lòng đã thực hiện được ước vọng thầm kín của người mẹ thân yêu nhất đời, và nhờ thế tôi đã có dịp trở lại nhiều lần khu nghĩa địa thăm bà ngoại, mẹ tôi và cậu Thân, những người tôi thương và cũng thương yêu tôi nhất trên cỏi đời. Bà ngoại vẫn chăm chút con gái là mẹ tôi coi như góa bụa và đứa cháu ngoại ngoan hiền là tôi phải côi cút. Còn cậu Thân, người cậu nhân ái ấy đã thương yêu chiều chuộng cháu Phi Điểu là tôi còn hơn con Thùy là con gái đẻ của cậu ấy nữa.

Làm sao tôi quên được tình thương vô bờ cậu đã dành cho tôi. Một đêm nọ tôi sốt lên cao làm kinh phong. Người tôi rúm lại co giật. Mẹ tôi rú lên tưởng chừng như đã mất tôi. Cậu ấy đang ngủ nghe thấy tiếng khóc của mẹ tôi, choàng dậy chạy xuống nhà dưới. Không kịp thay đồ ngủ, cậu bồng xốc tôi chạy bay vào xóm tìm ông thầy Khoa chích lể nổi tiếng trong vùng.

Con hẻm xóm ấy anh còn nhớ. Nơi có con đường đất gập ghềnh rộng hơn mét phủ bóng mát của hai hàng tre ken dày. Nơi hàng ngày chúng mình vẫn thường săn bắt những chú rồn rột con trong những chiếc ổ rơm đan hình chiếc giày ống chúc ngược. Ban ngày con hẻm hiền hòa trử tình chừng nào, thì trong bóng đêm chùng phủ, nó ghê rợn kinh khiếp chừng ấy. Cậu Thân ôm xốc tôi mò mẫm từng bước chân trong bóng tối dày đặc nỉ non tiếng côn trùng và cóc nhái rên rỉ. Tóc tôi dựng đứng trong tiếng kẻo cọt của những thân tre nghiến vào nhau. Và dù là đàn ông, hình như cậu Thân cũng sợ. Tôi nghe đôi bàn tay cậu run rẩy. Nhưng cậu nghiến răng tập trung đôi mắt xoi bóng tối cố chạy nhanh hơn vì sự an nguy của tôi.

Cho nên khoảng gần một năm sau Tổng công kích Tết Mậu thân, trong một bức thư từ miền Nam gởi ra, cha tôi vắn tắt báo cho mẹ tôi biết tin cậu Thân đã « đền tội với cách mạng »

Tôi vừa đau vừa giận. Đau đớn vì mất một người thân đã bị giết oan khúc vì bị qui tội phản động với nhân dân và cách mạng trong một thứ ngôn ngữ hàm hồ của loài chồn cáo. Giận vì cách thông tin của cha tôi có một cái gì vừa hèn vừa xuẩn động.

Có cái gì đúng tuyệt đối trong khung cảnh một cuộc nội chiến đầy tranh tối tranh sáng? Khẳng định một phán xét về công tội như cha tôi đối với cậu Thân dù một ẩn ý « lưỡi gỗ » để tránh phiền muộn bị qui chụp, vẫn gây cho tôi một niềm phẩn nộ về sự đồng lỏa với tội ác và sự hạ giá một nhân phẩm về tình người với nhau, về một trình tự gia đình phải bảo trọng dù bất kỳ tình huống nào.

Xác thân cậu đã bị vùi nông bên bờ ruộng phía sau nhà. Cậu đã bị xử tử bởi những người cầm súng nhân danh công lý của người vô sản, không cần một bản án, không cần những lời biện minh hoặc lời khẩn cầu ân huệ. Chiếc đầu lâu nát vết đạn, theo lời con Thùy kể lại, vẫn u uất trong tôi những hận thù vô lý của một tên chính trị viên cuồng tín nhưng cũng có thể từ bàn tay một bộ đội thư sinh non choẹt nào đó xâm nhập từ miền Bắc, chưa hề biết chế độ và xã hội miền Nam hình thành và vận hành ra sao sau Hiệp Định Genève năm 1954. Nhưng dù kẻ sát nhân là ai đi nữa thì điều tệ hại nhất đã xẩy ra. Nó đã nhẫn tâm trút cả một tràng AK vào đầu một nạn nhân đang quì gối run rẩy, không hề run tay, không hề ân hận. Tại sao cuộc chiến nhân danh công lý và hạnh phúc cho con người lại có thể đẩy bạo lực điên cuồng đến điểm cùng tận của lương tri như vậy ?

Ấy, sự tàn bạo của chiến tranh, chủ nghĩa và tình yêu thương giữa những con người và tình máu mủ đã chia tay rành rọt như vậy. Theo anh tình yêu nào đáng trân trọng hơn ? Tôi chỉ hỏi vậy thôi. Anh biết rõ câu trả lời trong thâm sâu của lòng tôi. Cho nên tôi bị đảng và cấp trên nghi ngờ, không mấy tín nhiệm. Cả cha tôi và chồng tôi cũng không mấy hài lòng vì những tư tưởng và ý nghĩ ít « chính thống trung kiên » của tôi.

Nhưng điều quan trọng nhất là cuối cùng tôi đã tìm thấy lại quê nhà. Muộn còn hơn không. Con chim già trước khi chết còn lết đôi cánh mỏi mà bay trở về nguồn cội. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu được nguyên do nào cha tôi đã đặt cho tôi cái tên Phi Điểu. Có thể đó là cả một ước vọng yêu thương của ông thời trai trẻ với mộng ước bay cao trong độc lập tự do. Nhưng buồn thay thời thế đã đẩy ông rơi xuống chiếc bẩy cộng sản nhân danh tự do cho con người và độc lập cho xứ sở. Theo tôi đó là vụ án lương tâm của lịch sử Việt nam cận đại đối với thế hệ cha tôi.

Và tôi, con chim bé nhỏ, đáng lẽ sẽ vô tư bay trong bầu trời trong xanh mùa xuân của quê hương và thảnh thơi hót trên những nhánh cau vừa trổ nụ trong những ngôi vườn êm đềm quê nhà, hoặc sải cánh sà trên những đồng lúa chín vàng thơm ngát giữa gió đồng nội thơm mùi muối thổi vào từ biển Thuận An. Thì hởi ơi Phi Điểu khốn khổ đã phải trôi giạt vào vùng trời giông bảo của vùng đất Nghệ An vốn là chiếc nôi an toàn của Đảng. Tôi không hiểu được những gì người ta nhân danh, người ta khích động và người ta phấn đấu để thể hiện chúng thành sự thật.  Phải chăng đó chỉ là một thứ ảo tưởng mê sảng, hay giản dị như một kỷ thuật dối gạt tuyệt diệu, nhân danh chủ nghĩa để mà mắt những con người khốn khổ ? Màn kịch ấy vượt quá xa tâm hồn ngay thật của tôi. Mừng thay là tôi vẫn còn đủ sáng suốt để cảnh giác những mê muội vẫn cứ rình rập chụp phủ lấy hồn tôi. Tôi vẫn tỉnh táo phân biệt được một màn kịch và sự thật đang diễn ra quanh tôi.

Cuối cùng thì Phi Điểu cũng tìm thấy lại không gian yêu thương của nó. Con chim lạc loài là tôi đã có thể xếp lại đôi cánh oan khiên mà dưỡng thương và tìm lại những kỷ niệm thanh xuân.

Cho nên sau 75, khi cả nước trở thành tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tôi kể như thuộc vào chế độ lưu dụng. Bởi những lời lẽ nhiều khi không giữ kẻ. Bởi việc đã dám chăm sóc anh với một chế độ ưu đãi không bình thường cho một tù binh ngụy, bởi chiếc thẻ bài lính VNCH được báo cáo đánh mất trên đường hành quân…Những nghi vấn ấy không qua được mắt tên chính ủy đoàn quân y. Trong ánh mắt thù ghét thường đảo rất nhanh, tôi biết vô hình chung hắn đã phê cho tôi một lý lịch không mấy trong sáng theo quan điểm đảng. Bổn phận của tôi đối với thương bệnh binh đã bị nghi kỵ. Lương tâm nghề nghiệp của tôi đã bị khước từ. Liên hệ giũa hắn và tôi thật không mấy dể chịu nơi quân y viện cho đến chung cuộc, ngày tôi được cho phục viên sớm hơn dự liệu vì chứng bệnh viêm màng phổi bất trị.

Nhưng kể từ ngày đó tôi thật sự được « giải phóng ». Để sống tự do hơn trong tưởng nhớ trọn vẹn về mẹ tôi, bà ngoại, cậu Thân và chiếc thẻ bài anh để lại. Tôi biết anh còn sống ở một nơi nào đó bên trời Tây, với một gia đình êm ấm tìm thấy lại sau những ngày chia lìa, điêu linh.

Tôi vui sướng chia xẻ cái hạnh phúc sau cùng đó của anh.

Phần tôi gượng vui trong quê hương tìm lại, với những bà con xóm giềng thân thuộc. Dù mang một chứng bệnh bất trị phổi viêm nước do những ngày chiến đấu lặn lội gian khổ trong rừng sâu nước độc, tôi đã cố gắng giúp đỡ họ chút thuốc men, chăm sóc họ những lúc trái gió trở trời. Tôi lấy tình thương và sự tương trợ làm lẽ sống cho đến khi phải buông bỏ tất cả để về đây dàn trải những ngày cuối đời ở góc biển Hòa Dung. Nơi chốn không quên, của kỷ niệm, của ân huệ từ trời cao đã run rủi cho tôi được gặp lại anh một ngày cuối tháng ba bảy mươi lăm trước khi chiến tranh chấm dứt. Anh tha lỗi cho tôi đã giữ riêng cho mình những bí mật về liên hệ giữa hai đứa đã gặp lại nhau tình cờ và oan nghiệt trong chiến tranh. Những ngày ngắn ngủi ấy bên anh cũng đủ làm cho tôi thỏa nguyện trong những ngày cuối đời và tôi sẽ vô cùng sung sướng mang chúng theo về thế giới yên bình bên kia. Tôi còn mong ước gì hơn?

Cũng như anh, tôi đã mất hết. Có ai được gì sau một cuộc chiến tranh tương tàn? Trừ những kẻ đầu tư nó nhân danh một chủ nghĩa.

Những tàn phá của cuộc nội chiến ghê gớm quá. Dù nhân danh một lý tưởng hoặc chủ nghĩa thần thánh nào chăng nữa thì những tự vựng ấy cũng quá thô thiển. Chúng nào có nghĩa gì và có đáng gì so với máu của một dân tộc đã lênh láng đổ ra và nước mắt của vô vàn những cuộc đời đã đầm đìa tuông đổ xuống những mảnh đất bị tàn phá.

Hòa bình vãn hồi trên đất nước quá đau thương này cũng hệt như tấm màn buông xuống trên một sân khấu kệch cởm. Sự thật và những khuôn mặt trơ tráo cuối cùng đã hiện rõ ra, nham nhở thảm hại.

Sau chiến tranh đời sống của người dân nào có được cải thiện? Cuộc sống của họ nào có gì đáng vui và có gì hứa hẹn?

Giữa cuộc sống buồn bã và lặng lẽ nơi quê nhà tôi vẫn hài lòng cho đến những giây phút cuối đời này còn được thảnh thơi nghĩ về anh. Với những gì mình đã vô tư sống với tuổi thơ. Mình đã sống ngay thật trong những ngày đau thương nhất của đất nước và sau trận chiến cuối cùng dữ dội ở vùng biển này, mình đã đối xử với nhau xứng đáng, từ hai trận tuyến đối nghịch, như những con người có đầy đủ nhân phẩm và lòng nhân…

Ông già bảy mươi lăm bồi hồi xếp những mảnh giấy rời lại.

Những giọt nước mắt theo dòng chảy xuống đầm đìa trên má. Ông ngồi  lặng lẽ mặc cho những cảm xúc trào dâng. Thân thể ông run rẩy từng hồi.

Cuộc chiến tranh nào chẳng tàn bạo ? Nhưng những trang thư này đã hé lộ những những ngang trái đến đau thắt cả ruột gan.

Tội nghiệp cho Phi Điểu, con chim bé nhỏ một thời thơ dại của ông Kiêm.

Ông hẳn biết người đàn bà nhạy cảm, rộng lượng và can đảm ấy không bao giờ cần đến nơi ông một lòng thương hại. Nhưng tất cả những tình cảm còn lại nơi ông dành cho người bạn gái năm xưa bây giờ chỉ thể hiện thô thiển như là một thứ tình tự nhiên, giữa người và người. Nhân thêm một thứ tình bằng hữu, chơn chất trong trắng còn sót lại trong cỏi lòng rách bươm của ông già bảy lăm.

Ông cúi đầu suy nghĩ. Ông thấy rõ rằng những đổ vỡ của cuộc đời ông chẳng thấm vào đâu so với những vết thương đau thầm lặng nơi thâm kín nhất của cõi lòng người bạn gái nhỏ bây giờ đã quá cố của ông.

Giản dị là ông chỉ chịu đau một phần và một phía. Phía người thua cuộc.

Còn Phi Điểu đã phải sống trong nghịch lý ở cả hai mặt trận, hai không gian. Đã phải ray rứt ở cả hai góc cạnh của tâm hồn mình.

***

Ít lâu sau khi lặng lẽ chia tay với thương binh tù nhân Trần Trọng Kiêm nơi tiền trạm Phú Thứ, đoàn quân giải phóng của Trung úy nữ y sĩ Phi Điểu đã đè bẹp những ổ kháng cự cuối cùng của VNCH ở phía nam Huế.

Cố đô đã sạch bóng quân thù trong niềm vui cả nước được giải phóng.

Phi Điểu dĩ nhiên đã phải hòa vào dòng người vỗ tay reo hò chiến thắng, nhưng trong thâm sâu của cõi lòng, nàng đã âm thầm khóc cho thân phận nạn nhân của chính mình.

Có đau khổ nào bằng một  người đàn bà yếu đuối đã phải lẻ loi tranh đấu cật lực để  gìn giữ lấy cho mình chút trách nhiệm lương tâm trong một cuộc nội chiến tàn bạo?

Nàng đã phải phân thân đau đớn khi cố bảo vệ chút lương tri le lói chỉ chợt tắt trước bạo lực vây quanh?

Lê Minh Văn

Views: 1502

Ông Phó Tổ Chức Bầu Cử

Phạm Thành Châu 

baucu

Ảnh: http://hinhanhvietnam.com

Bây giờ tôi xin kể qua chuyện bầu cử các định chế tổng thống, thượng viện, hạ viện, hội đồng tỉnh, hội đồng xã…

Vùng lục tỉnh (miền tây) việc bầu cử không căng thẳng như các tỉnh miền Trung, nhất là tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế, là nơi các thầy ở các chùa Phật giáo khống chế hầu như toàn thể người dân địa phương. Các thầy là người tu hành, lòng dạ ngay thẳng, thánh thiện, tưởng ai cũng như mình nên ai “nói ngọt” (chuyện cứu dân độ thế) là các thầy tin ngay. Mà Việt Cộng thì rất giỏi khoa tuyên truyền, dụ dỗ, lừa phỉnh, khủng bố… nên các thầy bị họ giật giây. Các thầy lúc nào cũng sẵn sàng “hi sinh thân xác vô thường để cứu độ chúng sanh”. Sau năm 1975, chiếm được miền Nam, Việt Cộng công bố rằng: Trước 1975, ở miền Nam, họ đã gài được hơn ba mươi nghìn (30,000) cán bộ Cộng Sản, xâm nhập các chùa chiền Phật giáo trong Nam. Tôi xin đưa ra vài sự kiện để chứng minh. Thích Trí Quang, đội lốt nhà tu. Trong “Trí Quang Tự Truyện” có viết “Lại biết từ lâu, Pháp làm cỏ các phái chống họ, mà cao điểm là pháp trường Yên Bái, thì còn ai nữa để lựa chọn ngoài VM (trang 56)” Theo tình báo Việt Nam Cộng Hòa thì. Năm 22 tuổi, Trí Quang ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, nhận nhiệm vụ vào Nam diệt “loài quạ lang”. Năm 1949, Tố Hữu kết nạp Trí Quang vào đảng Cộng Sản tại mật khu Lương Miêu, Dương Hòa, Thừa Thiên. Ngày 6 tháng 6 năm 1966, Trí Quang ra lịnh cho đoàn sinh viên Quyết Tử đến từng tư gia ở Huế và ngoại ô, bắt dân chúng đem bàn thờ Phật xuống đường, dĩ nhiên có cả hình và tượng Phật. (Bàn thờ, tượng Phật là vật thiêng liêng, phải để nơi cao quí, trang trọng, sao lại  để chỗ cống rãnh, rác rưỡi dơ dáy?!) Thích Trí Quang ra lịnh đình công bãi thị, xe rác không làm việc được, dân Huế đem rác vất thành đống hôi thối (chuột chết, đầu tôm xương cá, đồ ăn thừa…) bên cạnh bàn thờ Phật, tượng Phật bên lề đường. Là người tu hành, không ai làm chuyện đó. Trong “Trí Quang Tự Truyện”, Trí Quang chối tội nhưng lại viết “Nỗi ân hận về bàn thờ Phật cùng nỗi thán phục Vân (tự thiêu), cho đến nay không nguôi trong tôi” (trang 207) Ðại họa cho dân Huế năm Mậu Thân 1968, gần chục nghìn người vô tội bị Viêt Cộng đập đầu, chôn sống cũng nhờ sự tiếp tay của quí thầy. Việt Cộng xâm nhập vùng nào đều đặt bộ chỉ huy ở các chùa (không ai dám bắn vào chùa, nhà thờ), khai thác tình báo thì có các sư đi lấy tin tức. Ai dám hạch sách quí thầy? Năm Mậu Thân, sư Thích Ðôn Hậu bị lộ nên theo Việt Cộng ra Bắc. Ðầu năm 1975, miền Nam sắp sụp đổ, chỉ mới nghe tin đồn chính phủ Mỹ sắp viện trợ nhân đạo (tổng thống Ford dự định 250 triệu để cứu trợ đồng bào tị nạn Cộng Sản)) thì các dân biểu phe Phật giáo Ấn Quang đánh điện yêu cầu chính phủ Mỹ đừng viện trợ nhân đạo. Mỹ dẹp luôn chương trình đó. Ngày 28 tháng 3 năm 1975, chư tăng chùa tỉnh hội Ðà Nẵng ra tận đèo Hải Vân mừng đón quân đội Việt Cộng. Chư tăng hớn hở ngồi trên xe tăng T54 tiến vào Ðà Nẵng. Ngày 19 thánh 5 năm 1975, chư tăng Ấn Quang long trọng làm lễ mừng sinh nhật Hồ Chí Minh… (còn nhiều sự kiện nữa).  Sau năm 1975, Trí Quang bị cô lập vì như Trần Bạch Ðằng, cán bộ tuyên huấn của Việt Cộng phát biểu “Trí Quang là loại CIA chiến lược. Anh Út Nguyễn Văn Linh giận Trí Quang lắm”. Thời đó (sau 1975) các báo Cộng Sản ở Sài Gòn có viết về một ông sư “TQ” đã nhận hai triệu đô la của CIA để trang trải các chi phí nhằm lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, lập chính phủ mới để ông ta đưa Phật giáo thành quốc giáo và ông ta làm “Quốc Phụ” kiểu như sư Vạn Hạnh (Lý Khánh Vân) thời nhà Lý (1010-1225). Trong “Trí Quang Tự Truyện” có đoạn “Tất cả các chi phí không nhỏ cho việc của Pg miền Trung mà tôi phải lo liệu…” (trang 193) Sau 1975, mất nước, họ vênh váo, tưởng mình là công thần của Việt Cộng, không ngờ bị khinh bỉ, xem như giẻ rách. Những kẻ phản trắc (ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản) đó, kể cả cái chính phủ bù nhìn “Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”, đều bị họ vất bỏ, thành thân tàn ma dại, ai cũng ghê tởm, né tránh.

Trở lại chuyện bầu cử năm 1973 tại Thừa Thiên, Huế. Sau đại nạn Mậu Thân, ảnh hưởng của Phật giáo vẫn không suy giảm. Cả tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, trung tâm văn hóa của miền Trung, biết bao trí thức, nhân tài mà thầy ra lịnh bầu cho một người đàn bà từ Sài Gòn ra, bà Kiều Mộng Thu, và bà ta đắc cử dân biểu hạ viện một cách vẻ vang. Bà ta chỉ tuyên bố với báo chí một câu “Tôi cảnh cáo cho các thầy ở Huế biết. Nếu các thầy không ra lịnh cho người ta bầu cho tôi, để tôi thất cử, thì tôi sẽ nói huỵch toẹt chuyện tôi với các thầy”. Báo chí Sài Gòn đăng chuyện đó như tin tức bình thường vì họ biết rõ từ lâu.

Giai đoạn tôi làm việc ở Thừa Thiên, các cuộc bầu cử năm 1971 và 1973 diễn ra trong bầu không khí căng thẳng giữa hai thế lực chính trị: Ðảng Dân Chủ thân chính quyền và Phật giáo thân cộng (dưới cái lốt Thành Phần Thứ Ba). Phe Phật giáo cho phật tử đi khắp hang cùng ngỏ hẻm rỉ tai từng người “Chính quyền bảo gì cũng vâng dạ, nhưng vào phòng kín (phòng bầu phiếu) thì bỏ cho ứng cử viên của thầy, không ai biết được”. Trong các cuộc bầu cử, phe Phật giáo chỉ chờ một sơ hở nhỏ của các phòng phiếu là la ó lên rằng “Chính quyền gian lận bầu cử. Ðàn áp Phật giáo” Nếu ứng cử viên Phật giáo thất cử thì họ kích động dân chúng biểu tình, đòi hủy bỏ cuộc bầu cử, tổ chức bầu cử lại. Các chùa chiền (tỉnh hội) ở thành phố hay (khuôn hội) ở thôn quê được Việt Cộng đội lốt nhà sư, xâm nhập, tổ chức, điều hành rất có hệ thống. Trong các cuộc bầu cử, các chùa vận động rất tỉ mỉ, khôn khéo nhờ cán bộ Cộng Sản (nằm trong chùa) chỉ đạo. Ngoài việc vận động cử tri bỏ phiếu cho “người của thầy”, chùa còn cử phật tử (đã được huấn luyện) làm đại diện ứng cử viên Phật giáo đến từng phòng phiếu theo dõi việc bầu cử, hễ có gì bất thường là đòi lập biên bản để sau nầy vu vạ là chính quyền gian lận.

1967_Elections

Ảnh: Wikipedia

Diễn tiến tổ chức một cuộc bầu cử như sau. Trước giờ mở cửa phòng phiếu, các thùng phiếu được mở tung để xác nhận không có gì trong đó. Khi đóng nắp thùng phiếu xong phải dán giấy niêm phong, có chữ ký của đại diện các ứng cử viên rồi khóa lại. Từ giờ phút đó, các đại diện ứng cử viên (Phật giáo) không rời thùng phiếu nửa bước. Họ mang theo thức ăn, nước uống, ngồi nhìn không rời mắt thùng phiếu, cán bộ phòng phiếu đi đâu mặc kệ, họ cứ ngồi nhìn thùng phiếu, chỉ thay nhau đi vệ sinh vài phút rồi quay lại. Ðến giờ qui định, phòng phiếu đóng cửa, lập biên bản, di chuyển thùng phiếu về nơi kiểm phiếu, phật tử (đại diện ứng cử viên) theo sát thùng phiếu. Họ sợ chính quyền tráo thùng phiếu, nhét thêm phiếu của ứng cử viên đảng Dân Chủ (thân chính quyền) vào thùng phiếu. Khi kiểm phiếu, họ săm soi từng lá phiếu rất kỹ để tìm lá phiếu (của đối phương) bất hợp lệ. Nếu có, tức khắc họ đòi lập biên bản. Xem thế đủ biết việc tổ chức bầu cử của chính quyền bao giờ cũng phải đúng luật bầu cử.

Tôi làm phó quận hành chánh tức trưởng ban tổ chức bầu cử quận, chịu trách nhiệm theo dõi, giải quyết các trở ngại. Việc giữ an ninh phòng phiếu đã có chi khu (cơ quan quận sự quận) và cảnh sát lo, đề phòng Việt Cộng phá hoại. Thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, có đảng Dân Chủ là đảng thân chính quyền. Dù không có chỉ thị nhưng tôi (đã được chỉ định làm chủ tịch đảng bộ Dân Chủ quận) cũng phải quan tâm theo dõi. Nhân viên, cán bộ xã ấp, nhiều lần tổ chức bầu cử nên rất thông thạo mọi việc. Theo qui định. Mỗi xã có một số phòng phiếu rải rác để tiện cho cử tri khỏi đi xa. Trong phòng phiếu có một phòng kín, có đủ chỗ cho ba cử tri vào đó chọn lựa (lá phiếu) ứng cử viên mà mình muốn bầu, bỏ phiếu bầu đó vào phong bì, đem ra, bỏ phong bì vào thùng phiếu để công khai trước mặt các đại diện ứng cử viên. Vậy là xong nhiệm vụ cử tri. Khi một cử tri bỏ phiếu xong đi ra thì một cử tri khác vào lãnh phiếu bầu và đi vào phòng kín. Cứ lần lượt như thế. Tôi là người ma mãnh. Trước ngày bầu cử, tôi họp cán bộ xã ấp hướng dẫn “Tuyệt đối phải làm đúng luật bầu cử. Không làm điều gì khiến các đại diện ứng cử viên khiếu nại. Bất cứ việc gì xảy ra trong phòng phiếu, dù nhỏ nhặt cũng phải lập biên bản để đề phòng họ làm to chuyện, tố cáo chính quyền gian lận bầu cử. Ðể tránh buổi sáng thì chen nhau đi bỏ phiếu, mất thì giờ người dân chờ đợi, trễ nãi việc đồng áng, đến chiều thì vắng hoe. Xin các xã lên lịch đi bầu từng ấp, gửi lên quận. Cử tri mỗi ấp có khoảng một giờ đến phòng phiếu. Ðến giờ qui định, ông trưởng ấp và phó ấp tập trung cử tri trong ấp mình, hướng dẫn đến phòng phiếu, sau khi bỏ phiếu, đồng bào lần lượt ra về trong trật tự”

Sau buổi họp, tôi dặn các xã, cho từng trưởng ấp lên gặp riêng tôi. Khi gặp riêng, tôi yêu cầu ông ta đi đến nhà đồng bào trong ấp mình giải thích “Nếu không muốn bị đập đầu chôn sống như vụ Mậu Thân lần nữa thì đừng bầu cho các ứng cử viên Phật giáo mà các phật tử đã đưa tên cho đồng bào” Ông trưởng ấp thắc mắc “Mình dặn thì họ vâng dạ, nhưng vô phòng kín, họ bỏ cho “người của thầy” thì làm sao biết được?” Tôi mới nói rằng “Ðó là lý do tôi mời anh lên gặp riêng tôi. Ấp anh có một giờ bầu phiếu theo lịch trình của xã. Anh cũng biết phòng bỏ phiếu kín thường dành cho ba cử tri. Ðến giờ dân ấp của anh lần lượt vào bỏ phiếu anh cũng vào lãnh phiếu bầu, vào phòng kín như những cử tri khác, nhưng anh đứng trong phòng kín đó nửa giờ, nửa giờ sau, ông phó ấp vào thay thế. Luật bầu cử không qui định cử tri vào phòng kín trong bao lâu. Dân ấp anh thấy ông trưởng ấp hoặc ông phó ấp bên cạnh nhìn chừng thì họ bỏ phiếu cho ứng cử viên Dân Chủ cho yên thân. Sau nửa giờ, anh bước ra bỏ phiếu vào thùng thì ông phó trưởng ấp bước vào, làm nhiệm vụ công dân, nhưng cũng đứng trong phòng kín đó cho đến khi dân ấp anh bầu xong. Tuyệt đối không cho ai biết những gì tôi nói với anh. Vì ấp anh có nhiều phật tử đi vận động quá nên anh là trưởng ấp duy nhất trong quận tôi hướng dẫn cách đó”. Kết quả bầu cử năm đó. Cử tri quận Quảng Ðiền bầu cho ứng cử viên đảng Dân Chủ (thân chính quyền) lên đến 89% mà phe Phật giáo  không moi ra được một khiếu nại, vu cáo nào để làm to chuyện. Không ai biết vì sao “phe ta” ở quận Quảng Ðiền thắng cử vẻ vang?

Nghe nói, trung ương (đảng Dân chủ) dự định sẽ đưa tôi về tỉnh nào mà đảng Dân Chủ “yếu thế”, nhưng sau đó thì mất nước.

Phạm Thành Châu

Views: 411

Thục Anh

Phạm Thành Châu

thuc-anh-image            Chúng tôi có sáu đứa con, ba trai, ba gái. Nếu vợ tôi không cằn nhằn thì giờ đây tôi có thể khoe có hơn chục đứa không chừng. Dĩ nhiên con cái đông phải cắm cổ mà cày, thấy mình còn thua con trâu, nhưng bù vào đó là cái thú được hi sinh cho con cái. Thỉnh thoảng ngó lại, ngạc nhiên thấy con mình sao mau lớn quá, áo quần đứa trước đã phải để cho đứa sau mặc rồi. Vợ tôi đi làm về còn phải lo phục vụ chúng. Giặt giũ, nấu nướng, dọn dẹp… Bà la hét đứa nầy, nạt nộ đứa kia rồi lại lầu bầu với tôi đủ chuyện, nhưng tôi chẳng hề bận tâm, tôi biết bà rất thú vị khi làm như vậy, đó là hạnh phúc của bà. Vợ tôi thương con đến độ thương luôn các vật dụng của chúng nữa, từ đồ chơi lúc nhỏ đến quần áo cũ, giấy bút không dùng…bà đều coi như của quí, đem cất vào kho. Bà thương luôn cả đến bạn bè của chúng, đứa nào đến bà cũng mừng rỡ, săn sóc “Con ăn gì chưa? Ngồi xuống đây, bác lấy gì cho con ăn nghe!” Bà giới thiệu tất cả sản phẩm bà có trên bếp, trong tủ lạnh, đứa nào chịu ăn bà thích lắm, nếu khen mấy tiếng “ Ngon quá!” là bà phổng mũi cứ bổn cũ soạn lại, lần sau lại bắt chúng ăn như thế, chúng cũng khen nhưng có vẻ đau khổ, tôi lại phải nhắc chừng để bà đổi món khác, rồi bà lại mời, lại hồi hộp chờ được khen. Sở dĩ không đứa bạn nào của con tôi dám chê vì có mục đích, chúng nhắm vào đứa con gái lớn trong nhà. Nó tên Thục Anh. Khi sinh ra nó, tôi đặt tên mà không hiểu ý nghĩa gì cả. Chỉ vì lúc còn dưới trung học tôi mê một cô bé học lớp đệ ngũ tên Thục Anh. Tuổi mới lớn, yêu chỉ để mơ mộng nên tên gọi là phần quan trọng nhất, vì không lẽ buổi tối đang học bài, bỏ vài phút ra mơ mộng mà lại viết tên người đẹp là Ổi, Ốc hay Cơm, Canh…lồng vào tên mình giữa hình một quả tim?!… Sau nầy, dung nhan cô bé đó, tôi không nhớ rõ, chỉ còn ấn tượng đó là một cô bé ngây thơ, vui tươi, nhí nhảnh, đôi mắt thông minh, trong sáng. Nhiều cô đẹp hay làm kiêu. Cô Thục Anh đẹp nhưng rất tử tế với bạn bè. Tôi thường tìm dịp ngắm cô và yêu thầm. Và tên Thục Anh đã thành một âm vang dịu dàng trong mối tình học trò thuở nào. Tôi lấy tên cô ta để đặt tên cho con gái tôi. Dĩ nhiên vợ tôi đâu biết điều bí mật đó, nên cũng đồng tình “Tên Thục Anh, nghe hay đó chứ!”. Thường con cái trong nhà, mỗi đứa tôi thương một cách. Tôi không khó tính như mẹ chúng. Với con trai tôi nhìn thấy tôi của thời đi học. Cũng mê gái, cũng cãi lời cha mẹ một cách vô ý thức. Với con gái tôi thấy giống mẹ chúng, đúng hơn, giống bất cứ cô gái mới lớn nào khác, thế thôi. Trong nhà thì lười biếng, chỉ siêng soi gương chải đầu, ra đường làm bộ trang nghiêm, áo quần đẹp, ăn nói nhỏ nhẹ. Riêng con bé Thục Anh thì đúng là yểu điệu thục nữ. Bình thường trông nó thật thảm hại. Người ốm, hơi cao, mặt trái xoan dài, trông hơi xanh xao như thiếu dinh dưỡng, hai mắt to vẻ ngái ngủ. Tóc tai lượt bượt, vướng víu, khi làm bếp, thỉnh thoảng phải dùng cánh tay gạt ra phía sau, nhưng khi ra đường, mái tóc dài đen mượt của nó là một giòng suối chảy xuống bờ vai thon nhỏ, dịu dàng. Còn đôi mắt ngái ngủ, không hiểu nó tô điểm cách nào mà trông vừa buồn buồn vừa ngơ ngác một cách dễ thương. Trang phục của nó cũng đơn giản, những hàng vải mềm, màu trang nhã hòa hợp với khuôn mặt và dáng người, trông thước tha và quí phái khiến các cậu vừa thấy đã xao xuyến nhưng cũng ngậm ngùi vì có vẻ cao sang quá, mình chẳng đáng hi vọng chút nào. Nghệ thuật làm xiêu lòng lũ con trai không phải ngẫu nhiên, nó phải luyện tập gian khổ như một nghệ sĩ tập tuồng vậy. Từ cách ăn mặc, đi đứng cho đến cách chuyện trò. Chẳng biết nó nghiên cứu đâu ra những phương pháp kỳ cục. Trong nhà, nó thường đặt trên đầu một quyển sách, cần gì sai nó, nó cứ lững thững đi trông như người máy. Tôi tưởng nó bị bịnh tâm thần, nó cãi “Ba không biết gì hết, khi nào con đi nhanh mà quyển sách không rớt xuống đất, con sẽ đi đẹp lắm đó”. Thục Anh che giấu khuyết điểm của nó một cách tài tình. Nó gây lộn với các em nó không bao giờ thua. Với các anh, nó chỉ cần thút thít là các anh nó bối rối ngay. Tuy nhiên Thục Anh biết giữ khoảng cách vừa phải đối với bạn bè của anh nó. Với đứa nào nó cũng lễ phép và không thân mật quá khiến các cậu mê mệt mà không dám tỏ tình. Ðúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính. Em nó, con bé Ðỗ Quyên lại khác, tuy dáng dấp và khuôn mạt tương tự nhưng bản tánh mạnh mẽ như con trai. Nó không lượt là như Thục Anh mà lúc nào cũng quần jean, áo pull, tóc thì cột túm phía sau bằng một sợi giây thun, trong nhà ra đường đều thế, chẳng hề thấy điểm phấn tô son bao giờ. Nói chuyện với con trai, nó đáp chát thẳng thừng, bọn con trai tiếp xúc với nó cũng tự nhiên như với em gái thực sự. Có điều lạ là đứa nào muốn tặng quà cho Thục Anh phải qua Ðỗ Quyên, nếu không Thục Anh sẽ không thèm nhận. Các cậu đã tốn tiền còn phải quị lụy chỉ để được người đẹp thưởng cho nụ cười và hai tiếng cám ơn. Nhưng có nhìn thấy Thục Anh nhận quà mới hiểu được sự sung sướng của người tặng. Nó mở quà một cách chậm rải nhưng đầy vẻ hồi hộp, tò mò, rồi nó kêu lên “Ôi, đẹp quá!” mắt mở lớn, ngước nhìn nạn nhân “Cám ơn anh nhiều lắm, sao anh biết em đang cần món quà nầy? Em thích quá, cám ơn anh!” Cách suýt soa, trân trọng món quà của nó khiến khối chàng si tình muốn bê luôn ngôi nhà của cha mẹ đem dâng người đẹp. Ðâu biết rằng, khi khách đã ra về, chỉ còn lại người nhà, nó vất cho mấy đứa em “Cho tụi bây, có thích thì lấy đi”. Trong số các ứng viên có mấy anh chàng mà vợ tôi chấm là có đủ điểm để lọt vào vòng chung kết, đó là các cậu đang học y khoa “Không nghề nào tự do lại nhiều tiền bằng”. Ngoài ra còn có một cậu coi bộ cũng si Thục Anh ghê lắm nhưng cũng rụt rè không kém. Cậu vượt biên qua Mỹ một mình, vừa đi học vừa đi làm, quần quật cho bản thân còn tiếp tế cho gia đình ở Việt Nam nữa. Chẳng bao giờ thấy quà cáp cho Thục Anh, chỉ thỉnh thoảng mang đến vài tờ nguyệt san, báo chí gì đó để ở phòng khách, có ai buồn tình thì giở ra đọc giết thì giờ. Thục Anh như thấy được thế kém của anh chàng nên thỉnh thoảng có săn sóc, hỏi han rất thân tình, có lẽ vì lòng trắc ẩn muốn cân bằng tương quan giữa các cậu, để cậu ta khỏi nản mà bỏ cuộc, vì các bà, các cô tuy không yêu nhưng lại muốn càng nhiều người say mê mình, càng thích. Mỗi lần ăn uống trong gia đình, cậu chỉ được ngồi tít xa người đẹp, lo cắm cúi ăn. Vợ tôi tuy cho cậu ra ngoài danh sách ứng viên khách đông sàng, nhưng lại thương nhiều vì cậu côi cút, thật thà, nhất là khen bà nấu ngon “Con ăn McDonald, hot dog riết ngán quá, thèm cơm, bác lại cho ăn ngon nên lần nào con cũng muốn bể bụng…” Cậu ta, dĩ nhiên bị các đối thủ loại ra vì không có ưu điểm nào đáng ngại cả. Ăn mặc xuề xòa, thường là bộ đồng phục của tiệm ăn vì cậu là bồi bàn. Chiếc xe cũ xì, trong bỏ đầy báo chí sách vở. Người cao, mặt mũi cũng tạm nhưng tóc tai hớt ngắn như lính. Chỉ chừng đó cũng biết cậu chắc chắn đã thất bại trước khi tham gia cuộc đua chạy đến trái tim người đẹp rồi, đúng hơn cậu cũng chạy, nhưng lẽo đẽo theo sau để xem thử các bạn mình ai sẽ đến đích chứ riêng cậu chẳng thấy quyết tâm gì. Thế nên vợ tôi gọi cậu là “anh chàng Cá Kèo”, ý nói đứng hạng chót trong danh sách các ứng viên.

            Có lẽ người Mỹ bị bịnh tâm thần, đau tim nhiều cũng vì những con số. Cái gì cũng tính bằng số, chết rồi cũng đem linh hồn ra cân ! Lũ trẻ Á Châu ở Mỹ bây giờ cũng bị qui luật đó chi phối. Tình yêu vốn vô hình, vậy mà chúng biểu lộ được bằng những con số. Chúng nghĩ đơn giản, tình cảm cũng như một món hàng, hễ yêu ai cứ cho thật nhiều quà đắt tiền tức là yêu nhiều. Tôi muốn nói về những quà cáp của các chàng Sơn Tinh, Thủy Tinh tân thời đem dâng người đẹp nhân ngày sinh nhật của nàng. Ngày sinh nhật của Thục Anh cũng khoảng vào ngày nó tốt nghiệp trung học. Vợ chồng tôi muốn làm một lễ sinh nhật tươm tất để mừng nó tốt nghiệp luôn một thể. Chúng tôi định cho Thục Anh vào đại học ở một tiểu bang khác nhưng vợ tôi lại sợ con gái xa nhà sẽ gặp nhiều khó khăn. Bà mẹ Việt Nam nào cũng muốn các con dù khôn lớn đều phải nằm trong đôi cánh của mình hay ít ra cũng lẩn quẩn đâu đó trong tầm mắt, bà mới yên tâm, hoặc khi đi xa phải có bạn đồng hành giúp đỡ nhau để tránh lỗi lầm, sa ngã. Vợ tôi nói với Thục Anh “Con lớn rồi, phải quyết định lấy cuộc đời mình. Trong số các bạn trai của anh con, con có thể chọn được một anh mà con có cảm tình, ba mẹ không có quyền chen vào nhưng cần biết quyết định của con để yên lòng. Mẹ thấy đứa nào cũng đàng hoàng, xứng đáng cả. Ðừng để chúng nản, chúng đi hết” Thục Anh chỉ dạ, cười cười mà không nói. Vợ chồng tôi chẳng hiểu nó nghĩ gì, Tuy chưa hề thấy nó biểu lộ tình cảm đặc biệt cho riêng một cậu nào, nhưng lối cười của nó, tôi biết nó đã có đối tượng, có chủ đích.

            Hôm tiệc sinh nhật, mới sáng, các bạn bè đã lục tục mang quà đến để đầy phòng khách. Không hiểu có phải qua Ðỗ Quyên không, hình như cậu nào cũng biết rằng Thục Anh sẽ lộ ý cho biết ai là ý trung nhân của cô trước khi lên đường đi học xa, và cậu nào cũng tin rằng mình đã nằm trong mắt xanh người đẹp rồi. Một cái TV ngạo nghễ chiếm một góc phòng, bên cạnh là một cái máy CD, DVD gì đó, có mấy gói quà nho nhỏ tuy khiêm nhường nhưng nổi bật nhờ giấy gói rực rỡ… Trong lúc chờ đợi chúng tụ tập ở phòng khách chuyện trò rôm rả. Vợ tôi tuy chuẩn bị trước, nhưng nấu nướng các món không phải đơn giản, các cô con gái và cả tôi nữa đều phải xuống bếp phụ một tay. Một lần, trong khi Thục Anh đang ở trong bếp thì anh chàng cá kèo xuất hiện, cậu ta đi có vẻ mạnh dạn lắm nhưng không che dấu được sự rụt rè, thiếu tự tin. Cậu đến bên Thục Anh đưa ra một gói nho nhỏ, hình như một quyển sách trong một phong bì màu xám “Anh tặng Thục Anh… để mừng sinh nhật” “Anh cho gì đây? Quyển sách hả, anh để trên phòng khách, lát nữa em sẽ mở quà, bây giờ tay em dơ lắm” “Anh không thích để trên đó, không thích ai biết trừ Thục Anh” “Ðược rồi, em mở ngay bây giờ, quyển sách phải không?” “Một tập thơ” “Thơ của ai?” “Thơ của anh” Thục Anh không lộ vẻ gì ngạc nhiên, nó giở từng trang, nhìn thoáng qua “Em có đọc mấy bài nầy rồi, trong các tờ báo…” “Ðúng rồi, anh làm thơ tặng Thục Anh đó” “Hèn gì, bài thơ nào cũng thấy đề “Tặng Thục Anh” em biết ngay là anh” Con bé chỉ hững hờ nói cám ơn rồi bảo Ðỗ Quyên đem tập thơ vào phòng. Có lẽ cậu cá kèo đang chờ đợi một tiếng kêu ngạc nhiên của Thục Anh kèm một cái ngước mắt nhiều cảm động và biết ơn, giống như lúc nhận quà của mấy cậu kia. Không ngờ vẻ lạnh lùng của Thục Anh khiến cậu ta như bị một cú đấm bất ngờ. Phải rồi, tập thơ chẳng có giá trị gì cả, cũng chẳng biết dùng vào việc gì?! Mặt cậu tái nhợt, cậu nói vội vã như hụt hơi “Anh về nghe!” rồi cậu lễ phép với chúng tôi “Xin phép hai bác con về, con bận có chút việc” Vợ tôi vội chận lại “Có chuyện gì gấp vậy? Con ở lại với bạn bè cho vui, hay để bác dọn riêng, con ăn trước rồi hãy về” Thấy vẻ bẽ bàng lúc nãy, tôi đoán cậu thất vọng nhiều lắm nên cần rời nơi nầy, tìm một chỗ yên tĩnh để gặm nhấm nổi buồn nên tôi không chen vào. Vừa lúc Thục Anh đến “Anh về em giận lắm đó. Ở lại, nghe chưa!” Lối ra lịnh như thế khiến tôi cũng bất bình, cậu cá kèo đành nghe theo. Có lẽ lúc sượng sùng nhất của cậu là khi mở quà vì cậu chẳng có tặng vật gì ở đó cả. Tôi ngồi ngắm những nhân vật của vở kịch đời, thấy rõ tâm lý hiện lên trên từng nét mặt. Với món quà nào Thục Anh cũng có một lối mừng riêng, nó khéo léo đến độ anh chàng có món quà ít giá trị coi bộ còn sung sướng hơn người khác nữa. Thục Anh quì giữa đống quà và những giấy gói đủ màu sặc sỡ trông nó dễ thương và ngây thơ như một đứa bé. Tôi nhìn nó lòng vui sướng và ngạc nhiên, mới năm nào sinh ra, nó chỉ có chút xíu, ngọ ngoạy chân tay một cách vụng về, miệng cười thơ dại, thơm nức mùi sữa mẹ, bây giờ thành một cô thiếu nữ xinh đẹp. Ðiều làm tôi phân vân, trông gương mặt nó sáng sủa, thông minh nhưng sao tâm hồn nó không giống vợ chồng tôi, nó không biết giá trị cao quí của tình cảm. Những bài thơ của anh chàng sinh viên nghèo kia dù không hay chăng nữa cũng nói lên những rung động chân thành đối với nó. Cậu sinh viên kia, trong góc phòng, lặng lẽ, núp kín sau bạn bè như muốn biến mình thành mây khói để thoát ra khỏi nơi ồn ào nầy. Tôi không hiểu cậu đang nghĩ gì? Có xót xa cho hoàn cảnh mình không đủ tiền mua một món quà đắt giá dâng người đẹp, hay ân hận mình đã yêu lầm một người không có tâm hồn?! Anh chàng Trương Chi tân thời nầy tuy không xấu trai nhưng chỉ có tiếng hát của hồn thơ và cô Mỵ Nương đời nay tuy có đọc thơ chàng từ trước trong những tờ báo đặt ở phòng khách chứ không phải lần đầu nhìn thấy, nhưng rõ ràng cô không quan tâm. Trong lúc dự tiệc, anh chàng cá kèo vẫn giữ vị trí xa người đẹp nhất. Những lần trước cậu thường lặng lẽ ngắm Thục Anh, thỉnh thoảng góp chuyện với bạn bè, lần nầy cậu im như thóc, mặt buồn thiu, cầm đôi đũa vầm vầm món gì đó trong chén chứ không ăn, có điều cậu uống bia hơi nhiều, mặt bắt đầu đỏ, trông lầm lì, dữ tợn. Cũng như mọi khi, bọn trẻ tha hồ nói thánh nói tướng về mình, về mọi chuyện, nhất là chuyện người đẹp, cậu nào cũng ra vẻ ta đây có số đào hoa, con gái chạy theo thiếu khối mà không thèm (Ý muốn nói chỉ để ý một người thôi) Rồi chúng xoay qua anh chàng cá kèo để chọc phá “ Còn mầy thì sao? Kể ra xem, trước giờ có được mấy em theo mầy?” “ Có mấy con cháu bà Só!” Cả bọn ngớ ra, nhưng vợ tôi cười rộ lên giải thích “ Cháu bà Só là chó bà Sáu đấy” Thấy có người hiểu được mình lại thêm chút rượu trong người, cậu bắt đầu triết lý “Con trai là nam châm, con gái là sắt, thép; có cứng bao nhiêu cũng chạy theo nam châm” “Mầy ngon, vậy chứ có mấy cục sắt chạy theo mầy rồi?” “Chưa có, nhưng muốn lúc nào là có ngay” Cả bọn nhao nhao “Thằng nầy xạo, biểu diễn coi, bữa nào đưa một em đến đây cho tụi tao xem, hay dẫn một em xấu hoắc thì đúng là sắt rỉ, nói làm gì” “Ðâu đến nổi, tụi bây chấm được mới kể, nhưng phải thong thả, ít ra cũng vài ba ngày, hẹn hò đàng hoàng chứ thình lình như đâu trên trời rớt xuống được” Chúng tôi bắt đầu ái ngại cho cậu ta, có lẽ vì bị Thục Anh lạnh nhạt trước món quà vô duyên đó nên cậu tự ái, một phần vì ngấm rượu cậu đã bị các bạn đưa vào bẫy thách đố, nhưng trông còn vẻ bình tĩnh tôi đoán cậu có cách thoát ra “Thứ bảy nầy đi, mầy đưa người đẹp đến đây, dám không?” “Có ngay, nhưng em vô nhà hay không tùy quyền em. Tụi bây đông quá, em khớp, đâu dám” “OK, đứng trước sân đủ rồi, chín giờ sáng thứ bảy, được chưa?” Vợ tôi và mấy đứa con gái cũng bị kích động theo, anh chàng cù lần nầy làm sao kiếm được một cô bạn nhanh như thế, hắn không có bà con quen biết để nhờ đóng vai người bạn tạm bợ “Sáng thứ bảy mấy đứa ghé đây ăn sáng, bác sẽ nấu phở cho mà ăn” Lát sau cậu ta xin kiếu từ về trước, thấy lối đi ngất ngưỡng, vợ tôi bảo “Con ra phòng khách ngồi nghỉ một lát, tỉnh rượu hãy về, cảnh sát gặp thì nguy” “Dạ, không sao đâu bác, con đi trong xóm chứ không ra ngoài lộ đâu”

            Sáng thứ bảy, bọn trẻ đã tụ tập tại nhà tôi chờ xem anh chàng cá kèo đem người đẹp đến trình diện. Tôi không quan tâm đến chuyện trẻ con đó, nhưng tò mò xem cậu ta giải quyết sự thách đố ra sao. Trước chín giờ cậu ta đã đến, cả bọn nhao nhao “Người đẹp đâu?” “Mười phút nữa em sẽ đến” “Mầy không đón em đến đây à?” “Em đến đón tao chứ xe tao em nào thèm ngồi” “Thằng nầy ngon, chà bữa nay áo quần coi bộ láng quá há!” Tôi cũng nhận thấy cậu ta ăn mặc lịch sự, tóc tai gọn gàng, áo quần mới thẳng nếp lại thêm chiếc cà vạt hoa lá cành trông rất bảnh bao, coi bộ còn đẹp trai hơn các bạn nữa. Vợ tôi bảo “Mỗi đứa vào bếp lãnh tô phở rồi ra phòng ăn mà ngồi” “Thưa bác, lát nữa con đi ăn điểm tâm với cô ta” Bỗng có tiếng còi xe, cả bọn ùa ra cửa. Cậu cá kèo chửng chạc đi ra. Chiếc xe đời mới, cũng rực rỡ như cô gái trong xe. Cậu ta nói gì đó, cô gái ra khỏi xe, cười thật tươi, vẫy tay chào trong nhà. Tuy cô không đẹp lắm nhưng cách ăn diện ra người đứng đắn, quí phái. Dự đoán một cô tào lao nào đó không đứng vững. Cô gái nhường tay lái cho cậu cá kèo và xe vụt chạy đi. Hơn một giờ sau xe quay lại, cô gái lại ra khỏi xe vẫy tay chào trong nhà, cậu cá kèo nói gì đấy cô ta cười gật đầu từ biệt. Bây giờ thì cậu ta chẳng còn chút buồn nào nữa, vợ tôi cũng vui lây, có lẽ bà cảm thấy như có lỗi vì cách đối xử của Thục Anh hôm trước, nay đã có một cô gái thay thế con gái bà trong quả tim anh chàng tội nghiệp nầy rồi. Rồi đây, khi Thục Anh chọn được một đối tượng, các cậu kia cũng sẽ buồn như vậy, có khi buồn hơn vì ấp ủ nhiều hi vọng hơn.

            Vợ chồng tôi cứ áy náy về cách xử sự vụng về của Thục Anh, cho nên chúng tôi dự định một dịp nào đó sẽ bắt Thục Anh xin lỗi cậu ta và chúng tôi sẽ nói mấy lời an ủi để cậu khỏi buồn. Một buổi tối, chúng tôi gọi Thục Anh ra phòng khách, tôi nói “Ba mẹ thấy con đã lớn mà không tế nhị chút nào. Các bạn của anh con, đứa nào cũng đứng đắn, học hành chăm chỉ, ăn nói lễ độ. Dĩ nhiên ba mẹ không ép con thương người nầy hay ghét người kia, nhưng dù gì con cũng phải chứng tỏ mình tế nhị, lịch sự. Riêng tập thơ bạn con tặng, coi bộ con dững dưng quá. Con có biết, khi người ta yêu, chỉ với tâm hồn say đắm mới làm được những bài thơ. Thơ dỡ không phải vì yêu ít. Nhưng ba đoán thơ đã được đăng trên báo ít ra nó cũng có giá trị về một khía cạnh nào đó chứ không phải hoàn toàn không đọc nổi. Ba mẹ rất vui khi thấy con bày tỏ lòng biết ơn với các anh tặng quà, biết cách làm cho mọi người vui vẻ dù giá trị món quà ra sao đi nữa, tại sao con không làm như thế với tập thơ? Lẽ ra lúc đó, sau khi mở quà, con phải đem ra một bài thơ để ngâm hay đọc lên cho mọi người cùng thưởng thức, con có thể không nói tên tác giả, nhưng để chứng tỏ rằng con hiểu được tình cảm của anh ta, chứng tỏ con có những nét đẹp cao quí đã làm rung động tâm hồn người khác. Ai cũng có thể cho bao nhiêu quà tùy thích, nhưng thơ thì chịu. Ðó là ân sủng của Thượng Ðế, người ta đã đem tặng con với tất cả tấm lòng, với bao tình yêu thương…

            Ba nói hơi nhiều, bây giờ ba đề nghị thế nầy, sáng mai chủ nhật con mời anh ta đến và nói lời xin lỗi cũng như cám ơn tấm lòng của anh ta, ba tin con biết cách nói cho anh ta hiểu rằng con rất hãnh diện và cảm động được anh ta quan tâm thương yêu, nhưng thời gian sẽ giúp con trả lời và những bài thơ đó con sẽ giữ gìn như một kỷ niệm quí nhất, đẹp nhất trong đời”

            Thục Anh đứng yên lặng nghe, nó có vẻ buồn buồn, tôi không hiểu nó đang nghĩ gì, nhưng lòng tôi rung động một tình phụ tử. Tôi tưởng nó đã lớn, đã thay đổi rồi, nhưng giờ đây trước mắt tôi, khuôn mặt, đôi mắt, chiếc miệng đó vẫn y nguyên như thời thơ ấu, nhất là khi nó sắp khóc, khiến tôi nhớ lại lúc nó còn nhỏ mỗi khi tôi giận dữ, la mắng điều gì, hễ mắt nó rơm rớm là lòng tôi chùng xuống, giận dữ tiêu tan, chỉ còn tình thương đứa con bé bỏng. Tôi ân hận, có lẽ đã nặng lời với nó chăng? Hay nó có tâm sự gì buồn? Vợ tôi cảm thấy điều đó, bà ôm Thục Anh vào lòng, nó bỗng khóc nấc trên vai bà. Tôi hôn lên đầu nó và thì thầm” Ba xin lỗi con!”.

            Sáng chủ nhật hôm sau, anh chàng cá kèo đến, Thục Anh tiếp ở phòng khách. Chúng tôi không muốn xen vào, chỉ ngồi ở phòng ăn. Tôi uống cà phê, vợ tôi loay hoay trong bếp nhưng đôi tai vẫn hướng về phòng khách. Phòng ăn sát với phòng khách, chúng tôi loáng thoáng nghe được cuộc đối thoại “Hôm trước thấy anh uống rượu mà ghê, tưởng bị cảnh sát bắt nhốt rồi chứ” “Ðâu có say, uống cho vui” Im lặng…“Mấy bữa nay đi với người đẹp vui không? Em thấy chị ấy đẹp lắm đó, em cũng phải mê, lại có xe mới tinh. Chúc mừng anh hạnh phúc” “Mới quen thôi. Buồn quá… Chứ có gì vui đâu!” Lại im lặng, tôi nhìn vợ tôi lắc đầu, cuộc hòa đàm coi bộ đi lạc đề rồi. Có tiếng giấy sột soạt “Cho em gửi lại anh tập thơ, em không xứng đáng để anh ca tụng, bây giờ có người đẹp hơn, thơ anh phải hay hơn rồi. Lúc tối, đọc tập thơ nầy em mắc cỡ quá, em xấu xí vụng về, nhà quê quá nên anh chọn người khác cũng phải, chắc anh hối hận ghê lắm khi đã lỡ làm thơ về em” “Không có đâu, không ai làm thơ ca tụng hoa hậu cả. Nhưng anh đã thề sẽ không bao giờ làm thơ nữa” “Sao vậy?” “Vì em không hiểu anh” “Sao anh biết em không hiểu? Mấy năm nay… Em đọc thơ anh đến thuộc lòng” “Hiểu mà không thèm để ý” “Sao anh biết? Không lẽ em phải la to lên là em để ý anh sao? Anh phải biết chứ. Em tức quá!” “Ðể ý sao thấy lạnh lùng!” “Em tưởng anh đã biết những gì em nghĩ về anh rồi. Tại anh không nhìn em. Anh chỉ giỏi nhìn trộm, khi em nhìn lại thì ngó lơ chỗ khác… Em không muốn ai biết gì hết, không muốn ai xen vào” “Thật hả? Anh buồn quá, cứ ân hận, thà đừng tặng tập thơ. Coi như yêu thầm phải sung sướng hơn không. Em biết anh làm thơ về em mà khi tặng tập thơ, em vẫn hững hờ… Anh nghĩ rằng em không có chút cảm tình nào với anh cả” “Em tức quá! Thôi được rồi, vì em không có cảm tình với anh nên anh tìm người khác. Bây giờ xin anh đừng nghĩ gì đến em nữa. Cho em gửi lại tập thơ, anh về chỉ cần xóa tên em, viết tên người đẹp vào đem tặng người ta, anh sẽ được người ta vồn vã, ân cần chứ không giống em, xấu xí, lạnh lùng” “Người đẹp nào?” “Con nhỏ hôm rồi chứ người nào nữa! Chuyện trò, cười nói thân mật quá, lại còn đem xe đến rước đi ăn điểm tâm nữa” “Anh thề với em, anh mới gặp lần đầu và hôm đó là lần duy nhất” “Anh đừng xạo nghe! Không lẽ anh thuê nó đến đón anh? Em không phải con nít đâu mà nói láo, không ai tin đâu” Có tiếng giấy sột soạt “Ðây, hình cô ta trên báo đây, có phải cô đó không? Chữ realtor (trung gian mua bán nhà) rành rành. Cô nầy còn đẹp hơn nữa. Anh muốn cho mấy đứa ngán thôi chứ đâu có gì” “Anh lợi dụng người ta để chọc tức em chứ gì? Anh không mua nhà mà giả bộ tìm nhà để người ta đưa đón, anh có thấy xấu hổ không?” “Anh đi coi nhà thực mà, tìm giùm nhà cho người bạn” “Ðừng chối quanh. Bạn anh làm gì có tiền. Ði học thì tiền đâu mua nhà?” “Gọi là bạn chứ anh ta cũng lớn tuổi rồi. Lúc vượt biên ở đảo, bọn anh sống với nhau, qua đây anh ta làm hai jobs, để dành tiền mua nhà đón vợ con qua” Lại yên lặng… “Em mà không đi học xa đừng hòng em nói cho mà biết. Người ta thương!.. Chưa gì đã lăng nhăng. Lúc tối em tức phát khóc…” Rồi nó lớn tiếng “Bây giờ về đi, chứ ngồi đó làm gì nữa? Ðưa lại em tập thơ. Ðứng lên!.. Cúi xuống! Cúi xuống nữa! Sao cao quá vậy?!” Vẫn giọng lạnh lùng đó, như đang đốp chát với mấy đứa em nó! Vợ tôi lầu bầu “Con nhỏ nầy… Sau nầy ăn hiếp chồng dữ lắm!” Và bà nhỏm dậy, định ra giữ thằng bé lại ăn điểm tâm, nhưng mới đến cửa, bà khựng lại, ngoắc tôi đến.

            Tôi biết rõ Thục Anh, bao nhiêu con trai đến nhà tôi thường xuyên, đố đứa nào đụng được chéo áo nó. Nó giữ ý, nghiêm trang lắm. Vậy mà giờ đây nó đang hôn lên trán anh chàng thi sĩ si tình mấy cái. Rồi vừa cười nho nhỏ, nó vừa vò vò đầu cậu ta như đang đùa với một em bé.

Phạm Thành Châu

Views: 861

Ban Mê Thuột, Trận Mở Đầu Cộng Sản Việt Nam Tổng Công Kích 1975

Vũ Thụy Hoàng

VTT-ZZNOV-11-SaiGonTuyenTrangLGT: Với sự chấp thuận của tác giả, chúng tôi đăng lại bài bút ký dưới đây, trích từ tác phẩm “Sài Gòn Tuyết Trắng” (ấn bản lần thứ tư, xuất bản năm 2000)  của Vũ Thụy Hoàng, một khuôn mặt quen thuộc trong số các nhà văn, nhà báo tên tuổi  ở Virginia. Vũ Thụy Hoàng từng ở trong ngành báo chí 49 năm, trong đó có 33 năm với Washington Post,  là tác giả của 4 tác phẩm: Rồng Vàng Vượt Biển, Sài Gòn Tuyết Trắng, Quê Hương Thương Ghét Múa Bút.

Vũ Thụy Hoàng cũng là một hội viên viễn cư của Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông Hoa Kỳ, hiện đang cư ngụ tại California.

anloc051

Ban Mê Thuột vào chập tối hôm 9 tháng 3, 1975 vẫn là địa đàng đối với cuộc sống cặp kè cạnh tử thần của Thiếu Úy Thám Báo Nguyễn Công Phúc. Ở đây Phúc có người tình say đắm ngóng chờ. Ở đây Phúc được thưởng thức hương vị thơm nóng của ly cà phê, ngồi phà nhẹ làn khói thuốc, ru lòng nghe tiếng hát ngọt ngào của những ca sĩ qua loa âm thanh nổi. Đó là những thứ Phúc thèm nhớ nhất trong những ngày lẩn lủi ở rừng sâu giữa lòng địch.
Trẻ tuổi, quả cảm, ưa thích văn nghệ, Phúc vừa trở lại Ban Mê Thuột lúc chiều. Mười ngày qua Phúc cùng đại đội thám báo được phái đến Bandon, một địa điểm heo hút cách Ban Mê Thuột chừng 40 cây số về phía tây bắc gần sát biên giới Kampuchia. Bandon trước kia là một căn cứ của Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu được Biệt Kích Mỹ huấn luyện, rồi sau đấy chuyển sang thành Biệt Động Quân Biên Phòng. Căn cứ nằm trấn ngang hành lang đường mòn Hồ Chí Minh của quân Bắc Việt xâm nhập vào nam.
Thám báo được coi là những binh sĩ thuộc loại ưu tú nhất, thiện chiến nhất và gan dạ nhất. Thiếu Úy Phúc là trung đội trưởng thuộc đại đội thám báo của Trung Đoàn 45, Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Hậu cứ của sư đoàn đặt tại Ban Mê Thuột.
Trong những đêm rải quân ra ngoài nằm giữa núi rừng vắng lặng, Phúc và đồng đội nghe thấy tiếng xe di chuyển, hoặc tiếng đốn cây sửa đường của Cộng quân. Không phải chỉ gần đây Cộng quân mới ồ ạt và gần như công khai di chuyển người và vũ khí trên đường mòn Hồ Chí Minh. Từ hơn một năm trước, Phúc và những toán thám báo đã khám phá nhịp độ gia tăng và xâm nhập rầm rộ của Cộng quân.
“Mình báo cáo hoài mà chẳng thấy cấp trên làm gì cả. Có lần thượng cấp còn bảo ‘báo cáo nhiều quá rồi, khỏi cần báo cáo nữa,'” Thiếu Úy Phúc kể lại những ngày lặn lội nguy hiểm ở hậu cứ địch để trinh sát. “Thế mà họ vẫn thảy mình vào chỗ chết như chơi. Nhảy vào sau tuyến địch. Ở giữa vùng địch, nếu bị lộ, khó chạy thoát. Chỉ có chết hoặc bị bắt. Chết thì còn đỡ. Bị bắt mới khổ. Nó tra tấn hành hạ. Mình là tai, là mắt của quân đội, nó có thể móc mắt, xẻo tai để trả thù. Trước kia đi công tác xong, có trực thăng đến đón về. Sau này trực thăng ít, có lần phải lội bộ mà về. Chỉ mới hơn tháng trước ngày Tết, tụi này mất sáu toán trinh sát ở gần Thuần Mẫn, một quận lỵ nằm trên đường 14 nối liền Ban Mê Thuột với Pleiku.
“Không có những vụ đi nhảy vào hậu cứ địch, thì lại đi tăng phái. Cứ chỗ nào gay cấn, khó khăn, đánh nhau dữ, thì họ lại đưa mình tới để tăng phái cho đơn vị khác. Tăng phái là đi làm rể với họ, mở đường cho họ đi hành quân. Mình đi đầu lãnh đủ.”
Đang ở Bandon, Phúc và đồng đội được lệnh đi tăng phái cho Đức Lập, một quận nằm về phía tây nam Ban Mê Thuột. Chưa kịp đến thì nghe tin Đức Lập mất, Phúc và đại đội được lệnh về Ban Mê Thuột. Nhưng đường bộ đi Ban Mê Thuột cũng đã bị cắt đứt, xe không đến được để chở đại đội. Một trực thăng Chinook được phái tới và phải bay hai chuyến mới chở hết đại đội có 70 người.
Đến Ban Mê Thuột, đại đội được cử tăng phái cho Trung Đoàn 53 đóng gần phi trường Phụng Dực. Vì đến bất ngờ, và vì doanh trại của trung đoàn không đủ chỗ, đại đội thám báo được chỉ định ra đóng quân ở địa điểm sát phi trường.
Đi rừng nhiều ngày về, lại không được thông báo về tình hình, binh sĩ thám báo như chim được xổ lồng, bay nhảy ra ngoài. Một số binh sĩ muốn về thăm thân nhân. Đại đội trưởng cùng Phúc và mấy sĩ quan khác lên xe Jeep vào thành phố. Chỉ còn đại đội phó và một số lính khác ở lại địa điểm đóng quân.
Phúc muốn ghé lại thăm người tình ở thành phố. Biết ý, đại đội trưởng bảo: “Mày cứ ở đây, Có gì tao cho xe lại bốc.” Phúc cũng không muốn để các bạn lẻ loi lâu, nên hẹn sẽ gặp các bạn ở quán cà phê đường Hai Bà Trưng.
Thành phố Ban Mê Thuột tối chủ nhật 9/3/1975 vẫn sinh hoạt như thường lệ. Tiệm ăn, quán nước, phòng trà, rạp chiếu bóng vẫn mở cửa.
Ban Mê Thuột là thành phố lớn của vùng cao nguyên với dân số chừng 150,000 người, trong đó có nhiều người Thượng. Thành phố đất đỏ này còn nổi tiếng về cà phê, và là nơi trước kia quốc trưởng Bảo Đại thường đến nghỉ ngơi và săn bắn. Với vị thế chính trị và kinh tế đó, Ban Mê Thuột còn là bản doanh của Sư Đoàn 23.
Trong kỳ tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, Cộng quân đã tấn công vào thành phố,và giao tranh ác liệt đã xảy ra trong ba ngày.
Từ đầu năm 1975 Ban Mê Thuột đã mấy lần được báo động là Cộng quân có thể tấn công. “Tin nói Việt Cộng sẽ tấn công đã xảy ra nhiều lần,” Nguyễn Ngọc Vỵ, phó tỉnh trưởng Darlac mà tỉnh lỵ là Ban Mê Thuột, nhớ lại tình hình hồi đó. “Trước Tết đã có tin nói Việt Cộng sẽ đánh Ban Mê Thuột, nên quân dân đều chuẩn bị. Một số người đã tản cư đi, không ăn Tết. Sau không thấy gì, họ trở về. Đến khi lại có tin Việt Cộng sẽ tấn công, tâm lý mọi người là nửa tin, nửa nghi. Ngày 8 tháng 3, đại tá tỉnh trưởng họp, cho biết tình hình nghiêm trọng, Cộng sản sẽ tấn công nhưng không biết ngày nào.”
Ban Mê Thuột vào tối ngày 9/3 như con nai còn thản nhiên nhấm búp non trên cành cây. Nghe tiếng động sột soạt ở gần, nai không biết có cọp dữ núp sau lùm cây sắp sửa nhảy ra vồ.
Từ một địa điểm trong rừng sâu cách Ban Mê Thuột mấy chục cây số, Văn Tiến Dũng và bộ tham mưu đang nóng lòng ngồi chờ “giờ giao thừa,” (1) giờ nổ súng tiến đánh Ban Mê Thuột. Dũng là tổng tham mưu quân đội Bắc Việt được cử vào miền nam trước đó hơn một tháng để trực tiếp chỉ huy trận đánh Ban Mê Thuột, mở màn cuộc tấn công vùng cao nguyên trung phần.
Cuộc tấn công đã được quyết định dứt khoát vào ngày 9/1/1975 tại Hà Nội. Ý kiến đánh Ban Mê Thuột do Tướng Trần Văn Trà đề xướng, thúc đẩy và vận động, trong khi Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt dè dặt chưa muốn (2). Trà là tư lệnh chiến trường B2 bao gồm Nam Bộ và một phần của vùng II. Trước đó Bộ Chính Trị Bắc Việt trong một phiên họp 20 ngày từ 18/12/1974 tới 8/1/1975 đã chấp thuận kế hoạch chiến lược trong hai năm 1975-76, theo đó năm 1975 Cộng quân mở cuộc tấân công lớn và rộng khắp miền nam để tạo điều kiện mở cuộc tổng công kích vào năm 1976.(3) Sau khi phiên họp Bộ Chính Trị bế mạc, ban Thường Trực Quân Ủy Trung Ương họp bàn việc thi hành quyết nghị. Trà được sự tán đồng của Lê Đức Thọ, nhân vật quyền thế thứ hai sau Lê Duẩn. Khi Quân Ủy đang họp, Thọ tới dự, bảo “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Ban Mê Thuột. Ta có gần năm sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được là thế nào”” (4)
Hà Nội chọn Tây Nguyên làm chiến trường chủ yếu, và Ban Mê Thuột làm điểm tấn công vì cho rằng chiếm được Ban Mê Thuột sẽ “tạo ra một thế trận hiểm và cơ động có thể làm thay đổi nhanh cục diện chiến trường” và “dẫn đến việc giải phóng miền Nam.” (5)
Ban Mê Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế và có vị trí chiến lược xung yếu ở vùng cao nguyên. Võ Nguyên Giáp, một chiến lược gia của Hà Nội đã từng nói chiếm được cao nguyên là kiểm soát được Đông Dương. Giáp ranh với Miên, Lào ở phía tây, vùng cao nguyên nối liền với duyên hải bằng quốc lộ 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn, và quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột đi Ninh Hòa. Quốc lộ 14 bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam chạy xuyên cao nguyên qua những tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột xuống tới An Lộc và Tây Ninh. Vì vậy kiểm soát được Ban Mê Thuột là kiểm soát được những con đường ở phía tây đi xuống vùng Sài Gòn. Đã hai lần vào năm 1965 và năm 1972 Cộng quân đã tấn công mạnh ở cao nguyên, mưu toan tiến xuống duyên hải cắt Nam Việt Nam làm đôi.
Vùng cao nguyên này đất rộng, người thưa, nhiều rừng núi và Cộng quân đã dùng làm hành lang xâm nhập người và chiến cụ từ bắc vào nam. Để ngăn chặn những xâm nhập của Cộng quân, Mỹ Việt đã cho thiết lập nhiều căn cứ dọc theo biên giới. Những đoàn Dân Sự Chiến Đấu, trong đó hầu hết là người Thượng, đã được CIA và Biệt Kích Mỹ huấn luyện từ năm 1961. Vùng cao nguyên từng là nơi xảy ra nhiều cuộc giao tranh khốc liệt giữa Cộng quân và các lực lượng Việt Mỹ như trận đánh ở Ia Drang năm 1965 giữa bộ đội Bắc Việt và sư đoàn 1 Không Kỵ của Mỹ mới tới Việt Nam. Trong trận này Mỹ bị 305 người chết, cùng với hàng ngàn Cộng quân (6). Trận đánh dữ dội khác ở Dak To năm 1967 cũng gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên: 287 người Mỹ chết, 985 bị thương, cùng với 347 binh sĩ Nam Việt Nam thiệt mạng; phía Cộng quân 1.200 chết. (7)
Vùng cao nguyên vẫn thường được dự đoán là nơi Cộng quân nhắm vào mỗi khi mở cuộc tấn công lớn, nhưng đoán biết được điểm mà địch sẽ tấn công là điều không dễ.
Để thực hiện kế hoạch tấn công Ban Mê Thuột, bộ tham mưu Hà Nội chọn phương châm “mạnh bạo, bí mật, bất ngờ và nghi binh rất nhiều.” (8)
Trong việc chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Cộng quân huy động tới năm sư đoàn và 15 trung đoàn thiết giáp, pháo binh, phòng không và công binh, với tổng số binh sĩ từ 75.000 đến 80.000.(9) Một phần lực lượng này được bố trí để bao vây, chia cắt và cô lập Ban Mê Thuột với các tỉnh lân cận và đồng bằng thuộc Quân Khu II, đồng thời chặn đánh quân tiếp viện đến giải tỏa cho Ban Mê Thuột. Quốc lộ 19 và quốc lộ 21 vì vậy bị Cộng quân cắt đứùt từ mấy ngày trước khi Ban Mê Thuột bị đánh.
Lực lượng quốc gia phòng thủ ở Ban Mê Thuột chỉ có Trung đoàn 53 thuộc sư đoàn 23, một liên đoàn Biệt Động Quân cùng những đơn vị cơ hữu của hậu cứ, và Địa Phương Quân, Nghĩa Quân.(10) Hai trung đoàn 44, 45 của sư đoàn được đưa đi tăng cường ở vùng Pleiku. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, chỉ huy cũng đã di chuyển lên đóng ở Hàm Rồng gần Pleiku. Tại Ban Mê Thuột chỉ còn bộ chỉ huy nhẹ của sư đoàn và do Đại Tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn, điều hành.
Cộng quân như vậy chiếm ưu thế cả về bộ binh, thiết giáp và trọng pháo trong trận đánh Ban Mê Thuột. Theo Văn Tiến Dũng, bộ binh Cộng quân gấp năm lần rưỡi, xe tăng và xe bọc thép gấp 1,2, pháo lớn gấp 2,1 (11)
Để bảo toàn bí mật, để trận đánh khởi tiến bất ngờ, Cộng quân tìm cách dấu kín lực lượng, bố trí kín đáo các đơn vị và tạo thế nghi binh, làm quân lực Việt Nam Cộng Hòa ước tính sai lầm hướng tấn công của đối phương. Làm như nhắm đánh vào Kontum và Pleiku, Văn Tiến Dũng cho gia tăng những cuộc quấy rối, pháo kích vào hai vùng đó, đánh chiếm đoạn đường trên quốc lộ 19 đi Qui Nhơn, và huy động dân đi làm đường, sửa đường ở vùng họ chiếm đóng. Dũng ra lệnh “đánh một la mười.” (12)
Trong lúc khoa trương khí thế ở phía bắc, Cộng quân âm thầm di chuyển quân xuống phía nam. Tình báo Mỹ cũng bị Cộng quân đánh lừa. Sư đoàn 320 của Bắc Việt kéo quân xuống vùng Ban Mê Thuột, nhưng vẫn để bộ tư lệnh giả ở vùng Đức Cơ gần Kontum và tiếp tục gửi các tín hiệu vô tuyến đi, làm ban kiểm báo của Mỹ và Việt đều tin là sư đoàn đó vẫn ở mạn bắc. (13)
Dũng có ý tập trung ba sư đoàn ở phía nam để bất ngờ đánh như “sét giáng” (14) vào Ban Mê Thuột..
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh Quân Khu 2, vẫn tin rằng mặt trận Kontum, Pleiku là mục tiêu chính của Cộng quân. Khi Cộng quân tấn công và pháo kích vùng Pleiku mấy ngày trước khi tấn công Ban Mê Thuột, Phú còn điều động trung đoàn 45 lên tăng viện cho Pleiku. Tướng Phú định xuống Ban Mê Thuột để xem xét tình hình hôm 8/3, nhưng sau lại hoãn chuyến đi. Cùng ngày đó, Cộng quân cô lập hẳn Ban Mê Thuột bằng cách cắt đứt nốt đường 14, đánh chiếm Thuần Mẫn ở phía bắc, Đức Lập và Dak Song ở phía nam. Chiều ngày 9/3 Tướng Phú mới đáp trực thăng xuống Ban Mê Thuột để họp bàn tình hình. Lúc ông rời đấy, thành phố đang là con mồi làm đích cho những đoàn Cộng quân sắp sửa xuất phát,
Khoảng 10 giờ tối Phúc cùng mấy sĩ quan còn ngồi ở quán cà phê nghe nhạc. Ngoài đường xe Quân Cảnh chạy qua khu thị tứ của Ban Mê Thuột để tìm kiếm quân nhân còn lai vãng ngoài doanh trại. Thấy mấy sĩ quan còn ở quán, quân cảnh đến chào và thông báo Ban Mê Thuột đã có lệnh báo động đỏ, các binh sĩ phải trở về ngay đơn vị, và Cộng quân có thể nổ súng bất cứ lúc nào. Phúc cùng đồng bạn vội nhảy lên xe Jeep, phóng ngay về Phụng Dực.
Phúc và đồng đội nhận lệnh bố phòng và phân chia vị trí phòng thủ. Phúc đốc thúc binh sĩ đào hố cá nhân. Đất cứng, trời lại tối, việc đào hố thật vất vả, lại phải làm gấp rút.
Đi kiểm soát và thanh sát ngoại vi phòng thủ, Phúc bắt gặp đường giây điện thoại dã chiến giăng mắc ở vài nơi. “Cộng quân như vậy đã ở xung quanh mình, có lẽ chỉ cách vài trăm thước. Chúng có thể thấy mình mà không nổ súng vì chưa có lệnh. Lúc ấy vào khoảng nửa đêm,” Phúc kể lại.
Đúng hai giờ sáng ngày 10/3 Cộng quân khai hỏa. Cuộc tấn công Ban Mê Thuột khởi đầu bằng những cuộc pháo kích “bão lửa,” đồng thời xe tăng, đại bác, cao xạ, bộ binh xuất quân, trong lúc những đội đặc công xâm nhập thành phố. Chiến xa địch ở cách Ban Mê Thuột 40 cây số lên đường, dùng phà vượt sông, tiến về Ban Mê Thuột. (15) Mấy mục tiêu chính lúc đầu là sân bay quân sự L19 ở trong thị xã, kho đạn Mai Hắc Đế, tiểu khu Darlac, tòa hành chánh tỉnh, bộ tư lệnh sư doàn 23, và hậu cứ của trung đoàn 53 sát phi trường Phụng Dực.
Tại phi trường L19 một trực thăng bay lên bị bắn rớt. Các máy bay khác bị tiêu hủy. Tại kho đạn đại úy chỉ huy bị nội công bắn chết khi vừa ở trong phòng bước ra.
Lúc Việt Cộng bắt đầu pháo kích, Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ đang ở tòa hành chánh tỉnh. Tòa tỉnh sau cũng bị pháo,Vỵ liền đưa gia đình, gồm vợ và sáu con nhỏ từ 2 đến 11 tuổi, ra khỏi tòa hành chánh, đến ở nhà một người dân ngoài phố, rồi quay trở lại tòa tỉnh. Sau đợt pháo, từ bốn giờ trở đi, Vỵ nghe có tiếng súng nhỏ ở mấy nơi xa xa. Vỵ ra thăm lại gia đình. Dọc đường Vỵ gặp mấy người Thượng chạy vào cho biết Việt Cộng đã kéo về đầy buôn của họ. Vỵ dặn gia đình nếu có bề gì thì trà trộn lẫn vào trong đám đông đồng bào.
Khoảng gần 7 giờ Vỵ chạy sang tiểu khu. Một trái đạn pháo của địch nổ cách Vỵ có mấy thước. Chiếc xe bị lật. Vỵ bị tung khỏi xe, lăn xuống đường. Lính đưa Vỵ vào trong tiểu khu và Vỵ liên lạc được với Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng.
Đến khoảng 9 giờ, tiểu khu cháy gần hết vì bị pháo, trừ khu truyền tin. Đại Tá Luật cùng Vỵ chạy sang bản doanh sư đoàn. Vừa ló ra khỏi tiểu khu, “thấy Việt Cộng đông như vịt,” Vỵ phải chạy trở lại tiểu khu và tòa hành chánh. Vỵ và một thiếu tá dùng súng bắn nhau với Việt Cộng. Mấy phút sau, một trái đạn pháo kích nổ cách chỗ hai người chừng năm sáu thước, Hai người thấy tình hình nguy hiểm, tìm lối rời bộ chỉ huy tiểu khu. Tiểâu khu lúc ấy không còn mấy ai. Hai người đến được bộ tư lệnh sư đoàn, lính canh không chịu mở cổng. Đại Tá Luật cũng tới nơi, phải xưng danh, sau đấy Đại Tá Vũ Thế Quang, tư lệnh phó sư đoàn phải ra nhận diện rồi cho lệnh, lính mới mở cửa.” Vỵ vào được bộ tư lệnh khoảng 11 giờ rưỡi.
Bộ tư lệnh sư đoàn đến lúc này vẫn chưa bị tấn công và vẫn tiếp tục liên lạc với sư đoàn, quân đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Qua máy truyền tin, Thiếu Tá Hy, trưởng phòng 3, còn báo cáo đã diệt được 12, 13 xe tăng của địch. Bộ tư lệnh cho rằng sớm muộn Cộng quân sẽ cho xe tăng đến tấn công, nên đã bố trí sẵn bốn khẩu súng bắn chiến xa 57 ly ở cổng chính và đặt chiến xa ở vòng ngoài. Ban Mê Thuột cũng xin Không Quân đến oanh kích những địa điểm tập trung của Cộng quân, và yểm trợ bộ binh để đánh lui các cuộc tấn công của địch.

Đêm đó, tình hình lắng đọng, “một thứ yên lặng ghê sợ,” theo lời Phó Tỉnh Vỵ. Mọi người đều hồi hộp chờ đợi cuộc tấn công nữa của Cộng quân. Lúc này Vỵ thấy đói. Lương thực cũng như đạn dược lại nằm ở ngoài vòng đai của Bộ Tư Lệnh.
Sáng ngày 11, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 phấn khởi khi được tin có những phi vụ bạn đến oanh kích Cộng quân. Máy bay tới liền bị súng phòng không địch bắn lên dữ dội. Phi cơ bay tít trên cao và thông báo không thấy rõ mục tiêu oanh kích. Ban Mê Thuột được biết nửa giờ sau sẽ có phi vụ khác.
“Lúc 7 giờ 5 phút, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 bị trúng ngay trái bom của phi cơ thả xuống. Máy truyền tin bị tê liệt, không liên lạc được với bên ngoài. Mọi người hoang mang, mất tinh thần, lo chạy ra khỏi hầm. Vừa lúc đó, một trái bom khác nổ, làm sập cửa hầm, bít kín mất lối ra. Ai nấy sợ hãi, tuyệt vọng, mò mẫm trong đường hầm tối thui để tìm lối thoát. Có người dẫm cả vào thương binh. Moi móc gạch vụn mất 15 phút sau mới tìm thấy lỗ để chui ra. Mới ngoi lên khỏi hầm thì thấy xe tăng Cộng quân ở phía xa. Dãy nhà tôn ở gần đấy đã bay mất mái có lẽ vì sức ép của hai trái bom. Lính cũng chạy ra theo Đại Tá Luật. Đại Tá Quang đứng ở trên, một tay cầm khẩu Colt, tay kia chống nạng sườn, hỏi ‘Đại Tá Luật đâu” PC (bộ chỉ huy) sập, phải tái lập.'”(16)
Đại Tá Quang chỉ lối chạy sang khu thiết giáp nằm khuất sau bệnh viện. Một số lính chạy theo. Khu thiết giáp còn hơn chục chiếc thiết vận xa M113 và một số lính. Thấy không thể ra lối trước vì sẽ đụng đầu với xe tăng của địch, Đại Tá Quang ra lệnh cho thiết giáp cán lên hàng rào kẽm gai ở phía sau mà đi.
Toán quân có chừng 200 người thoát xuống được thung lũng, đến suối Đốc Học là chỗ khuấât và hơi kín. Suối lúc này cạn vì là mùa khô. Tưởng là thoát nguy, nhưng rồi thấy Việt Cộng ở cách đó không xa. Lính được dàn ra, bố trí, mai phục sẵn. Đại Tá Quang định tử thủ tại đấy, nhưng Đại Tá Luật cho chỗ đó trống trải quá. Hai người bàn cách đến trung tâm huấn luyện binh sĩ của sư đoàn để từ đấy bắt liên lạc lại với các đơn vị. Trung tâm này lại nằm phía bên kia thị xã Ban Mê Thuột. Muốn đến đó, phải theo đường đi qua thị xã, hoặc băng rừng vòng quanh thị xã. Đại Tá Quang, từng ở Nhảy Dù, muốn liều dẫn quân xâm nhập qua thành phố vào lúc đêm tối để tới trung tâm. Ông cho rằng Cộng quân có thể chưa kịp nắm vững tình thế ở thị xã đêm đó. Đại Tá Luật thấy lối đó táo bạo và nguy hiểm, muốn đi đường vòng qua rừng để đến trung tâm. Bàn luận một hồi, hai ông quyết định phân tán, cho lính muốn theo ai thì chọn. Có chừng 50 người theo Đại Tá Luật. Số còn lại theo Đại Tá Quang. Hai toán chia tay nhau vào khoảng 11 giờ.
Vỵ là phó tỉnh nên theo Đại Tá Luật, tỉnh trưởng. Toán này lội bộ đến Buôn Ky gần đồn điền cà phê của cựu Trung Tướng Thái Quang Hoàng. Đi một lúc, Đại Tá Luật bảo mình đi lạc xa mục tiêu cả bảy cây số. Vừa vượt qua một ngọn đồi trọc, toán quân thấy xe tăng của Cộng quân. Cộng quân cũng nhìn thấy họ.
“Xe tăng quạt mấy loạt liên thanh. Đoàn người chạy trở lại phía sau đồi. Chạy mới được 10 thước, Đại Tá Luật té đánh bịch. Mọi người lo chạy cho lẹ. Cố theo nhau mà chạy. Lúc chạy trốn, mình không sợ chết, mà chỉ sợ lạc. Chạy được ba bốn cây số, sang tới một đồi khác, toán của Vỵ chỉ còn một thiếu tá, một đại úy và một trung úy. Ai nấy quần áo tơi tả, rách bươm. Có người chỉ còn may ô, quần đùi,” Vỵ kể lại.
Áo của Vỵ rách nát vì vướng cành cây, bụi rậm. Lẩn vào khu trồng cà phê, Vỵ tựa người vào gốc cây. Vừa đói, vừa mệt, Vỵ ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Vỵ chỉ giật mình thức dậy khi nghe nói “Chúng mày ngụy!” Vỵ mở mắt, thấy mấy mũi súng đang chĩa vào mình. Mấy thanh niên mặt trẻ măng nhìn chằm chặp vào Vỵ. Rồi chúng xông vào trói Vỵ, giải đi.
Ba ngày sau được đến chỗ mới, Vỵ gặp lại Đại Tá Luật bị giam cùng một chổ. Đại Tá Quang bị Việt Cộng bắt ở một địa điểm khác.
Được tin Ban Mê Thuột bị tấn công, Quân Đoàn II điều động lực lượng của sư đoàn 23 ở Pleiku về tiếp cứu. Bộ Tư Lệnh lúc đó đang ở Hàm Rồng. Binh sĩ sư đoàn rất nóng lòng về cứu Ban Mê Thuột vì nhiều người có gia đình tại thành phố hậu cứ của sư đoàn. Cả lính kèn cũng tình nguyện về, theo lời Trung Úy Trần Hùng thuộc phòng 3 của sư đoàn. Vì phải đợi có trực thăng, quân tiếp viện mãi hai ngày sau mới được đưa về Phước An, cách Ban Mê Thuột chừng 30 cây số về phía đông. Trên đường vào giải vây cho Ban Mê Thuột, quân tiếp viện mới đi chừng 10 cây số thì bị chặn đánh, tiến không nổi vì địch có chiến xa. Theo Philip B. Davidson, binh sĩ khi về đến Phước An lo đi tìm kiếm vợ con, và khi gặp vợ con thì bỏ hàng ngũ đưa gia đình đi. (16)
Những cơ sở đầu não ở Ban Mê Thuột bị đánh chiếm trong hai ngày đầu Việt Cộng tấn công vào thành phố. Mấy ngày sau Sài Gòn chưa nhìn nhận Ban Mê Thuột thất thủ vì chiến trận còn tiếp diễn ở khu gần phi trường nằm phía ngoài thị xã. Góp phần đáng kể vào việc kéo dài trận chiến là một đại đội chừng 70 binh sĩ tinh nhuệ, gan lì, được huấn luyện đặc biệt và quyết tâm hăng say chiến đấu đến cùng. Tham gia trận chiến Ban Mê Thuột ngay từ ngày đầu, và là đơn vị sau chót rút khỏi đấy là đại đội thám báo mà Thiếu Uý Nguyển Công Phúc là một trung đội trưởng.
Đại đội đã chiến đấu trong hoàn cảnh cô đơn, cam go, căng thẳng và thiếu thốn súng đạn, lương thực. Họ đã gây tổn thương nặng cho một tiểu đoàn địch, giúp Trung Đoàn 53 của bạn chống trả lại những đợt tấn công mãnh liệt của đối phương, đồng thời chấm tọa độ hướng dẫn pháo binh bạn bắn vào những vị trí địch.
Một trong những yếu tố để đại đội đạt được thành tích trên và tồn tại mà chiến đấu bền bỉ nhất ở Ban Mê Thuột là Cộng quân không biết vị trí đóng quân kín đáo và bất ngờ của đại đội. Cộng quân khi tấn công Trung Đoàn 53 đã bị thúc mạnh vào cạnh sườn vì không biết có đại đội thám báo nằm quanh những ụ đất dùng để che chở cho máy bay ở phi trường và gần rừng cao su phía ngoài căn cứ của trung đoàn. Đại đội mới nhận vị trí đóng quân ở đấy vào buổi chiều. Chỗ đóng quân lại không phải là doanh trại. Quanh phi trường lại có những bãi trống, địch tiến quân dễ bị phát hiện.
Trong những giờ đầu của cuộc tấn công, Phúc theo dõi tình hình mặt trận qua máy truyền tin. Được trang bị hệ thống truyền tin tối tân hơn những đơn vị bộ binh thông thường khác, đại đội thám báo có thể liên lạc với những đợn vị bạn theo hàng dọc, mà cả với mấy đơn vị theo hàng ngang như quân đoàn, sư đoàn và không đoàn ở Nha Trang. Nhờ vậy Phúc biết thêm một số diễn tiến ở trận chiến. Trong đêm tối, giữa những tiếng gầm thét và những tia chớp lóe sáng của đạn pháo kích, Phúc nghe qua âm thanh hỗn loạn của máy truyền tin tiếng những đơn vị bạn gọi nhau ơi ới, báo cáo tình hình, yêu cầu bắn yểm trợ hoặc điều quân tiếp cứu.
Trung Đoàn 53 đêm đầu bị pháo kích mạnh. Đến 5 giờ sáng căn cứ bị địch tấn công từ hai phía đông bắc và đông nam. Địch chiếm được một phần căn cứ. Vào khoảng 8 giờ, quân trú phòng phản công, Cộng quân bị đánh dạt sang một bên. Một cánh quân Việt cộng đã chạy về phía tây nam qua khu đất trống của phi trường. Họ trở thành “những con mồi, những mục tiêu bắn bia,” theo lời Phúc, cho những tay súng thám báo nằm phục sẵn ở bìa rừng cao su gần phi đạo.
Thu dọn chiến trường vào buổi chiều, đại đội thám báo đếm được trên 40 xác Việt Cộng bỏ lại, cùng với hơn 100 nón cối, tịch thu một số vũ khí, đạn được và quân trang, trong đó có năm hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Một số súng đạn này sau được dùng để bắn lại Cộng quân trong mấy ngày sau.
Cuốn nhật ký tịch thu trên người một đại đội trưởng Việt Cộng cho biết anh ta thuộc tiểu đoàn K5 của sư đoàn 316 từ Bắc Việt xâm nhập. Đây là một sư đoàn cơ giới trên đường xâm nhập vào Nam đã sử dụng trên 500 chiếc xe lớn để chuyên chở binh lính, trong đó có cả chiến xa, xe bọc thép, đại bác tầm xa, cao xạ và những loại xe vận tải khác. (17) Nhiều xác lính Việt Cộng còn mang theo những khẩu hiệu “Mình Đồng, Vai Sắt.” “Ăn No, Đánh Thắng” “Bí Mật, Bất Ngờ.”
Hăng say với thắng lợi ngày đầu, Phúc và binh sĩ thám báo hôm sau càng thêm mừng rỡ, phấn khởi hơn nữa khi hay tin quân tiếp viện được đưa về giải vây cho Ban Mê Thuột. Trung Đoàn 44 được gửi tới gần Buôn Hồ ngày 11/3. Ngày hôm sau Trung Đoàn 45, là trung đoàn gốc của đại đội, được trực thăng vận xuống Phước An.
Nhưng niềm phấn khởi đó bị xẹp mau, khi được biết tiểu khu Darlac bị mất, bộ tư lệnh sư đoàn 23 bị chiếm, rồi quân tiếp viện không vô nổi và đã bỏ chạy lúc đụng đầu với xe tăng Việt Cộng.
Binh sĩ thám báo cũng thấy nao núng, mất bình tĩnh khi thấy trực thăng tản thương bị bắn rơi, thương binh không được di tản. Họ cũng tiếc xót nhìn những dù tiếp tế không rơi xuống phần đất của mình, mà nằm vật vờ trên mặt đất trống giữa mình với địch. Bên nào mon men định ra kéo dù vào liền bị bên kia bắn chặn. Những dù đó nằm suốt ngày ngoài nắng, chờ đêm tối mới có người liều lĩnh ra kéo.
Trong những ngày chiến đấu kế tiếp với Việt Cộng, Phúc và đồng đội còn trải qua nhiều nguy hiểm, gian lao, khổ cực. Không có đủ lương thực và súng đạn, họ phải dùng súng đạn và lương thực tịch thu được của Việt Cộng. “Lương khô của chúng được ép thành miếng như bánh đậu xanh. Ăn vào khát nước muốn chết. Anh em phải xuống con suối ở cạnh ngọn đồi cuối phi đạo để lấy nước. Quân mình đã dặn nhau đi lấy nước cũng phải mang súng theo. Thấy tên nào lấy nước mà không có súng, thì đó là địch, được quyền bắn.
“Đánh nhau, quần áo bị rách nát hết. Phải lấy quần áo tịch thu được trong túi đeo lưng của xác Việt Cộng. Mấy anh em mặc đồ Việt Cộng và dùng súng Việt Cộng đi đánh nhau, nên có lúc bị binh sĩ Trung Đoàn 53 tưởng là Việt Cộng, bắn chối chết. Mình phải la lên trong máy, họ mới thôi,” Phúc nhớ lại.
Trong cả tuần lễ liên tiếp giao tranh và bị địch pháo kích, Phúc và đồng đội mệt mỏi vì thiếu ăn thiếu ngủ. Phúc nói: “Đêm không được chợp mắt. Phải lo bố phòng, sợ địch xâm nhập. Sáng ra, chia nhau thành toán nhỏ, đi đánh giải tỏa vòng vây. Đánh theo kiểu những toán trinh sát, nhảy dù, di động luôn để giải tỏa áp lực, rồi tránh né, rút lẹ, chứ không theo kiểu dàn trận của tiểu đoàn bộ binh. Vì vậy địch không biết đơn vị có bao nhiêu người, không biết chiến tuyến chỗ nào. Lúc không đánh nhau thì núp trong hố cá nhân để địch không nhìn thấy. Hố được đào khoét trong những ụ đất có sẵn để bảo vệ máy bay. Cao bốn năm thước, bề dày hai ba thước, những ụ đất này là nơi ẩn nấp tốt cho mình và đồng đội.
“Vừa đói khát, lại không được nghỉ ngơi, anh em mệt mỏi cả thể chất lẫn tinh thần. Đầu óc căng thẳng, hồi hộp khi nhìn thấy đồng đội bị bắn banh xác, người bị thương kêu la rên rỉ, thật như sống trong cảnh địa ngục. Lúc chưa vào cuộc thì sợ, nhưng khi ở trong cuộc rồi, mất sợ hết trơn. Anh em giữ được tinh thần cũng nhờ kỷ luật nghiêm khắc. Tới lúc đó, bất tuân lệnh là có quyền bắn bỏ.”
“Đêm ngày 16/3, Việt Cộng pháo tàn bạo như địa chấn. Thám báo liên lạc với trung đoàn. Gọi trung đoàn mãi, không có trả lời. Chỉ có im lặng. Mình cảm thấy nỗi cô đơn ghê sợ. Cô đơn và tuyệt vọng. Đau đớn và chán chường. Muốn khóc. Muốn nổi khùng. Thế là hết. Thì ra họ đã rút chạy.
“Chỉ còn mấy chục anh em ở lại, lọt giữa lực lượng đông đảo của địch. Mình liên lạc được với quân đoàn, xin cho máy bay đến oanh kích địch sáng hôm sau để anh em mở đường máu chạy thoát. Quân đoàn đồng ý.
“Gần sáng Việt Cộng cho xe tăng tấn công căn cứ Trung Đoàn 53. Bộ binh Cộng quân theo xe tăng vào chiếm căn cứ. Chiếm xong, Cộng quân chuẩn bị tiến sang phía phi trường thanh toán nốt những ổ cuối cùng còn sót lại của đại đội thám báo. Đúng lúc Cộng quân đang tập trung quân, phi cơ được thám báo hướng dẫn đến dội bom xuống đầu địch. Nhờ những trái bom thả đúng lúc, chặn đứng đà tiến của xe tăng và quân địch, đại đội thám báo còn lại hơn năm chục người rút chạy, lẩn vào khu rừng cao su.
“Thoát khỏi trận chiến, đoàn thám báo lúc này tơi tả, hốc hác và kiệt sức mà vẫn phải cố lết đi, tìm đường xuống phía nam nhắm hướng về Đà Lạt. Đến gần chi khu Lạc Thiện, một quận thuộc tỉnh Darlac, đám quân còn chừng 30 người mừng rỡ bắt được liên lạc vô tuyến với chi khu. Họ vui sướng tìm mau chỗ nghỉ chân sau những ngày sống sát thần chết. Chi khu yêu cầu cho biết chỗ đang ở.
“Ít phút sau, đạn pháo rơi ào ào xuống toán thám báo còn đang nằm lăn ra nghỉ. Rồi địch nổ súng tấn công. Lại chạy tứ tán. Người chết, người bị thương.”(18)
Phúc chỉ còn 15 người chạy theo được. Thấy đường đi về phía Đà Lạt không thành, Phúc tìm đường đi về hướng đông, hy vọng tới những tỉnh vùng duyên hải. Qua một hai ngày băng rừng, vặt lá đào cây để ăn, nhóm của Phúc lại lọt vào một ổ phục kích của Cộng quân. Phúc và một y tá thoát ra khỏi ổ phục kích, nhưng rồi rút cục cũng bị bắt lúc đang vục mặt xuống vũng nước để uống. Hôm đó là ngày 22/3.
Sau này vào trại cải tạo, Phúc gặp một sĩ quan ở chi khu Lạc Thiện, liền trách cứ vụ bị pháo kích. Sĩ quan cho biết Cộng quân đã chiếm Lạc Thiện từ mấy ngày trước và vẫn dùng tần số cũ để liên lạc với những toán quân khác của quân đội Cộng Hòa. Lúc ấy Phúc mới biết mình mắc bẫy khi tiết lộ tọa độ đóng quân.

Vũ Thụy Hoàng

________________________________________________________________
Chú Thích
1. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 79
2. Davidson, Phillip B., Vietnam at War , trang 758-762
3. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 35
4. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 37
5. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 44-45
6. Moore, Harold G. & Galloway, Josepht L., We were Soldiers Once…and Young, trang xvi
7. Tucker, Spencer C., Vietnam, trang 135
8. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 37
9. Davidson, Phillip B., Vietnam at War , trang 768
10. Davidson, Phillip B., Vietnam at War , trang 770
11. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 57
12. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 69
13. Snepp, Frank , Decent Interval, trang 171
14. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 52, 91
15. Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, trang 81
16. Nguyễn Ngọc Vỵ, nói chuyện ngày 5/1/1980 và 1999
17. Davidson, Phillip B., Vietnam at War , trang 773; Hosmer, Stephen & Kellen, Konrad & Jenkins, Brian M., The Fall of Vietnam, trang 85.
18. Nguyễn Công Phúc, nói chuyện năm 1978 và 1999.

Views: 1595

Còn Gì Để Lại

Nguyễn Quang Dũng

congidelai-nnb-image

 1.  Những tấm hình gần nhất trước ngày D…

Ngày chủ nhật 7 tháng 2, 2016 tôi gặp Thầy Nguyễn Ngọc Bích và Cô Đào Thị Hợi tại Chợ Tết Cộng Đồng Người Việt Vùng Hoa Thịnh Đốn. (Tôi gọi GS Nguyễn Ngọc Bích là Thầy vì Thầy Bích có thời gian giảng dạy ở Đại Học George Mason, Virginia:  Thầy phụ trách giảng dạy  lớp  Truyện Kiều, bằng tiếng Việt, tiếng của người mình).  Thầy Bích đang lui hui bày những cuốn sách của Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ trên bàn. Tôi đến chào Thầy và lấy xuống xem một cuốn sách sử ký của sử gia Lê Mạnh Hùng mà Thầy trưng bày ở chổ cao nhất trên giá đựng sách. Chắc Thầy nghĩ tôi chỉ đến xem cho vui, hay mua một cuốn “ủng hộ” gian hàng sách của  Thầy. Nhưng khi tôi thưa với thầy là tôi muốn mua trọn bộ 5 quyển “Nhìn Lại Sử Việt”  thì Thầy vui lắm. Thầy nói với tôi: “Lẽ ra trọn bộ giá $133, nhưng tôi sẽ “discount” cho anh và chỉ lấy $100”. Thầy cho 5 cuốn sách vào túi nylon xong thì tôi xin chụp Thầy và Cô một tấm hình kỷ niệm dưới đây:

DSC01095

Ngày thứ hai 8 tháng hai, 2016, mồng một Tết Bính Thân, tôi gặp lại Thầy Bích trong bộ quốc phục cổ truyền , áo dài, khăn đóng, với khăn quàng cổ màu vàng  ba sọc đỏ. Thầy cười vui trong buổi lễ Chào Cờ đầu năm mới  Bính Thân 2016 do Cộng Đồng Việt Nam vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức. Tôi đang đứng cạnh anh Nguyễn Kim Hương Hỏa, Hội trưởng Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh Miền Đông nên mời Thầy chụp chung một tấm hình với anh Hương Hỏa.  Thầy và Hội Hành Chánh vốn thân thiết với nhau đã lâu, năm nào Thầy Bích và Cô Hợi cũng là khách mời danh dự của buổi tiệc Hội Ngộ Tân Niên Quốc Gia Hành Chánh  đầu năm dương lịch.

DSC01309

Trong tấm hình tôi chụp hôm đó, Thầy Bích cười, tươi tắn.  Và sau này tôi nhận ra trên nhiều tấm hình chụp, Thầy lúc nào cũng có nụ cười hiền hòa cố hữu đó.

Ngày thứ bảy 20 tháng hai, 2016. Hội Người Việt Cao Niên vùng Hoa Thịnh Đốn tổ chức Lễ Tổ tiên và Chúc Thọ năm Bính Thân 2016. Buổi tối thứ sáu, tôi lo trình bày, in và chuẩn bị nhiều khung hình chúc thọ cho các vị Hội viên cao niên với tuổi thọ từ 70, 80, 90 đến 100. Ở xứ Hoa Kỳ này, tôi thấy các “cụ” 70 hay 80 của Hội Cao Niên vùng này rất mạnh khỏe và năng động. Bảy mươi như anh chị phóng viên Đào Hiếu Thảo thì không thể gọi là người “già” mà phải gọi là người trẻ của Hội Cao Niên. Tôi biết rất nhiều vị trên 70 từ chối gia nhập Hội “Cao Niên” chỉ vì họ nghĩ là họ chưa …già. Cho nên trên bản tin Cao niên tháng hai, 2016 tôi không “dám “ gọi các cụ 80 mà dùng chữ “quý vị 80”. Quả vậy, trong số các “cụ” 80  Hội Cao Niên chúc thọ năm nay, có GS Kim Oanh,  Bà Tuyết Ngọc…những vị cao niên năng động  này không thể gọi là người già được. Tôi  có thấy tên GS Nguyễn Ngọc  Bích trong số các “cụ” 80 (tính theo tuổi ta). Tôi nghĩ đến  Thầy Bích và nụ cười của Thầy trong Lễ Chúc Thọ vào ngày mai.congidelai-nnb-chuctho80

Tiếc thay thứ bảy hôm sau đó, Thầy và Cô Hợi bận lễ chùa nên đến trễ;  Lễ Tổ Tiên và Chúc Thọ đã xong, Nhưng Thầy cũng tham dự Lễ mừng sinh nhật chung, Thầy tham gia sinh hoạt văn nghệ. Anh Nguyễn Văn Đặng chụp tấm hình dưới đây, lúc Thầy Bích đang hát:

DSC01310

Ngày 2 tháng 3, 2016, giờ Hoa Thịnh Đốn,  sáng vào mở email từ anh Bùi Mạnh Hùng, tôi biết tin Thầy Nguyễn Ngọc Bích mất trên chuyến bay đến Manila, Phi Luật Tân dự Hội nghị về Biển Đông.  Trên vùng trời cách không xa lắm quê hương Việt Nam yêu dấu, lúc đó là ngày 3 tháng 3,  Thầy Bích bị nghẽn mạch máu cơ tim.  Theo lời Cô Hợi kể lại: Thầy nói với Cô Hợi là Thầy mệt lắm chưa bao giờ mệt như vậy. Và chỉ như vậy, Thầy đi.

Tin Thầy Bích mất làm tôi lặng người.  Mới vừa đây, hai tuần trước, Thầy còn đó.

Sống và Chết, quả tình chỉ cách nhau một hơi thở – tôi còn nhớ nhiều Phật tử thường hay nhắc nhau câu nói này. Từ lâu,  tôi cũng như nhiều người khác thường hay nghĩ rằng đời sống của mình hãy còn ngày rộng tháng dài. Rằng  mình – mới 60, 70 hay dầu đã 80- vẫn còn khỏe. Cái chết  là chuyện xa vời, không ai màng nghĩ  đến. Trong lúc,  thực ra, nỗi chết rình rập mọi lúc, mọi nơi và không kể trẻ hay già.

Sáng nay, tôi phải tự nhắc để tôi nhớ,  đừng quên, không được quên điều này: Chuyện gì làm được,  đừng chờ đến ngày D. vì đến lúc đó có hối tiếc thì mọi sự đã muộn màng.

Ngày Đi hay viết tắt là ngày D, chữ tôi dùng cho ngày chết, hay nói cho có vẻ văn chương chữ nghĩa hơn – ngày vĩnh biệt cõi đời, là cái ngày mà tôi và vài ông bạn già rất thân thiết – như  Cụ Hà Bỉnh Trung (đã đi) hay anh Tâm Minh Ngô Tằng Giao (đã trên 70, vẫn còn nhất định chưa chịu nhận là mình già) -vẫn thường cười cười nói với nhau khi có dịp gặp mặt: “ Đã chuẩn bị hành trang sẵn sàng, khi nào có “vé” là lập tức  lên đường “. Anh Tâm Minh Ngô Tằng Giao còn chu đáo hơn nữa, anh sáng tác rất nhiều thơ lục bát về Phật giáo, in thành sách hơn mấy chục tập và biếu không đến người đọc. Anh nói, tôi làm vậy là để có “quỹ” mua vé trước nên tôi biết tôi sẽ “đi” về đâu.

2. Cơ Hội Không Còn…

Tôi vẫn tự trách tôi hoài, về cái tính lần lửa không kết thúc nhiều việc, nhiều chuyện có thể kết thúc được. Việc tôi tự trách tôi lần này khi biết tin Thầy Bích vĩnh viễn vắng bóng liên quan đến công việc tôi đang góp tay với Hội Người Việt Cao Niên Vùng Hoa Thịnh Đốn và Hội Cựu Sinh Viên Quốc Gia Hành Chánh miền Đông Hoa Kỳ. Tôi thiết kế hay nói nôm na là “dựng lên” hai cái website ( tiếng Việt mình chưa có nhiều chữ diễn tả cho đúng quá nhiều thuật ngữ kỹ thuật của thế kỷ 21 nên tạm thời có nhiều chỗ tôi phải để nguyên chữ tiếng Anh ở đây.) Ở hai website này, ban chủ trương vẫn mong thực hiện được việc chia sẻ đến người đọc khắp nơi những tin tức, kiến thức, kinh nghiệm hay sáng tác từ những người viết tài tử hay chuyên nghiệp với điều kiện là những bài viết này là những bài viết nguyên thủy từ những người viết mà ban biên tập website biết được tác giả là ai. Nói khác đi, những người trong ban chủ trương muốn thực hiện một  website không cóp nhặt, sao chép tùy tiện.

Tháng trước, tôi có đọc mấy bài viết của Thầy Nguyễn Ngọc Bích, ký tên dưới bút hiệu Tâm Việt.  Và tôi vẫn thường hay gặp Thầy trong những buổi hội hàng tháng của Hội Người Việt Cao Niên Vùng Hoa Thịnh Đốn, mà Thầy Bích là Phó Hội Trưởng Ngoại Vụ của Hội. Tôi tự nhủ không có cơ hội nào tốt hơn nữa là gặp Thầy vào phiên hội đầu tháng tới; mời Thầy tham gia, giúp tay, và sau đó được phép chuyển tải các bài viết của Thầy lên  website caoniendc.com hay website quocgiahanhchanhmd.com và thử bàn với thầy về một hướng hợp tác giữa  nhà in của tôi và  Tổ hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ do Thầy chủ trương, nhất là tìm một giải pháp mới cho tình trạng bế tắc về việc phát hành sách báo tiếng Việt tại hải ngoại.

Vậy mà tất cả các dự trù, cơ hội và cái “lợi thế” thiên thời, địa lợi và nhân hòa để có sự hợp tác và giúp tay của Thầy Bích với Hội Cao Niên và Hội Hành Chánh về mặt báo chí và website bỗng nhiên tan biến trong chớp mắt.

Lúc đọc lại  tiểu sử của Thầy Bích về những trách vụ Thầy từng đảm trách lúc sinh tiền, tôi chợt nhớ ra rằng tôi đang đứng trước một  Thái Sơn của làng thông tin báo chí.

Từ 1971 đến 1975, Thầy Nguyễn Ngọc Bích từng là Cục trưởng Cục Thông Tin Quốc Ngoại thuộc Bộ Dân Vận và Chiêu Hồi, Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã, sáng lập viên Viện Đại Học Cửu Long và là sứ giả đặc trách của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu trong cuộc vận động sau cùng với Quốc Hội Hoa Kỳ về viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa vào những ngày tháng cuối cùng của miền Nam Việt Nam.

Năm 1975, Thầy Bích trở lại Hoa Kỳ, quê hương thứ hai của Thầy, từ đó mở ra  chuỗi dài của những hoạt động không ngưng nghỉ trong đủ mọi lĩnh vực  xã hội, chính trị, giáo dục, nhân quyền, dịch thuật, biên khảo, bảo tồn văn hóa Việt ở xứ người. Thầy Bích đã từng nắm giữ những trách vụ cao cấp trong chính quyền Hoa Kỳ như Phó và sau đó Quyền Giám đốc Office of Bilingual Education and Minority Languages Affairs thuộc Bộ Giáo Dục Liên Bang dưới thời Tổng Thống George W. Bush, Giám Đốc Ban Việt Ngữ  Đài Á Châu Tự Do (RFA)  từ  năm 1997 đến 2003.

3. Còn Gì Để Lại …

Quan trọng hơn hết là tinh thần dấn thân của Thầy Nguyễn Ngọc Bích trong rất nhiều công việc liên quan đến cộng đồng Người Việt hải ngoại và những công cuộc đấu tranh hướng về một nước Việt Nam tự do, dân chủ và tiến bộ.  Người khen, kẻ chê Thầy cũng nhiều, nhưng không ai có thể phủ nhận được tấm lòng và tinh thần làm việc hướng về lợi ích chung cho cộng đồng người Việt của Thầy.

Dấn thân và phục vụ là hai nhân tố căn bản và trọng yếu nhất thể hiện trong đời sống của Thầy Bích. Cũng có thể vì cái gì Thầy cũng muốn làm, chỗ nào Thầy cũng tình nguyện, cho nên những công việc và mục tiêu Thầy theo đuổi cũng trải rộng và do vậy khó lòng nhìn thấy hay lượng định hết những thành tựu hay kết quả đạt tới. Nhưng thử hỏi có bao nhiêu người trong cộng đồng người Việt Hải ngoại đến tuổi 80 còn có được khả năng, sức làm việc và tinh thần hoạt động không ngừng nghỉ cho cộng đồng người Việt như Thầy Bích?

Đối với tôi, Thầy Bích lúc nào vẫn là một người Việt Nam khả kính, đa năng  và đáng quý. Thầy Bích dạy tôi được một bài học căn bản xuyên suốt qua đời sống phục vụ của Thầy cho đến hơi thở cuối cùng  là: Hãy sống bằng trái tim Việt Nam với tất cả tấm lòng dâng hiến.

Xin cảm ơn và vĩnh biệt Thầy Nguyễn Ngọc Bích.

Nguyễn Quang Dũng  (ĐS22)
VA Tháng 3/2016

(Xin bấm vào hình để xem hình ảnh tang lễ GS Nguyễn Ngọc Bích do Phóng Viên Quân Đội Trần Bửu Khánh ghi lại)

 nnb-phuco-web

Views: 311

Năm Thân Nói Chuyện Khỉ

Phạm Thành Châu

nam con khi newTôi viết tào lao về Con Khỉ để quí vị đọc cho vui trong mấy ngày Tết. Phê bình tôi viết thế nầy, thế kia chỉ uổng công quí vị.

Xưa nay, báo chí Việt Nam có một lệ đáng yêu là: Năm Mới, cầm tinh con vật nào thì có một bài giới thiệu thân thế, sự nghiệp của con vật đó. Đồng bào ta, ở Âu, Mỹ vẫn giữ truyền thống sinh hoạt dân gian theo âm lịch. Không ai giỗ chạp theo dương lịch bao giờ. Vong linh những người quá cố chỉ căn cứ vào âm lịch để về với con cháu. Quan trọng nhất là ngày Tết âm lịch, là dịp để mọi người thân đoàn tụ, cúng lễ tổ tiên, lì xì mừng tuổi cho bọn trẻ, ăn uống, vui đùa.

Ở Mỹ, chỉ những tiểu bang đông người Việt, trên tờ “dương lịch” (lịch tây) mới có thêm phần “âm lịch” (lịch ta). Nhưng người bán lịch lại đặt in bên Đài Loan, bên Tàu nên phần âm lịch ghi chữ Tàu. Người Việt sống rải rác các tiểu bang khác chỉ biết có dương lịch, thế nên mới có chuyện vui như sau: “A lô! Chị Loan đó hả? Chúc mừng năm mới!”  “Năm mới gì? Bữa nay đã tháng hai rồi, còn mới mẻ gì nữa?” “Tôi chúc tết Âm lịch đó bà ơi!” “Ủa tết hồi nào vậy? Tôi đi làm, tối tăm mặt mũi. Thôi chết! Lát nữa, đi làm về, tôi phải vất mấy trái quít vô thùng rác. Năm mới xui lắm! ” “Sao vất đi, phí của. Quít có tội tình gì mà kiêng cử?” “Số là thế nầy. Để tôi kể cho bà nghe. Ông xã tôi đi làm mà than cực, than buồn, sợ ổng bỏ việc thì nguy. Không phải chuyện tiền bạc, mà mấy ông về hưu, không biết làm gì, ở không sinh bịnh. Bên Cali. của bà, cứ ra tiệm cà phê thì thiếu khối gì bạn bè để trò chuyện, lại có mấy em bưng cà phê, đưa đùi đưa ngực.”  “Các ông ngắm giải trí thì có liên hệ gì đến mấy trái quít mà đi vất thùng rác.”  “Thôi đi bà ơi! Bộ bà không biết quit là quit job à? Để quít trong nhà là báo điềm ông xã tôi quit job. Thôi! Tôi gọi lại sau nghe.Thằng xếp tới!”

Đồng bào miền Nam chúng ta, tính tình xuề xòa, sinh hoạt cũng xuề xòa. Để mấy trái mãn cầu, dừa, đu đủ, xoài trên bàn thờ thành điều ước cho năm mới. Cầu vừa đủ xài. Họ không cầu mong sức khỏe dồi dào, tiền vô như nước, vạn sự như ý. Tiền nhiều để làm gì mà phải bon chen, giành giật, gian dối? Chỉ cần có chút đỉnh đủ xài mỗi ngày là “an nhiên tự tại”. Về sức khỏe thì khỏi nói. Sống được ngày nào thì nhậu ngày đó. Trời kêu ai nấy dạ. Cũng chẳng thấy ai đứt gân máu, nằm một đống báo hại vợ con. Chỉ thỉnh thoảng có ông, nhậu xỉn, về nhà, giữa đường lủi vô bụi cây rồi khiêng về chôn. Đám ma bao giờ cũng có ca vọng cổ và nhậu. Đó là nói về thời trước 1975. Từ khi đảng và nhà nước Việt Cộng từ miền Bắc tràn vào chiếm miền Nam thì dân miền Nam te tua. Đất ruộng bị cướp, nhà bị chiếm, cơ sở sản xuất, tiệm buôn bị tịch thu. Rồi thêm mấy đợt đổi tiền, dân miền Nam trắng tay. Hàng trăm nghìn gia đình bị tống lên vùng núi rừng cao nguyên, gọi là Kinh Tế Mới, chết dần vì bịnh tật, đói khát. Thêm hàng mấy trăm nghìn quân, cán, chính, thầy tu, nhà buôn miền Nam bị đày ra Bắc, chết liệt địa.

Kể chuyện tết nhất ở miền Nam sau 1975 thì bi thảm lắm. Bi thảm nhất là người dân ở thôn quê, đặc biệt là vùng kinh tế mới. Xin được mấy giòng về xã hội kinh tế mới nghĩ gì, làm gì trong mấy ngày tết? (Tôi đi tù Cộng Sản, không đi kinh tế mới chỉ nhờ đọc báo mà kể lại cho quí vị nghe) Ngày tết, nhà tranh vách lá, trống trước trống sau, gạo không có, nhang tàn, khói lạnh, lấy gì làm lễ vật dâng cúng ông bà, tổ tiên? Họ ước gì? Thời “cầu vừa đủ xài”qua rồi. Ở kinh tế mới, họ tự chúc mình “ác liệt” hơn nhiều. Họ “phát huy sáng kiến”! Một ông tha về một trái xoài, ra chỗ sửa xe đạp lượm cái líp xe (ổ trục sên xe đạp), thêm cái bọt ba ga” (giá chở đồ sau xe đạp) người ta vất đi, đem về để trên bàn thờ, thành câu (tự chúc): “Xài líp ba ga”(xài thoải mái). Một ông thể hiện ý nghĩ tuyệt vọng của mình bằng cách chưng trên bàn thờ một gói tiêu, một tán đường,  thành “Tiêu tán đường.” Một ông khác trình bày tiếng thở dài của mình rất “ấn tượng.” Ông ta để trên bàn thờ một trái đu đủ, một trái điều, một trái bí đao, một trái khổ qua, thành: “Đủ điều đau khổ”. Cha mẹ sinh con thường đặt tên theo ước vọng ở tương lai. Con trai thì Hùng, Dũng, Anh Tài, con gái thì Hoa, Hồng, Ngọc, Ngà, Tuyết. Nhưng những gia đình trên kinh tế mới thì nhìn thấy tương lai đen tối của các con. Một ông sinh được ba đứa con, mỗi đứa có một tên, Tên Xui, tên Tận, tên Mạng. Một ông y tá ”ngụy”đặt tên con. Một đứa tên Hết, một đứa tên Thuốc, một đứa tên Chữa. Thật “Hết thuốc chữa!” Những ngày lễ lớn của đảng ta, dân kinh tế mới được tập họp lại để học tập Mừng đảng, ơn bác. Lại được ca hát cho thêm hồ hởi, phấn khởi (chới dới, bứt gân!). Có câu hát “Trùng trùng đoàn quân tiến bước theo con đường của Bác.” Dân ngồi dưới (đất) thì thầm với nhau: Con đường bác đi là con đường bi đát”

Bây giờ nói về năm Thân, tức là năm Con Khỉ. Tôi có kể cho bạn nghe một chuyện vui, bây giờ nhắc lại. Có một ông có bồ, kiểu sáng chở cơm đi ăn phở, trưa chở phở đi ăn cơm” (cơm là vợ, phở là bồ). Phải dấu kỹ! Vậy mà một sáng chủ nhật, cô bồ mò đến nhà ông ta. Thấy từ xa, ông ta hoảng kinh, chạy ra chận lại. Đi ngay.Trong nhà có con khỉ già ngồi trong đó! Con khỉ già là mụ dzợ ! Một chuyện khác, thuộc loại phản động, chỉ có người Bắc, thâm thúy và cay đắng mới nghĩ ra: Một cậu bé hỏi cô giáo: Thưa cô, Bác Hồ nóiTổ tiên ta là loài khỉ. Có đúng không ạ? “Đúng rồi! Tổ tiên bác Hồ là loài khỉ.” Và cô hỏi cả lớp: Có em nào trông giống bác Hồ không? Dạ không!

Trở lại với con khỉ. Các nhà sinh vật học chia các loài động vật thành nhiều chủng loại để dễ nghiên cứu. Loài gặm nhấm có chuột, thỏ.Loài có móng như trâu, bò. Có loài được gọi là thượng đẳng” (primates) gồm ba giống là khỉ (monkeys), giả nhân (apes) và loài người. Charles Darwins, người Anh, cho rằng: Khỉ tiến hóa thành người. Chỉ mấy ông bà vô thần cộng sản mới tin chứ chẳng ai tin. Vì trong các hóa thạch, chẳng thấy sinh vật trung gian nào giữa khỉ và người, chứng minh rằng khỉ tiến hóa thành người. Vả lại, bộ óc khỉ rất nhỏ so với óc người, không có hóa thạch khỉ trung gian”nào có bộ óc lớn gần với bộ óc người. Mà cũng chẳng thấy con khỉ nào trong rừng hay trong sở thú tiến hóa dần để thành con người. Chỉ có trong truyện Chiêu Quân Cống Hồ”của mấy chú chệt, vua phịa, rằng: Có ông Tô Vũ, làm quan nhà Hán (đầu Công Nguyên), đi sứ vào nước Hung Nô (rợ phương bắc nước Tàu) bị vua Hung Nô cho bốn “lịnh” (mỗi lịnh ba năm) tập trung cải tạo lên vùng sa mạc hoang vu, chăn mấy trăm con dê. Đến mùa đông tuyết phủ, vì đói và lạnh, Tô Vũ ngất xỉu. Tỉnh dậy, thấy có con khỉ cái đang đốt lửa cho ông ta sưởi, còn cho ăn, săn sóc tận tình. Thế là họ có với nhau bốn người con. Mười năm sau, xét thấy đương sự học tập tốt, lao động tốt, yên tâm cải tạo,vua Hung Nô tha về sum họp với gia đình, trở thành công dân chân chính, góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa bách chiến bách thắng. Thời đó không có cell phone, không có camera nên không thể chụp hình bốn đứa nhỏ, con của Tô Vũ hình dáng, mặt mũi ra sao? Ở miền Nam ta, trước 1975, báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà có đăng chuyện Người Lấy Khỉ”, rất hấp dẫn, báo in ra bao nhiêu, người ta xúm nhau mua đọc. Các báo khác ế nhè, bán không được tờ nào. Giận quá, các báo làm phóng sự, phịa lai lịch bà Bút Trà, bảo rằng Bà Bút Trà là con của ông người”với bà khỉ”đó.

Có Mấy Loài Khỉ? Nhiều vô số. Từ con khỉ nhỏ cỡ ngón chân cái đến con giả nhân, khỉ đột, cao to, nặng hàng trăm ký lô. Tôi thấy có hai loại khỉ. Loại có đuôi và loại không đuôi. Loại không đuôi thì quí vị có thấy rồi. Lúc nhỏ tôi nghe mấy ông kể chuyện Trong rừng có con đười ươi, người đi rừng bị đười ươi bắt được thì nó cầm hai tay người đó cứng ngắt rồi ngửa mặt lên trời, nhắm mắt, nhe răng cười suốt ngày cho đến khi mặt trời lặn thì moi ruột người đó ăn. Vì thế, người đi rừng phải thủ sẵn hai ống tre. Thấy đười ươi thì xỏ tay vô ống tre, đưa cho nó nắm, chờ khi nó nhe răng, nhắm mắt cười thì rút tay ra khỏi ống tre, bỏ chạy. Đó là chuyện xưa. Bây giờ ở Việt Nam, vô phước cho con đười ươi nào gặp mấy ông đi rừng thì chính mấy ông đi rừng đó nhe răng, nhắm mắt cười với nhau rồi móc ruột đười ươi ra nấu lẩu, đưa cay cũng được mấy xị. (Thế nên, vừa rồi, báo chí ở Việt Nam có đăng tấm hình một con đười ươi đưa hai tay có xỏ ống tre cho mấy ông đi rừng cầm, chờ mấy ông đó nhe răng, nhắm mắt cười là rút tay của nó ra, bỏ chạy). Tôi có thấy mấy tấm hình chụp một con khỉ bị người ta giết, cạo lông, để nằm chờ xẻ thịt, trông giống hệt đứa bé chết nằm đó.

Ở Châu Phi, vẫn còn những phiên chợ bán thịt rừng phơi khô, có bán khỉ khô, là khỉ nguyên con, phơi khô. Con khỉ khô nhe răng, tứ chi co rút lại như xác ướp. Người mua chỉ việc lột da, xé ăn, khỏi nấu nướng. Người Việt mình chưa hề thấy con khỉ khô xấu xí cỡ nào, nhưng có lẽ quí vị từng nghe đối đáp giữa cậu và cô như sau: Em yêu anh không?”Yêu cái con khỉ khô!” (Thà yêu con khỉ khô còn hơn yêu ông”). Vì ăn khỉ khô kiểu đó mà người châu Phi bị bịnh Ếch nhái”AIDS. Virus HIV (bịnh liệt kháng) tìm thấy trong khỉ đuôi xồm và khỉ mũi đốm. Virus Ebola (sốt xuất huyết không chữa được) và bệnh đậu khỉ (monkey pox) cũng do mấy ông bà ăn khỉ khô mà các bịnh đó lan tràn ra khắp thế gian. Ở Việt Nam, thời còn phe xã hội chủ nghĩa, Liên Xô nghiên cứu vũ khí hóa học hay chiến tranh vi trùng”gì đó phải dùng khỉ làm mẫu (vật thí nghiệm). Có lẽ là chất kịch độc, sợ thí nghiệm ở bên Liên Xô, rủi có chuyện gì xảy ra thì dân Nga lãnh đủ, nên các khoa học gia Liên Xô đem qua Việt Nam thực hiện thí nghiệm, có nguy hiểm, chết chóc do vi trùng hay chất độc thoát ra ngoài thì dân Việt chết, ráng chịu. Hiện nay mấy con khỉ làm vật thí nghiệm đó tồn tại” trên một hòn đảo ở Nha Trang, gọi là đảo Khỉ.

Đừng khinh loài vật sống theo bản năng, không suy nghĩ. Năm 1990, Christophe Boersch quan sát một bầy hắc tinh tinh ở rừng Tai, thuộc xứ biển Ngà. Chúng thường đập những trái cây có vỏ cứng bằng một hòn đá trên gốc cây. Một con khỉ con đập mãi không được, mẹ nó đến, xoay cạnh hòn đá thì đập được, lấy ruột của quả cho con ăn. Năm 1953, tại đảo Koshima (Nhật), ông Masao Kawai thấy một con khỉ cầm củ khoai dính đầy đất bẩn đem ra một dòng nước rửa sạch mới ăn. Sau bốn năm, phân nửa bầy khỉ đem khoai đi rửa trước khi ăn. Quí vị xem TV thường thấy cảnh mấy con khỉ dùng một cọng cỏ, đút vào lỗ của ổ kiến hoặc ổ mối rồi kéo ra. Kiến, mối bu vào, khỉ bỏ cọng cỏ vào mồm, ăn chúng. Con rái cá, mò mấy con sò dưới sông, nằm ngửa trên mặt nước, để con sò trên bụng, dùng con sò nầy đập lên con sò kia cho bể vỏ sò, lấy thịt ăn. Thú vật thường đùa giỡn nhau là thường. Có một con quạ có trò chơi rất lý thú. Mùa đông, tuyết phủ mái nhà, nó lấy cái lá hay gì đó, để trên nóc nhà rồi đứng lên trên. Cái lá (có con quạ trên đó) trượt trên tuyết xuống phần thấp của mái nhà. Con quạ chơi trò trượt tuyết như người. Chưa hết. Nó ngậm cái lá đó, đem lên nóc nhà, lại đứng lên lá và trượt tuyết tiếp. Con quạ, tuy vậy không khôn bằng con vẹt. Nó biết nói, biết suy diễn theo Tam đoạn luận”đàng hoàng. Chuyện như thế này. Có cô gái nuôi một con vẹt. Nhà không có ai, cô tắm xong, chả mặc áo quần, cứ thế thổn thệnh đi khắp nhà. Con vẹt nghiêng đầu nhìn và kêu lên:Thấy hết rồi nghe!” Lần nào cũng lải nhải câu đó khiến cô gái bực mình vặt trụi lông đầu con vẹt. Từ đó con vẹt chỉ ngắm mà không dám nói. (Tam Đoạn Luận tập 3, trang 50 chỉ rõ: Thấy thì làm thinh mà ngắm. Ngắm thì đừng nói. Nói thì bị vặt lông” ?!). Một lần có nhà sư vào nhà cô gái. Thấy đầu nhà sư không có tóc, con vẹt ngạc nhiên, hỏi Ủa! Thầy cũng thấy hết rồi sao?” Tôi ước được làm con vẹt đó. Nhưng miệng, lưỡi dùng vào việc khác. Dại gì nói để bị vặt lông.

Năm Khỉ, nhiều vị kể chuyện Tôn Ngộ Không, một con khỉ có tài thần thông biến hóa, theo phò Tam Tạng qua Ấn Độ thỉnh kinh Phật về Tàu. Có vị kể chuyện bà Từ Hi thái hậu đãi sứ thần tám nước Âu Mỹ, có món óc khỉ. Mấy chuyện bên Tàu đó, xưa rồi, ai cũng biết.

Tôi xin kể chuyện bên Ấn Độ, ít người biết. Người Ấn thờ hàng trăm,hàng nghìn thần. Thờ từ vật vô tri đến súc vật. Họ thờ thần bò. Mấy con bò đi nghênh ngang có khi nằm nghỉ ở ngã ba, ngã tư, người phải tránh ngài”. Ngài bò có đến các sạp rau quả xơi hết cũng phải kính cẩn đứng nhìn, không được xua đuổi. Tôi xem phóng sự thấy có đền thờ chuột. Chuột bò đầy trong đền, trên bàn thờ, trên cột đền trông thật dơ dáy. Tôi xem mà ghê người, tưởng như ngửi được mùi hôi thối của phân chuột. Người giữ đền có bổn phận nuôi chúng. Buổi sáng, ông ta bưng một khay sữa vào cho quí ngài chuột điểm tâm… Tại sao phải thờ súc vật? Người Ấn tin rằng. Mỗi con vật có thể là hiện thân của ông thần nầy hoặc bà thánh kia. Họ còn tin rằng có thể đó là tổ tiên, ông bà của họ, chết đi, đầu thai thành súc vật.

Vì là bài viết về con khỉ nên tôi xin mấy dòng về tục thờ khỉ ở Ấn Độ. Theo truyền thuyết, tại xứ Kishkinda, một vương quốc khỉ bên Ấn Độ, có một tướng khỉ, tên Hanuman, rất tài giỏi và nhiều phép thần thông. Có lần, Hanuman chơi nghịch, ngậm  cả mặt trời khiến khắp nơi tối thui, người ta phải năn nỉ Hanuman mới nhả mặt trời ra. Hanuman có thể biến thành to lớn, khổng lồ hoặc tự thu nhỏ bằng ngón tay. Về võ thuật, Hanuman có thể phóng lên mây, nhảy một cái xa ngàn dặm. Hanuman, chỉ với một tay, bưng nguyên một quả núi với đầy đủ cây cối trên đó. (Trong Tây Du Ký, tác giả đã chế biến thần Hanuman của Ấn Độ thành con khỉ Tôn Ngộ Không của Tàu. Thì ra, làm hàng giả, ăn cắp bản quyền của người ta (không chỉ hàng hóa mà cả trong văn hóa, nghệ thuật!) đã là bản chất chệt, có tự ngàn xưa rồi!) Vì tin chuyện thần thoại đó là có thật nên dân Ấn Độ làm tượng thờ khắp nơi. Quí vị du lịch Ấn Độ ắt thấy nhiều tượng thần khỉ Hanuman ở các công viên, nơi công cộng. Ở đâu tượng thần khỉ Hanuman cũng cao lớn, có đuôi dài, tay phải cầm cây trùy, tay trái bê quả núi. Dân Ấn tin rằng, khỉ là hiện thân của thần Hanuman nên lập nhiều đền thờ và nuôi khỉ. Ở New Delhi, khỉ có mặt khắp nơi, nhất là khu đồi Raisina. Khỉ nhảy nhót, leo trèo, phá phách trên đường phố, cướp giật hàng hóa, lục giỏ xách người đi chợ. Có con leo cột đèn, bị điện giật chết, người ta phải tổ chức lễ an táng ngài” thật long trọng. Có đánh trống, thổi kèn như đám ma của người Tàu ở Chợ Lớn (nhưng không thổi bài Love Story như đám ma của mấy chú thiếm Chợ Lớn). Đạo quân (Tam phủ) khỉ phá quá! Chịu hết nỗi, tòa án ra lịnh dời đền khỉ vào rừng, cấm không cho khỉ ăn nhưng chẳng ai dám động đến quí ngài khỉ, và vẫn cung phụng ngày ba bữa, tắm rửa thoải mái cho quí ngài. Đúng là trò khỉ!

Ở Việt Nam ta có tương truyền rằng mẹ ông Mạc Đỉnh Chi vào rừng bị khỉ hiếp, sinh ra ông, người nhỏ, tướng xấu xí, chân tay dài thòng, mắt láo liên như con khỉ nhưng rất thông minh. Ông thi đậu tiến sĩ, được nhà vua cử đi sứ sang Tàu. Nhân khi công chúa (Tàu) chết, vua Tàu muốn thử tài sứ Mạc Đỉnh Chi nên đề nghị ông làm một bài văn tế về cái chết của công chúa với chỉ một chữ Nhất. Trạng Mạc Đỉnh Chi hạ bút ngay:

Thiên hương nhất đóa vân.

Hồng lô nhất điểm tuyết.

Thượng uyển nhất chi hoa.

Giao trì nhất phiến nguyệt.

Ô hô!

Vân tán, tuyết tiêu, hoa tàn, nguyệt khuyết

(Trên trời một áng mây/ Lò hồng một giọt tuyết/ Thượng uyển một cành hoa/ Giao trì một vầng nguyệt/ Than ôi! Mây tán, tuyết tan, hoa tàn, trăng khuyết).

Quá hay!

Để chấm dứt bài nầy, tôi xin kể chuyện đức Phật, trong một lần thuyết pháp, có nhắc đến con khỉ để nêu một ẩn dụ: Trong kinh A Hàm có chép, Phật kể đại ý rằng: Có người thợ săn lấy nhựa cây gài bên thức ăn để nhử đàn khỉ. Có con khỉ đến bốc thức ăn, ngờ đâu dính nhựa cây, không gỡ ra được. Khỉ lấy tay kia gỡ ra, lại bị dính vào, khỉ lấy hai chân gỡ ra, cũng bị dính nốt. Khỉ dùng đuôi gỡ ra, cũng bị dính. Sau cùng khỉ dùng miệng cạp, cũng dính luôn. Thợ săn chỉ việc đến bắt khỉ. Đức Phật dạy: Này các tì kheo. Nhựa cây kia ví như lục dục, sáu bộ phận bị dính vào nhựa ví như lục căn. Như chú khỉ kia, khi lục căn bị dính vào lục dục thì sẽ bị ma quỉ tùy ý dẫn đi”.

Tuoi-Than

Phạm Thành Châu

Views: 612

Đợi Chờ

Nương song luống ngẩn ngơ lòng
Vắng chàng, điểm phấn trang hồng với ai?
Chinh Phụ Ngâm

Vũ Bá Hoan

doicho image

1-

Ánh nắng của buổi sáng sớm mùa hè, xuyên qua kính cửa sổ, chiếu dọi lên bức tường trong phòng ngủ vợ chồng Hoàng, khiến căn phòng trở nên sáng rực, và làm Hoàng tỉnh thức sau một giấc ngủ nướng. Thỉnh thoảng một luồng gió nhẹ thổi qua, đem theo mùi hương thơm thoang thoảng của cây hoa hoàng lan trồng ngoài vườn bên cạnh cửa sổ, tràn vào phòng ngủ, làm Hoàng cảm thấy khoan khoái dễ chịu sau một đêm ngủ đẫy giấc. Ngoài vườn, tiếng chim hót líu lo trên cành cây như chào đón ánh nắng ban mai của một ngày hè đẹp trời, khiến Hoàng nhớ đến bài hát “Hè Về” của Hùng Lân, anh cao hứng hát nho nhỏ: “Trời hồng hồng, Sáng trong trong. Ngàn phượng rung nắng ngoài song. Cành mềm mềm, gíó ru êm. Lọc mầu mây bích.ngọc qua mầu duyên… Đàn nhịp nhàng hát vang vang. Nhạc hòa thơ đón hè sang “. Hôm nay là ngày thứ bẩy, ngày cuốí tuần, Hoàng được nghỉ. Mặc dù đã 9 gìờ sáng, nhưng Hoàng vẫn không muốn ra khỏi giường, anh nằm nán lại để thư giãn bắp thịt  trong thân thể và như để đền bù vào những buổi sáng trong tuần, anh phải dậy sớm vào lúc 5 giờ  sáng để sửa soạn đi làm. Vợ Hoàng đã thức dậy từ sáng sớm, và đã ra khỏi nhà để đến sở làm vào lúc 6:30 . Ba đứa con ở tuổi teenage của vợ chồng Hoàng vẫn đang say sưa giấc điêp trong các phòng ngủ riêng của chúng. Căn nhà yên tịnh, ngoại trừ, thỉnh thoảng tiếng “tính, tình, tang, tình “   từ chiếc đồng hồ Grandfather ở phòng khách, đánh vang lên mỗi khi đổi giờ.

Vẫn nằm dài trên giường, Hoàng xoay nghiêng người, với tay lượm tờ báo Việt ngữ trên sàn nhà mà vợ anh đã đọc và vất xuống đó từ tối hôm qua, trước khi nàng đi vào giấc ngủ. Hoàng vừa mới đưa mắt lướt qua những tít trên trang nhất của tờ báo, thì tiếng điện thoại reọ, anh đưa tay nhắc ống liên hiệp ở chiếc điện thoại đặt trên nightstand cạnh đầu giường:

– Allo. Hoàng tôi nghe.

– Tôi, Hải đây.

–  Chào ông.

– Cậu có rảnh không? Đến tôi chơi, tôi có chút việc muốn nói với cậu.

– Có chuyện gi quan trọng không, thưa ông?

-Thì cứ đến, rồi sẽ biết.

Hoàng chần trừ một giây, rồi trả lời:

-Tôi sẽ đến vào lúc 11:00 giờ.

Ông Hải là cựu Thiếu Tá, Quận Trưởng. và là xếp cũ của Hoàng khi anh vừa mới tốt nghiêp ban Đốc Sự Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, về nhận chức vụ Phó Quận Trưởng Hành Chánh vào đầu năm 1966 tại một quận thuộc tỉnh Phong Dinh. Cuối năm 1967, sau khi được vinh thăng Trung Tá, ông Hải thuyên chuyển về Saigòn, và kể từ đó, Hoàng không có dịp gặp lại ông. Khi còn làm việc chung ở quận, cách xưng hô giữa hai người theo chức vụ. Hoàng gọi ông Hải là Thiếu Tá, ông Hải gọi Hoàng là ông Phó Hành Chánh. Kể từ ngày gặp lại nhau trên đất nước Cờ Hoa – khi mà” hia mão “ và “ấn tín” của hai người đã rớt xuống Thái Bình Dương,  trong lúc bỏ của chạy lấy người, leo lên  tầu chạy trốn Việt Cộng –  họ đã thay đổi cách xưng hô. Ông Hải hơn Hoàng 15 tuổi, nên ông coi Hoàng như người em. Cùng chạy Cộng Sản sang Mỹ vào thời điểm miềm Nam rơi vào tay Cộng Sản hồi cuối tháng 4 năm 75 , Hoàng và ông Hải, như có duyên tiền định sống gần nhau, nên hai người  đã “tái ngộ” sau cuộc “ biển dâu “, và cùng định cư tại vùng Alexandria, tiểu bang Virginiạ, Hoa Kỳ

Vừa mở cửa bước vào trong nhà, Hoàng đã thấy ông Hải ngồi trên ghế đợi anh ở phòng khách, trước mặt ông, trên mặt bàn, có một bao thư. Ông Hải đưa tay ra dấu mời Hoàng ngồi xuống chiếc ghế đối diện ông:

– Cậu ngồi xuống đây, uống nước trà nóng.

Hoàng vừa kéo ghế ngồi, vừa hỏi ông Hải:

– Có chuyện gì vậy ông?

Ông Hải yên lặng, không trả lời ngay câu hỏi của Hoàng, cầm bình rót nước trà nóng mời Hoàng uống. Sau đó, ông cầm bao thư trên mặt bàn đưa cho Hoàng:

– Cậu có thư của người ở Việt nam mới qua gửi cho cậụ

Hoàng đưa tay đỡ lấy bao thư, và trước khi mở thư ra đọc, anh cầm chung trà nóng tỏa mùi hoa nhài thơm ngát, uống một hớp, nước trà nóng trôi qua cuống họng, Hoàng cảm thấy hơi đăng đắng; nhưng sau vài giây, anh laị cảm thấy vị ngọt đọng lại ở cổ. Hoàng nói:

– Trà này uống lúc đầu thấy đắng, nhưng một lúc sau lại có vị ngọt.

Ông Hải cầm bình trà rót thêm vào chung cho Hoàng :

–  Người ghiền và sành uống trà thì phải loại trà này mới ngon. Chính ra phải dùng nước mưa để pha trà, thì hương trà mớí giữ được nguyên chất, nước trà mới ngon. Không có nước mưa, tôi dùng nước máy để pha trà nên đã làm giảm mất phần nào hương trà.

Nhìn nét chữ viết tay ngoài bì thư đề tên ông Nguyễn Văn Hải, Hoàng thấy hơi quen, nhưng không biết là của ai, vì ngoài bì thư không có tên người gởi, mà chỉ có địa chỉ. Anh nói với ông Hải :

-Thư này gởi cho ông, chứ đâu phải cho tôi.

-Cậu cứ mở thư ra đọc thì sẽ biết.

Hoàng rút bức thư từ trong phong bì, mở ra đọc:

Ngày..  tháng .. năm ….

   Kính thăm bác,

 Thưa bác, nhìn ngoài bì thư, chắc bác đã đoán ra được cháu là con bé nào rồi! Cháu là con bé Thu, con của ông Trung Tá Nhân, bạn của bác đó bác. Cũng đã gần 20 năm rồi, chắc bác không còn nhớ đến cháu đâu; nhưng cháu thì nhớ rõ bác lắm. Bác bây giờ có lên được cân nào không? hay bác vẫn cao, vẫn gầy, vẫn khắc khổ như những ngày ở quê hương cũ? Hồi còn ở Viêt Nam, sau khi đi tù cải taọ về, Ba cháu thường nhắc đến bác luôn, ông thường kể những kỷ niệm hồi ông và bác làm việc ở cùng một đơn vị.

 Cách đây mấy bữa, cháu ghé thăm ba má cháu, và má cháu cho cháu hay ba cháu mới nhận được thư bác. Không biết vô tình hay cố ý, má cháu có tiết lộ một chút xíu, môt chút xíu thôi về tình trạng của một người mà cháu quí mến nhất, kính trọng nhất, người ấy luôn luôn ở trong lòng cháu bao nhiêu năm dàị, cháu muốn nói anh Hoàng, anh Hoàng làm Phó Quận Trưởng dưới quyền bác hồi còn ở Việt Nam, mà bác đã nói đến anh ấy trong thư gởi cho ba cháu, đó bác!.

 Cháu thật không ngờ, anh ấy vẫn còn sống và đã ở đây, an toàn trong gần 20 năm! Khi cháu nghe má cháu nói: “Thằng Hoàng và ông Hải chạy cùng một lượt vào cuối tháng 4/75 và hiện đang ở gần nhau, tiểu bang Virginiạ”. Cháu nghe vậy, nhưng không nói câu nào, phải nói là chưa nóí câu nào, thì bà lại tiếp theo một câu ngắn luôn “ thằng Hoàng  “bồ” của mầy hồi còn ở Việt Nam đó “. Cháu vừa nghe bà nói vậy, thì lặng người đi, cháu cảm thấy như có ai thò tay vào vặn trái tim cháu vậy! Viết đến đây cháu cảm thấy hai tay cháu run lên. Đêm đó cháu không ngủ được, cháu khóc rất nhiều, những giọt nước mắt sung sướng, vui mừng, những giọt nước mắt buồn tủi, uất ức. Cháu mừng vì anh Hoàng vẫn còn sống, cháu càng mừng hơn nữa là anh ấy không hề chịu một sự cực khổ đọa đầy trong trại cải tạọ. Cháu đau đớn, uất ức vì cháu đã chờ đợi anh trong gần 10 năm dài! Lúc ấy cháu nghĩ chắc anh đang ở trong trại cải tạo, nhưng cháu chờ đợi mãi vẫn không thấy một cái thư nào. Ngày nào cháu cũng nghĩ mình sẽ có thư của anh ấy, có tin của anh ấy. Cháu khổ biết bao, khóc bao nhiêu lần trên gối; mơ thấy mình sục sạo tìm kiếm anh ấy khắp nơị. Cháu vẫn mơ thấy anh Hoàng; cũng như mơ thấy cháu đi về chốn cũ để tìm gặp anh ấy rất thường, rất thường. Nói một cách thật lòng với bác, ảnh như cái bóng ma ám ảnh cháu suốt mười tám năm nay! Trong gần mười năm chờ đợi ảnh, cháu đã không care đến bề ngoài của mình nữa. Cháu có nhờ những người quen cũng đi tù, lục tìm tên ảnh trong các traị cải tạo. Nhưng …. sau cùng, cháu đã phải nghĩ anh ấy đã chết rồi, hoặc là trong những ngày ly loạn, hoặc là trong trại cải tạo nào đó. Vì có lý nào anh ấy không viết cho cháu một cái thư trong bao nhiêu năm. Cháu vẫn mơ thấy anh luôn, rất thường xuyên cháu thấy anh đến đón cháu đi chơi. Có lúc cháu đợi, mà không thấy anh tới. Cháu đã không mơ nữa cách đây 3 tuần, cháu đã không thấy anh ấy trong mơ nữa, mà trong lòng cháu muốn gặp  anh, hay it ra nói chuyện trực tiếp vớí ảnh, để hỏi anh, tại sao lại đối xử độc ác với cháu như vậy ? . Cháu vẫn cầu nguyện Bề Trên cho cháu một cơ hội được gặp lại anh ấy một lần cuối ở một chốn nào đó, dù là cõi chết, để hỏi anh một vài điều: anh đã làm gì, anh đã ra sao trong bao nhiêu năm nay?

 Thưa bác, sở dĩ cháu phải nóí với bác nhiều như vậy, cháu chỉ mong bác giúp cháu một chuyện mà thôi: cháu xin bác cho cháu biết địa chỉ của anh Hoàng, cháu chỉ muốn hỏi anh “tại sao”.  Cháu muốn ảnh cho cháu một lời giải thích. Và cháu muốn nói với anh rằng trong lòng cháu rất đau đớn. Rồi sau khi đã make clear xong mọi điều uất ức mà cháu để  trong lòng hơn 18 năm, cháu nghĩ rằng sẽ để anh lại behind mà sống cuộc đời bình thường của cháu, cuộc đời mà lẽ ra cháu phải có cách đây 18 năm !

Bác ơi! Cháu đã trải hết lòng mình cho bác thấy, bác hiểụ. Điều này sẽ không hề xẩy ra nếu cháu còn 18 tuổi, nhưng nay cháu đã già rồi, cháu biết cháu đang làm gì. Xin bác viết cho cháu vài hàng hay gọi điện thọai cho cháu. Cháu rất muốn gọi điên thoại cho bác, nhưng cháu không có số phone của bác.

 Xin bác liên lạc với cháu sớm lúc nào hay lúc ấỵ. Cháu rất cám ơn bác.

 Địa chỉ của cháu :——————

 Số phone nhà  cháu : ————-

 Xin bác gọi điện thọai cho cháu vào ngày thứ bẩy, cháu chờ tin bác nghe bác.

                                                                                                   Cháu ,

                                                                                          Nguyễn thi Anh Thu

 Đọc xong bức thư, Hoàng rất xúc động, ngồi yên lặng như người mất hồn, mặt anh trở nên thẫn thờ, xa vắng …  Hoàng không ngờ Thu đã qua Mỹ và đã tìm đươc anh. Từ ngày lâp gia đình khi mới qua Mỹ năm 1975, Hoàng đã cố gắng quên hình bóngThu trong dĩ vãng để sống trọn vẹn với tình yêu của người vợ ngoan, hiền hiện tại. Anh không bao giờ nghĩ có ngày sẽ gặp laị Thu, vì trong cảnh hỗn loạn, khi bỏ nước chạy trốn Việt Cộng ngày 30-4-75, kẻ ra đi, người ở lại, cách nhau nửa vòng trái đất, không biết bao giờ mới gặp lại được nhau. Giờ đây, trong phút chốc, tất cả những kỷ niệm của  thời hoa niên và hình bóng Thu, cùng mối tình dang dỡ với nàng, đã chôn vùi trong ký ức Hoàng gần 20 năm, nay đột nhiên bùng dậy như một  thước phim  sống động diễn ra trước mắt Hoàng.

2-

Sau tết Mậu Thân1968, lệnh tổng động viên được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành. Tất cả những sinh viên thuộc 14 phân khoa của viện đaị học Saigòn, và công tư chức có bằng Tú Tài trở lên, thuộc lớp tuổi từ 20-25 đều phải nhâp ngũ khoá sĩ quan trừ bị Thủ Đức ( khóa 1 hoặc 2/68) .Sau vụ tổng công kích Tết Mậu thân của Việt Cộng, chiến sự miền Nam càng ngày trở nên khốc liệt. Nhu cầu chiến trường cần thêm nhiều sĩ quan và binh sĩ để đốí phó với  những trận chiến khốc liệt do Cộng Sản Bắc Việt đưa quân vào đánh phá khắp 4 vùng chiến thuật.

Lần đầu tiên trong lịch sử trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, các tân binh sĩ quan được đưa đến huấn luyện quân sự taị Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, nơi huấn luyện các tân binh quân dịch (trước đây, từ khoá 1 đến khóa 27, các tân binh sĩ quan được huấn  luyện tại trường Bộ Binh Thủ Đức). Hơn một ngàn tân binh sĩ quan chia thành hai tiểu đoàn: Khóa 1/68 thuộc Tiểu Đoàn Nguyễn Huệ; khóa 2/68 thuộc tiểu đoànTrần Bình Trọng . Cả hai khóa được huấn luyện cùng lúc trong 9 tuần lễ về căn bản quân sự của người lính tác chiến, đây là giai đoạn 1. Sau kỳ thi sát hạch giai đoạn 1, những tân binh sĩ quan đủ điểm, được gởi đến trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, học tiếp giai đoạn 2 thêm 6 tháng nữa, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy Những tân binh sĩ quan không đủ điểm trong kỳ thi sát hạch giai đoạn 1, được đưa ra trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang thụ huấn, ra trường vớí cấp bậc Trung Sĩ.

Hoàng vâng theo tiếng gọi Tổ Quốc, nhập ngũ khoá 2/68 sĩ  quan  trừ bị Thủ Đức, đã đủ điểm trong kỳ thi sát hạch giai đọan 1, được đưa qua trường Bộ Binh Thủ Đức học tiếp giai đoạn 2. Sau khi tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy,bộ Quốc Phòng trả Hoàng về bộ Nội Vụ, và anh được  bổ nhiệm làm trưởng ty Kinh tế tỉnh Gò Công.  Nơi đây anh đã gặp và yêu Thu. Hoàng yêu Thu không phải chỉ vì sắc đẹp mộc mạc không son phấn của Thu mà còn vì Thu có một tâm hồn phong phú hơi lạ thường . Anh có cùng một quan điểm với Trương về tình yêu đối với người con gái : “ Yêu một người con gái chỉ đẹp thôi,không có một tâm hồn phong phú hơi lạ thường, thì tình yêu ấy chỉ là vật chất tầm thường “ ( Trương là nhân vật trong tiểu thuyết Bướm Trắng của Nhất Linh ) .Mối tình của hai người đã gắn bó thắm thiết, với những mộng ước xây đắp cho tương lai. Hoàng chờThu ra Trường Dược,anh sẽ cưới Thu .Hiện tại anh mới chỉ “cầu  hôn “với Thu bằng hai câu thơ mà anh đã ghi vào trang đầu cuốn nhật ký của Thu :Lậy Trời! Thu mãi chung tình. Khi em thôi học, chúng mình lấy nhau”. Nhưng định mệnh và duyên số của Hoàng và Thu đã cùng nổi trôi theo vận nước vào ngày 30 tháng Tư năm 1975, ngày  Bắc Cộng bức tử  Việt Nam Cộng Hoà, đồng thời cũng là ngày bức tử mối tình giữa Hoàng và Thu .

3-

Năm Hoàng quen Thu, nàng vừa tròn 18 tuổi, đang học đệ nhất ban A taị trường công lập Gò Công.  Dáng người Thu nhỏ nhắn, đầy đặn, nước da trắng hồng, khuôn mặt trái xoan, khi cười để lộ đôi hàm răng trắng đều như những hạt bắp. Thu thường nhéo yêu vào cánh tay Hoàng mỗi khi anh đọc câu thơ cuả Lưu Trọng Lư (?) để khen ngợi đôi mắt to tròn, đen láy, long lanh dưới cặp chân mày lá liễu của Thu: “Mắt em là một gìòng sông. Thuyền ta bơi lội trong giòng mắt em.”

Là nữ sinh của một tỉnh nhỏ thuộc miền Tây Nam Phần, mặc dầu gia đình khá giả, nhưng Thu ăn mặc rất giản dị, khi đi học, nàng thường mặc đồng phục áo dài trắng, như những nữ sinh đồng trang lứa với nàng.Thu là người con gái rất đa cảm, rất dễ xúc động trước cảnh thương tâm. Một hôm  nhìn thấy những người lính Địa Phương Quân bị thương nặng trong cuộc giao tranh với Việt Cộng ở chiến trường, được tải thương vào Quân Y Viện Gò Công, mắt nàng đã nhỏ lệ xót thương họ. Có lẽ vì bản tính đa cảm của Thu nên nàng thích mầu tím. Mỗi khi đi chơi với Hoàng nàng thường mặc áo dài màu tím hồng và quần trắng, trên đầu thắt chiếc Headband vải đồng mầu với chiêc áo dài mầu tím. Cách trang phục này, trông Thu chững chạc và đẹp thêm ra. Thu để tóc xõa xuống bờ vai, và hương thơm thoang thoảng mùi bồ kết gội đầu tỏa ra từ tóc Thu, khiến Hoàng nhớ đến hai câu thơ mà anh đã đọc khi còn học trung học: “Có ai bên cửa ngồi hong tóc. Để chảy lan thành một suối hương”.

Vào những ngày thứ bẩy cuốí tuần, Hoàng thường đến xin phép ba má Thu để chở nàng đi chơi. Hoàng đã tỏ ý với ba má Thu là anh muốn kết hôn với Thu. Vì anh là Trưởng Ty Kinh Tế của tỉnh, ba má Thu tin tưởng Hoàng sẽ không làm những điều sai trái để mất thanh danh giữa anh và gia đình Thu, nên ông bà rất vui vẻ để Thu tự do đi chơi vớí Hoàng.

Khi rảnh rỗi, Hoàng thưòng kèm toán và Anh văn cho Thu, nên Thu rất khá về hai môn nàỵ, và năm1971,Thu đã đậuTú Tài 2 hạng Bình. Sau đó, ba má Thu đã gởi nàng lên Saìgon học  Dược Khoa.

Một hôm đi chơi, ngồi trên bờ đá công viên sông Tiền Giang, dưới bóng mát của một cây đa lớn, Thu tâm sự vớí Hoàng :

–  Ba má em muốn em học Dược, để khì em trở thành Dược Sĩ, ba má em sẽ mở tiệm thuốc tây  để lấy lợi tức sinh sống vào lúc tuổi già .

– Vậy ba má em phải “hối lộ” anh, anh mới cấp giấy phép mở tiệm thuốc.

Thu tủm tỉm cười:

– Anh lấy bao nhiêu tiền?

Hoàng ẫm ờ:

– Anh không lấy tiền.

– Vậy anh lấy gì ?

– Anh “lấy” em!

Thu đưa ngón tay trỏ dí nhẹ vào trán Hoàng :

–  Ai thèm lấy anh. Cho anh sống suốt đời không vợ .

Cả hai cùng cười. Hoàng nắm bàn tay trắng, mềm maị với những ngón tay thon dài của Thu,   hỏi:

–  Lên Saigòn học Dược, em ở đâu?

–  Ba má em sẽ gởi em ở nhà dì Ba tại đường Cống Quỳnh. Tháng trước Dì Ba  xuống thăm, má em ngỏ lời, và dì đã vui vẻ chấp thuận, Dì còn nói với ba má em “ Con Thu ở nhà vợ chồng tôi để làm gương cho con Thảo nó học “

Thảo bằng tuổi Thu, là con gái duy nhất của dì dượng Ba, nên được nuông chìu, vì thế Thảo không học hành chăm chỉ, thi Tú Tài I bi rớt một năm 2 khoá liền, mãi đến năm sau mới đậu. Dì Ba là em gái má Thu, hai chị em rất thân và thương yêu nhau. Bà ngoại Thu mất sớm, khi má Thu và dì Ba còn nhỏ, được ông bà nội nuôi nấng, chăm sóc , dậy dỗ và cho ăn học .

Hoàng cầm bàn tay trái Thu đặt vào lòng bàn tay phải  anh, bóp  thật nhẹ, rồi âu yếm nói :

– Khi em lên Saigòn học, chắc anh nhớ em lắm, vì anh không được gặp em hằng ngày. Rồi dường như mới nghĩ ra một điều gì, Hoàng tiếp :

– Anh sẽ dùng xe gắn máy về Saigòn mỗi tuần vào ngày thứ Bẩy hoặc Chúa Nhât để được gặp em. Gò Công cách Saigòn không xa, đi xe Honda Dame qua cầu Nổi, phía Cần Đước chỉ mất 1 giờ là cùng.

Thu ngồi yên lặng không nói gì, tay phải nàng vân vê tà áo dài , theo đuổi ý nghĩ riêng của nàng: chương trình học Dược kéo dài 5 năm. Trong thời gian 5 năm dài, không biết Hoàng có chờ đợi nàng được không, hay anh sẽ theo đuổi một hình bóng nào khác .

Hoàng là người yêu đầu đời của Thu, nàng yêu Hoàng với tất cả tình yêu của người con gái trinh nguyên mới lớn .Thu chưa hề có kinh nghiệm yêu đương. Nàng chỉ hiểu đàn ông qua kinh nghiệm đọc tiểu thuyết và sách tâm lý học hoặc nghe các bà bạn của má Thu nói với nhau  rằng đàn ông dễ thay lòng đổi dạ và không chung tình ” Đàn ông năm bẩy lá gan, lá ở cùng vợ, lá toan cùng ngườì “ Thấy  vẻ mặt Thu trầm ngâm, Hoàng hỏi :

–  Em nghĩ gì vậy?

–  Em nghĩ về anh.

–  Em nghĩ về anh ra sao?

Thu nghiêng đầu nhìn thẳng vào mắt Hoàng :

–  Em biết hiện tại anh rất yêu em. Nhưng khi em xa anh, em sợ anh thay lòng đổi dạ. Người xưa thường nói: xa mặt, cách lòng. Riêng em, em hứa với anh: em chỉ yêu một mình anh, dù  được ở gần anh hay phải sống xa anh, lúc nào  em cũng nghĩ đến anh .

Hoàng âu yếm nắm bàn tay trắng ngần của Thu áp vào ngực anh nơi tim anh đang thổn thức về những lời yêu thương của Thu :

–  Cám ơn Thu về tình yêu của em dành cho anh. Anh chưa có ý định lập gia đình trong vài năm tới. Năm nay 25 tuổi, anh còn trẻ, hơn nữa anh mới ra trường, nên chưa muốn lập gia đình ngay lúc này. Ít nhất phải 5 năm nữa, anh mới nghĩ đến chuyện lập gia đình. Vì vậy trong 5 năm nữa là thời gian lý tưởng để chúng ta chờ đơị nhau. Lúc ấy anh vừa tròn 30 tuổi, em là cô Dược Sĩ ở tuổi 23. Chúng ta sẽ ăn mừng “đại đăng khoa và tiểu đăng khoa“cùng một lúc.! Rồi như để làm cho Thu yên tâm thêm, Hoàng nói tiếp :

–  Anh dự định ở Gò Công thêm một vài năm nữa, rồi sẽ nhờ người quen giúp thuyên chuyển về quận Tân Bình, tỉnh Gia Định. Như vậy anh sẽ được ở gần em và đồng thời anh có cơ hội trở lại học luật để lấy cho xong chứng chỉ cuối cùng  cuả văn bằng cử nhân. Em có  muốn như vậy không ?

Thu chớp mắt xúc động :

–  Được như vậy, em đâu còn đòì hỏi gì nữa. Em sẽ yên tâm học hành để ra trường đúng như  chương trình trường Dược đã ấn định. Và nhất là để không phụ công anh chờ đợi em.

Hoàng đưa cánh tay phải quàng qua eo Thu, kéo nàng sát vào người anh . Mùi thơm da thịt săn chắc của Thu thoang thoảng tỏa ra qua lớp áo dài mỏng của nàng, làm Hoàng ngây ngất. Hơi ấm cuả  hai người quyện vào nhau ,khiến Hoàng có ảo giác như hai thân xác đã hòa thành một. Hai người ngồi với nhau như vậy trong thinh lặng, không ai nói với ai một lời., để cho tình yêu thấm nhập vào từng thớ thịt cuả mỗi người .Thỉnh thoảng Hoàng lại ghì chặt Thu sát thêm vào người anh , khiến áo nịt ngực của nàng hơi căng ra, và mặt Thu hơi ửng  đỏ …

Thu rất vui mừng vì đã biết rõ ý định Hoàng chờ đơị nàng, và sẽ cưới nàng ngay sau khi nàng ra trường Dược .Thu muốn về nhà để nói cho ba má nàng biết về ý định của Hoàng, nhìn đồng hồ đeo tay, Thu  gỡ tay Hoàng ra khỏi hông nàng :

–  Mình ra đây ngồi từ lúc ăn trưa ở nhà hàng ra tới gìờ, đã lâu lắm rồi. Thôi về đi anh. Kẻo ba má em trông.

Chiều xuống chậm, nắng đã nhạt, gíó từ mặt nước sông thổi lên mát rợị. Xa xa giữa giòng sông những chiếc ghe máy chở đầy trái cây, rau cải, gà vịt…. đang vội vã chạy ngược xuôi về bến đậu. Phía bên kia bờ sông, mặt trời như một trái banh thật lớn đỏ vàng sáng rực, treo lơ lửng trên không trung, và đang từ từ đi xuống khuất sau rặng cây và dẫy núí ở cuối chân trời. Trên nền trời xanh bao la, từng đàn chim nhạn đang tung cánh bay về phương trời xa thẳm….

Hoàng hôn lên mái tóc thề đen mượt , thơm mùi bồ kết ở đầu Thu. Anh đứng dậy trước, nắm bàn tay trái Thu kéo nàng dứng lên. Hai người tay trong tay lững thững đi ra khỏi công viên, đến chỗ gửi xe gắn máy để lấy xe trở về nhà …

4.

Tình hình chiến sự miền Nam vào đầu tháng 2 năm 1975 đã trở nên sôi động tại các tỉnh ở miền Trung, nhưng thành phố Sàigòn vần còn yên ổn, người dân  Sài thành vần tổ chức đón mừng xuân Ất Mão, tuy không tưng bừng như mọi năm ..

Trước ngày về quê xum họp với gia đình đón mừng xuân Ất Mão, Thu và Hoàng ( lúc này Hoàng đã được thuyên chuyển về Gia Định ) được mời tham dự tiệc Tất Niên do một số nam nữ sinh viên trường Dược tổ chức tại một biệt thự khá lớn của bố mẹ một cô bạn rất thân cùng lớp ở trường Dược với Thu, tại đường Hiển Vương, quận 3 Sàigòn, vào chiều ngày 29 giáp tết. Ất Mão .Tiệc Tất Niên có khoảng 30 nam nữ sinh viên năm thứ tư trường Dược tham dư. Họ ăn uống, ca  hát,khiêu vũ, vui chơi để tiễn đưa năm cũ và đón mừng năm mới .

Thu có giọng hát rất truyền cảm và nàng hát khá hay. Thu yêu thích những bản nhạc trữ tình, đặc biệt, những nhạc phẩm ca tụng tình yêu lứa đôị. Hồi còn học lớp đệ Nhất ban A trung học Gò Công, Thu là trưởng ban văn nghệ của trường. Có lầnTiểu khu Gò Công tổ chức liên hoan chào mừng chiến thắng của một đại đội điạ phương quân tại sân vân động của tỉnh, ban văn nghệ trường Trung Học Gò Công được mời phối hợp với ban Tâm Lý Chiến của tiểu khu trong chương trình văn nghệ gíup vui cho quân nhân. Hôm ấy Thu đã hát bản “Hoa Soan Bên Thềm Cũ “ cuả nhạc sĩ Tuấn Khanh, được thính giả nhiệt liệt vỗ tay khen ngợi. Có người nói rằng nếu Thu tiếp tục con đường cầm ca, Thu sẽ là con “Nhạn Trắng” thứ 2 của Gò Công. Thu chỉ thích hát kiểu tài tử để mua vui với bạn bè, thâm tâm nàng không bao giờ muốn theo nghiệp cầm ca để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, nàng muốn theo đuổi con đường học vấn để trở thành Dược Sĩ như ba má nàng mong muốn để đền đáp công ơn dưỡng dục sinh thành của song thân nàng

Một số bạn trường Dược thân quen, biết Thu hát hay, đã yêu cầu nàng hát trong buổi tất niên  hôm ấy. Thu đã vui vẻ nhận lời, và nàng đã yêu cầu Hoàng đệm guitar cho nàng hát.. Trong lúc Hoàng đang so lại dây đàn guitar, Thu nói nhỏ vừa đủ để Hoàng nghe :

–  Em hát bài “Ngàn Thu Áo Tím” của Hoàng Trọng để riêng tặng anh trong đêm naỵ  Chắc hẳn anh còn nhớ ngày đầu tiên anh gặp em trong đám cưới con nhỏ bạn em, em cũng mặc áo tím như đêm naỵ Và hôm đó anh đã nói với em rằng :” màu tím là màu buồn, màu của chia lìa xa cách. Anh không thích mầu tím “…Em đã không “cãi” lại anh, và chỉ nhủ thầm : “ anh là người tin  nhảm “. Nói xong, Thu cầm tay Hoàng kéo anh đứng dậy đi ra chỗ đứng hát.

Tiếng đệm đàn dương cầm của Phương, người bạn gái chủ nhà , hòa âm với tiếng guitar của Hoàng đã làm Thu say đắm để hết tâm hồn diễn tả lời và nhạc của bản “Ngàn Thu Áo Tím “ : (1)

“Ngày xưa xa xôi em rất ưa mầu tím,

Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến,

Chiều xuống áo tím thường thướt tha

Bước trên đường gẩm hoa

Ngắm mây chiều lướt xa       

Từ khi yêu anh, anh bắt xa mầu tím

Sầu thương cho em, mơ ước chưa kịp đến

Trời đã rét mướt cùng gíó mưa

Khóc anh chiều tiễn đưa

Thế thôi tàn giấc mơ.                        

Anh xa xôi bóng mưa giăng mờ lối

Anh xa xôi áo bay trong chiều rơi

Anh xa xôi áo ôm tim lẻ loi

Tím lên khung trời nhớ nhung đầy vơi           

Từ khi xa anh, em vẫn yêu và nhớ

Mà sao anh đi ,đi mãi không về nữa

Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ

Khóc  trong chiều gíó mưa

Khóc thương hình bóng xưa …                      

Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím

Ngàn thu đau thương, vương áo em mầu tím

Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau

Tháng năm còn lướt mau

Biết bao giờ thấy nhau …..

Tiếng hát vừa chấm dứt, một tràng pháo tay vang dội nổi lên. Thu mỉm cười, cúi đầu chào đáp lễ. Rồi nàng âu yếm nắm tay Hoàng  cùng đi về chỗ ngồị .

Cuộc vui kéo dài đến nửa đêm thì chấm đứt. Trước khi ra về, mọi người vui vẻ bắt tay, chúc nhau những điều tốt đẹp nhất cho năm mới, hẹn gặp lại nhau tại trường Dược vào năm mới .

Trời đã về khuya, đường phố vắng xe chạy. Thỉnh thoảng một vài cơn gíó thổi qua, làm cành  lá trên các cây me hai bên lề đường va chạm mạnh vào nhau, phát ra tiếng kêu xào xạc trong đêm khuya. Vầng trăng thượng tuần lơ lửng trên nền trời trong xanh, tỏa ánh sáng yếu ớt xuống mặt đường phố Sàigòn. Thỉnh thoảng, một vài tiếng đại bác từ xa vọng về trong đêm khuya, và những ánh hỏa châu sáng rực được bắn lên trời định kỳ từ những đơn vị quân đội Việt Nam Cộng Hoà giữ an ninh cho vòng đai thủ đô Saigòn , như nhắc nhở người dân saìgòn đừng quên chiến tranh tàn khốc đang tiếp diễn trên quê hương ,ngay cả vào những ngày Tết  dân tộc cổ truyền thiêng liêng nhất..

Các sinh viên nam nữ trường Dược cười, nói vui vẻ, lần lượt rủ nhau ra về…Hoàng đưa xe gắn máy ra khỏi cổng biệt thự, anh ngồi lên yên xe, rồi bảo Thu :

-Em ngồi lên xe , nhớ ôm chặt lấy anh, kẻo té.

Thu yên lặng, ngoan ngoãn như một đứa trẻ nhỏ, làm theo lời người lớn bảo. Nàng vén tà áo dài phía sau, ngồi nghiêng lên yên xe, phía sau Hoàng. Tay trái nàng giữ tà áo dài trong lòng nàng, còn tay phải nàng vòng qua hông Hoàng ôm chặt lấy anh. Ngồi ở tư thế này, nửa thân phía trên người Thu áp sát vào lưng Hoàng, khiến hơi ấm da thịt Thu chuyền vào người Hoàng, làm anh cảm thấy rạo rực êm đềm và có cảm tưởng như Thu đã là vợ anh rồi. Khi thấy Thu đã ngồi an toàn trên xe, Hoàng rồ máy cho xe chạy về cuối phố, rồi quẹo phải ra đường chính để về nhà Thu.

Tình hình chính trị và quân sự tại miền Nam Việt Nam vào đầu tháng 3 và tháng 4 năm 1975 thay đổi rất nhanh nên Hoàng không có thì giờ xuống Gò Công để báo cho Thu biết về quyết định anh bỏ nước chạy trốn khi Cộng quân tiến chiếm Thủ đô Saì gon. Lần cuối cùng Hoàng gặp Thu là ngày anh đưa Thu về Gò Công nghỉ Têt sau buổi tiệc Tân Niên tại ngôi biệt thự của ba má người bạn gái Thu. Hoàng và Thu không còn cơ hội gặp lại nhau nữa và đã mất liên lạc với nhau kể từ ngày đó.

5.

Hoàng đọc đi đọc lại nhiều lần bức thư Thu viết cho ông Hải – thực ra chính là viết cho Hoàng. Anh suy nghĩ rất nhiều về viêc có nên gặp Thu theo lời nàng yêu cầu trong thư hay không. Tình yêu của Hoàng đối với Thu giờ đây giống như một đống lửa chỉ còn cháy âm ỷ trong tận cùng  cốt lõi của nó. Nói khác đi, trong thâm tâm Hoàng, anh vẫn còn yêu Thu, nhưng tình yêu của anh đối với Thu không còn mãnh liệt như 20 năm trước đây. Hoàng được biết, qua ông Hải, theo lời thân phụ Thu cho ông Hải biết, nàng đã lập gia đình vào năm 1985 với một cựu sĩ quan quân lực VNCH đi tù cải tạo về, và nay đã có 2 con.  Hoàng nửa muốn gặp Thu nửa lại không muốn. Anh muốn gặp mặt Thu dể nói lời xin lỗi và tạ từ tình yêu của anh đối với Thu .Đằng khác, Hoàng không muốn gặp lại Thu vì anh sợ chồng Thu biết được cuộc gặp gỡ giữa anh và Thu, sẽ hiểu lầm, khiến hạnh phúc gia đình nàng bị đe dọa. Điều này là mối quan tâm nhất đối Hoàng .Anh nhớ đến câu thơ của Hồ Dzếnh : “Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở. Đời hết vui khi đã vẹn câu thề” .Nghĩ vậy, Hoàng quyết định không gặp Thu, để Thu giữ mãi hình ảnh anh ngày còn trai trẻ, và anh cũng giữ mãi hình ảnh Thu đẹp ở thời thanh xuân của ngườì con gái mới lớn. Hoàng để tâm hồn anh lắng đọng một thời gian, sau đó anh quyết định viết cho Thu:

                           Ngày      tháng      năm      

  Thu yêu mến,

Anh rất mừng em đã thoát khỏi Việt nam,và đã đến được bến bờ tự do. Anh thật không ngờ có ngày chúng mình biết được tin nhau sau gần 20 xa cách! Tuy chúng ta chưa gặp mặt , nhưng ít ra, anh đang “gặp” lại em trên những trang giấy này. Đọc thư em, anh rất buồn. Anh không ngờ đã vô tình làm em buồn khổ, chờ đợi anh trong gần 10 năm dài. Anh thật đáng trách và có lỗi với em. Giờ đây anh không biết nói gì hơn ngoài lời tạ tội với em và mong em tha thứ cho anh. Anh cám ơn em về tình yêu của em đã dành cho anh trong những ngày em sống xa vắng anh.

Anh.bỏ saìgon ra đi vào giờ phút chót, ngoài dự định của anh. Trong lúc hốt hoảng, bối rối và quá gấp rút, anh không có thì giờ xuống Gò Công để nói cho em biết về quyết định ra đi của  anh. Anh được người bạn là sĩ quan Hải Quân, chỉ huy trưởng một chiến hạm, đưa anh lên tầu hải quân tại bến Bạch Đằng vào đêm 29-4-1975, thoát khỏi Việt nam trước khi Cộng quân tiến vào Saìgòn trưa ngày 30-4-75.

 Trên đường chạy trốn, anh hồì tưởng lại đêm tất niên tại ngôi biệt thự của bạn gái em. Đêm ấy, em đã hát bài “Ngàn Thu Áo Tím“, trong đó có những câu : “Khóc anh chiều tiễn đưa. Thế thôi tàn giấc mơ” và “ Mà sao anh đi, đi mãi không về nữa..  Khóc thương hình bóng xưa v..v..”.  Anh tự hỏi tại sao em hát bài đó để tặng riêng anh trong khi em thuộc nhiều bài hay  hơn, em lại không hát?. Phải chăng em đã “nói gở” báo trước ngày chúng mình phải xa cách nhau, mà  em đã “vô thức” biểu lộ ra  bằng những lời trong bài hát ? Phải chăng định mệnh đã an bài, và mối tình đôi ta bắt đầu chấm đứt từ đêm hôm ấy ?

 Em yêu, sở dĩ  anh không viết thư cho em là  vì anh không nhớ địa chỉ nhà em.Khi muốn đến nhà em, anh vừa đi vừa nhắm mắt cũng tới được. Vậy nhớ điạ chỉ để làm gì ? Hơn nữa Mỹ và Việt Nam là hai nước thù địch từ sau ngày 30-4-75, không có quan hệ ngoại giao, nên thư từ rất khó khăn.Và vì vậy ,anh coi chúng ta như đang sống ở hai thế giới âm dương cách biệt . Muốn gặp lại nhau, phải đợi tới khi chết .

  Khi việc định cư ở Mỹ tạm ổn định , anh đã lập gia đình với người con gái do người chị họ anh giới thiệu .Việc hôn nhân của anh theo “cách thức cổ điển “, tức là có người mai mối .Anh không hề date với cô ấy như anh đã từng date vói em hơn 4 năm .Sau khi quen cô ấy trong một thời gian ngắn, anh thấy cô ấy ngoan, hiền nên anh ngỏ lời cầu hôn, và cô ấy đã nhận lời . Con-thuyền-anh bắt đầu đậu tại bến-bờ-này từ đâỵ Vợ anh năm nay 38 tuổi, hơn em  một tuổi. Gia đình cô ấy không được khá giả nên sau khi học hết lớp12, cô ấy phải đi làm gíup đỡ gia đình, không có cơ hội được lên học đại học như em. Hiện nay anh và vợ anh sống rất hạnh phúc bên nhau và đã có 3 con .Kinh nghiệm cho anh thấy rằng tình yêu đến sau hôn nhân chỉ thiếu phần lãng mạn so với tình yêu đến trước hôn nhân . Nhưng nếu tình yêu đến trước mà hôn nhân  không thành, thì chỉ làm cho người trong cuộc đau buồn mà thôi …

 Em thấy đó, việc anh gặp vợ anh  như có ” duyên tiền định” đã xếp đặt từ trước .Định mệnh đã an bài, anh không thể biết trước, mà cũng không thể tránh được. Việc đến, nó sẽ phải đến . Cũng như việc anh và em phải chia lià xa cách nhau mà mình không thể tiên đoán được .

 Vợ anh làm teller cho nhà bank. Còn anh, mấy năm đầu ở Mỹ, anh làm cho một tiệm bánh, đến năm 1979, anh đi học accounting, và sau khi tốt nghiệp, anh làm cho hãng bảo hiểm nhân thọ từ dó đến nay. Đọc đến đây, em đã rõ cưộc đời riêng của anh hiện giờ ra sao.

 Anh đưa thư của em cho vợ anh đọc. Đọc xong, cô ấy bảo anh rằng cô ấy trả anh lại cho em, để 2 người yêu nhau cho trọn kiếp, nhưng với điều kiện : anh phải ra đi tay không, để lại 3 đứa con cho cô ấy, cùng căn nhà đứng tên chung…Anh không biết cô ấy nói thiệt hay nói đùa, nhưng trong thâm tâm anh, anh ước có phép thần để làm đảo ngược lại thời gian cách đây 20 năm, hoặc làm anh trẻ lại ở tuổi 30, để anh có thể làm lại cuộc đời  hầu đáp lại tình yêu của  em dành cho anh. Nay thì đã quá muộn, và anh thì chẳng có phép thần. Anh nay ở tuổi đã về già, đâu còn sức lực để làm lại cuộc nữa, anh không thể mang lại hạnh phúc cho em được ,nên dù thâm tâm anh có muốn, anh cũng đành give up. Hơn nữa vợ anh không phản bội anh, anh đâu có lý do phản bội cô ấy, và còn 3 đứa con anh nữa …

  Thu thương mến, mặc dầu anh không được diễm phúc cưới em làm vợ, nhưng anh vẫn thương yêu em như tình yêu người anh dành cho người em gái, và anh hằng cầu mong em luôn được hạnh phúc bên chồng con. Chúng ta đã gặp nhau trên đường đời, nhưng chúng ta không có duyên nợ với nhau, nên chúng ta đã không thành vợ chồng. Nay em đã yên phận gia đình bên chồng con, còn anh, anh có trách nhiêm với vợ con anh. Chúng ta hãy coi mối tình năm xưa là một kỷ niệm đẹp của tuổi thanh xuân trong cuộc đời chúng ta .

 Anh đã trải lòng mình (anh mượn chữ của em) trên 2 trang giấy, anh mong em hiểu và tha thứ  những lỗi lầm anh đã phạm trong quá khứ,làm em buồn khổ trong gần 20 năm xa cách nhaụ .Anh mượn 4 câu thơ của một nhà thơ tiền chiến để nói với em tất cả tình của anh dành cho em ở kiếp này :  

Hẹn đến luân hồi sẽ gặp nhau

Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau,

Chờ anh dưới gốc sim già, nhé  ,

Anh hái đưa em đóa mộng đầu .

 Vâng, anh hái trao em đóa mộng đầu để làm quà sính lễ xin cưới em làm người vợ muôn thuở .

                                                                                                                       Anh,

                                                                                                                      Hoàng

Hoàng viết xong bức thư, gấp lại, bỏ vào phong bì, rồi để vào trong ngăn kéo bàn viết. Ngày mai anh sẽ ra bưu điện gửi bảo đảm để chắc chắn thư sẽ đến tay Thu .

Chiếc đồng hồ Grandfather ở phòng khách ngân vang “tính, tình, tang tình”’ rồi gõ một tiếng “coong” độc nhất: báo hiệu một giờ đêm. Trong phòng ngủ, vợ và  3 đứa con Hoàng đang đắm chìm trong giấc điệp. Ngoài trời vạn vật chìm đắm trong đêm khuya yên tịnh. Hoàng vươn vai đứng dậy đi ra khỏi bàn viết, mở cửa phòng khách, bước xuống bậc tam cấp trước cửa nhà, rồi làm vài động tác hít thở. Một cơn gió nhẹ thổi qua, đem theo hơi lạnh ban đêm, làm mấy chiếc lá vàng trên cây phong lan trồng giữa vườn trước nhà, rơi lác đác xuống bãi cỏ xanh dưới ánh trăng  thu . Hoàng  buột miệng nói một mình:

–  Trời hơi se lạnh., đã bắt đầu chớm thu rồi .

Bất giác Hoàng ngẩng đầu nhìn lên bầu trời trong xanh đầy sao, ngay lúc ấy, một vì sao vừa đổi ngôi.  Hoàng lẩm bẩm  lặp lại câu Thu nói năm xưa, khi Thu và Hoàng ngồi chơi trong vườn sau nhà Thu, dưới ánh trăng rằm :

– Một linh hồn vừa lìa duơng thế .

Nói xong và nghe tiếng mình nói, Hoàng nhớ lại Thu nói với  anh : ngày xưa khi Thu còn bé, bà nội Thu  giải thích choThu về hiện tượng sao đổi ngôi : Hễ mỗi lần trên trời có một vì sao đổi ngôi, thì ở dưới thế có một linh hồn vừa mới lìa trần. Lớn lên Thu vẫn ngây thơ tin như vậy .

Ngoài đường lớn, một chiếc xe cứu thương chạy ngang qua khu nhà Hoàng, vừa chạy vừa hú còi ré  lên inh ỏi, phá tan sự tĩnh mịch trong đêm khuya….

Virginia , mạnh thu 2011

Vũ Bá Hoan

(1) Xin phép Nhạc Sĩ Hoàng Trọng cho trích lời bài nhạc “Ngàn Thu Áo Tím “ .

Views: 458

Đường Vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Nguyễn Ngọc Cường

truong qghc

Xong tú tài toàn phần, vì ham rong chơi nhất là lại quá mê mẩn với ánh đèn mầu đầy ma lực quyến rũ của các khiêu vũ trường nên tôi đã thất bại nhiều năm liên tiếp tại các trường đại học ở nhiều nơi khác nhau.  Nhận thấy rõ yếu điểm của bản thân nên tôi bèn bỏ học để trở thành tư chức về ngành kế toán sau một khóa huấn luyện ngắn hạn cho hãng bào chế dược phẩm Roussel ở Sàigòn.  Sau đó ít lâu tôi bỏ nghề cạo giấy vì thấy nó buồn tẻ, đều đặn, mẫu mực, ngày nào cũng như ngày ấy với một số lớn tên thuốc thuộc nằm lòng, những hóa đơn đặt mua hàng của các pharmacy quen thuộc, số lượng thuốc mẫu hàng ngày dành cho những trình dược viên để mang đi quảng cáo tại các văn phòng bác sĩ đã làm cho tôi nản lòng.  Hơn nữa tiếng máy đánh chữ lóc cóc vang lên đều đặn một cách tẻ lạnh thật buồn chán gần như suốt ngày trong phòng làm việc đã tạo cho tôi cái cảm giác sợ sệt vì tưởng rằng hình như mình đã già, già lắm rồi thì phải.

Từ trước đến giờ tôi vẫn nhìn các công chức qua hình bóng nghiêm khắc của thân phụ tôi với vẻ e dè, kính cẩn, sợ hãi vì không hiểu tại sao tôi lại cảm thấy quý vị công chức hình như đều có vẻ đạo mạo, khép kín, trang nghiêm, già nua, khô khan và cằn cỗi.  Từ ý nghĩ này cộng thêm với kinh nghiệm bản thân qua những ngày tháng làm việc tại hãng Roussel đã khiến cho tôi lúc trước không hề có ý định nộp đơn dự kỳ thi tuyển sinh viên vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thì giờ đây lại vững chắc hơn: không thể nào tôi lại vào học ngôi trường đó để trở thành công chức cả, dù là công chức cấp nào cũng vậy thôi mặc dù tôi rất thích ngôi trường này vì quá bề thế, khang trang lẫn uy nghi, có thể nói đây là ngôi trường đẹp nhất ở Sàigòn.

Sau khi rời hãng Roussel tôi bất ngờ trở thành viên thông ngôn cho Sư Đoàn 7 Không Quân Hoa Kỳ đóng tại phi trường Tân Sơn Nhất.  Công việc này có lẽ thích hợp với tôi hơn là ngồi cạo giấy trong văn phòng.  Suốt ngày tôi, cùng với hai viên quân cảnh Mỹ trên chiếc xe Jeep lùn, lang thang khắp nơi trong phi trường, kể cả phố xá lẫn các bar rượu để thông dịch các sự việc xô sát, cãi cọ, tranh chấp… giữa các quân nhân Mỹ với người Việt Nam.

Đây là một công việc tôi rất thích thú vì được tiếp xúc với nhiều người thuộc mọi tầng lớp xã hội, biết thêm được nhiều khía cạnh của cuộc sống hàng ngày, kể cả cuộc sống bạt mạng, không cần biết đến tương lai của các cô chiêu đãi viên làm việc tại các bar rượu và quan trọng nhất là trau dồi thêm môn Anh ngữ.  Trong thời gian này không hiểu sao tôi lại đột nhiên trở nên mê say đọc thơ văn trên các sách báo, tạp chí đến lãng quên hẳn tiếng nhạc bập bùng vẫn đều đặn vang vọng trong ánh đèn mầu quyến rũ tại các vũ trường. Tôi mê say đọc các vần thơ óng chuốt, diễm lệ cùng những áng văn mượt mà, mê hoặc, lãng mạn dễ làm say đắm lòng người của các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng đương thời.  Tôi mến mộ nhất là tạp chí Văn do nhà văn một thời lẫy lừng làm chủ bút: Mai Thảo.  Ông có lẽ là một nhà văn tôi yêu thích với lối viết trữ tình, ngọt ngào, cách dùng chữ điêu luyện và cách ngắt câu khác lạ nhưng thật tuyệt vời. Tôi đã say mê đọc các sách ông viết: Đêm Giã Từ Hà Nội, Mái Tóc Dĩ Vãng, Tháng Giêng Cỏ Non, Khi Mùa Mưa Tới, Mười Đêm Ngà Ngọc .… tuy nhiên tác phẩm “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” đã  đặc biệt lôi cuốn tôi hơn cả và có lẽ đã thay đổi hẳn con người tôi.

Qua tác phẩm này, tôi thấy nhân vật nam chính (vì quá lâu nên đã quên tên) thật hào hùng, can đảm lẫn oai nghi.  Lúc chọn nhiệm sở sau khi tốt nghiệp trường đào tạo viên chức hành chánh cao cấp thời nước Pháp còn ảnh hưởng nặng nề đến các chính quyền quốc gia còn non trẻ, nhân vật chính này đã tình nguyện đi trấn nhậm một quận hẻo lánh, mất an ninh thuộc miền Thượng Du Bắc Việt, nơi tất cả các vị Quận Trưởng tiền nhiệm đều bị Việt Minh ám sát chết.  Với tất cả sự lanh lợi, thông minh, mưu lược cùng may mắn diệu kỳ nên vị Quận Trưởng trẻ tuổi này đã vượt qua nhiều hiểm nguy, thoát khỏi những cái bẫy thâm độc do Việt Minh dựng lên nhằm trừ khử một viên chức quốc gia đã quá nhiệt tình với công vụ.  Ông đã hoàn thành thật xuất sắc sứ mạng mang đến cuộc sống tạm an bình và ấm no cho người dân sở tại.  Ông trở nên một cái gai cần phải nhổ của Việt Minh địa phương.  Vì công việc trị nước, an dân vị Quận Trưởng này đã tiếp xúc thường xuyên với một cô gái trẻ đẹp trong vùng.  Cô gái này, một nữ giao liên của Việt Minh, đã được lệnh kết thân để rồi giết viên Quận Trưởng khi có dịp.  Hình như đôi bên đều có cảm tình với nhau nên trong một lần giáp mặt người Quận Trưởng tài hoa cô đã can đảm nói rõ âm mưu thanh toán ông mà cô là người lãnh nhiệm vụ đó.  Bọn Việt Minh sở tại biết rõ chuyện này nên chúng đã bắt cô cùng kết án cô tội phản bội.  Chúng tìm mọi cách ép buộc cô viết thư tới vị Quận Trưởng để xin ông đem quân đi cứu cô ta với hy vọng nhân cơ hội này chúng sẽ phục kích giết được ông.

Với cách hành văn thật bay bướm, tài tình, nhà văn Mai Thảo đã cho người đọc thấy mưu lược vô song cùng lòng dũng cảm hiếm có của vị Quận Trưởng văn võ toàn tài này khi ông phối hợp với đội quân Pháp- Việt địa phương đi giải cứu cô.  Cuộc hành quân thành công, cô gái được cứu thoát.  Trên đường về, một cán bộ Việt Minh bị thương nặng đã bất ngờ tỉnh dậy và nhắm súng bắn vào người Quận Trưởng.  Cô gái trông thấy kịp vội đem cả thân mình lấp họng súng oan nghiệt để che chở cho người ơn.  Cuối cùng tên Việt Minh đó bị bắn chết, người Quận Trưởng oai hùng kia bình an vô sự nhưng cô gái trẻ đẹp đã lãnh viên đạn định mệnh ngay tim để rồi trút hơi thở cuối cùng trên tay vị Quận Trưởng sau khi cố gắng thều thào thốt nên câu: “Em yêu anh”.  Người Quận Trưởng đầy bản lĩnh này đã khóc ngất khi vuốt mắt cho người con gái bạc mệnh chết trên tay mình.  Câu chuyện thật ai oán và cảm động, nhưng xúc động hơn nữa là người Quận Trưởng đã nhờ bệnh viện địa phương lấy viên đạn đã cướp đi mạng sống của cô gái ra khỏi thân xác cô và làm thành một món trang sức ông luôn luôn đeo trên người.  Ông thường xuyên ra thăm mộ người xấu số và hứa với cô ông sẽ nhớ mãi tình cảm đẹp cô đã dành cho và ông sẽ không bao giờ rời xa viên đạn đồng đã kết liễu đời cô như một cách luôn ấp ủ trái tim cô trong lòng ông.  Có lẽ trong tâm tình đó mà nhà văn Mai Thảo đã đặt tên cho tác phẩm tuyệt diệu này là “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” chăng ?

Câu chuyện trên, hình như chỉ có thể xẩy ra trong trí tưởng tượng độc nhất vô nhị của nhà văn nổi tiếng đó, đã làm tôi thẫn thờ trong nhiều ngày liền và tự nhiên mơ ước mình muốn trở thành người Quận trưởng này.  Qua tác phẩm “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI”, tôi không còn thấy công việc của công chức là nhàm chán nữa, nó có một cái gì đó thật là phiêu lưu, mạo hiểm và sinh động không kém phần lãng mạn nhất là khi người sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, sau lúc tốt nghiệp, thường lãnh nhiệm vụ Phó Quận Trưởng tại các quận đa số là hẻo lánh, thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh.

Có thể nói chính tác phẩm  “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” đã làm tôi nôn nức tới liền số 10 Trần Quốc Toản, Sàigòn để hỏi thăm về kỳ thi tuyển sắp tới cùng các bài thi tuyển.  Tôi đã thận trọng hỏi thăm nhiều người  (tôi nhớ không rõ lắm hình như một trong những người tôi gõ cửa để hỏi là anh Nguyễn Văn Thực, ĐS 7, Chủ Sự phòng Công Tác Sinh Viên lúc bấy giờ).  Những người tôi hỏi thăm đều sốt sắng chỉ cho tôi những loại sách, những bài nghiên cứu về chính trị để đọc, để học hầu có thể làm bài suông sẻ trong kỳ thi sắp tới.  Cũng may mắn là từ khi hỏi thăm như vậy đến ngày thi tuyển còn đến những ba tháng trường, tạm đủ để tôi “gạo” kỹ càng những sách vở đã được chỉ dẫn.

Hình như “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” đã quyện vào cuộc đời tôi khi cho tôi đậu ngay kỳ thi đầu tiên vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh để nhập học khóa Đốc Sự 14 mặc dầu tôi rất dốt về môn chính trị học.  Bốn năm học trôi qua nhanh chóng.  Tôi chỉ là một sinh viên trung bình nên trong kỳ thi tuyển đã đậu chính giữa trong danh sách 100 người, do vậy khi ra trường tôi cũng tốt nghiệp lại ngay giữa với thứ hạng 40 trong số 81 sinh viên tốt nghiệp lớp Đốc Sự 14. Trước ngày chọn nhiệm sở, gia đình, người thân đều khuyến khích tôi làm tại Sàigòn, vì tâm lý thông thường là không ai muốn người thân ruột thịt của mình phải làm việc tại nơi đèo heo hút gió vào thời điểm chiến cuộc đang gia tăng ác liệt, có thể nguy hiểm đến bản thân.   Nhưng rồi với ý tưởng mơ đến “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” nên tôi đã chọn Bộ Nội Vụ để đi làm việc ở địa phương mặc dù tôi cũng còn có thể chọn được một vài bộ để làm việc ngay tại Sàigòn hoa lệ.

Trong buổi chọn địa phương do Bộ Nội Vụ tổ chức, tôi thấy hình như có một sự sắp đặt huyền bí nào đó khi tôi dự định chọn tỉnh Bình Thuận (Thị trấn Phan Thiết, quê hương nước mắm), một tỉnh tương đối an ninh so với những tỉnh còn lại trên danh sách chọn và lại gần Sàigòn nữa thì cái miệng tôi lại nói là Bình Định (Thị trấn Quy Nhơn, Liên Khu 5 cũ của Việt Minh). Thích chí vì chọn được tỉnh vừa ý không được bao lâu thì tôi chợt nhận ra sự lầm lẫn tai hại của mình.  Ngó lên bảng danh sách thì hai người bạn sắp hạng kế sau tôi đã lấp đầy hai chỗ dành cho tỉnh Bình Thuận rồi.  Chỉ còn biết thở dài vì lỗi của mình, tôi miễn cưỡng đi ra thành phố Quy Nhơn trình diện với hai bạn trong danh sách đi Bình Định.  Kể ra tâm lý con người cũng thật rắc rối, mơ chuyện phiêu lưu, mạo hiểm mà vẫn muốn chọn nơi tương đối an toàn!

Tỉnh Bình Định lúc đó đang cần ba Phó Quận Trưởng cho ba quận mà hai quận khá tốt là Bình Khê (Quê hương Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, rất gần thành phố Quy Nhơn) và Hoài Nhơn (với Thị trấn Bồng Sơn, một xứ dừa sầm uất, rất thơ mộng và tình tứ nhưng khá xa Quy Nhơn).  Những tưởng là sẽ chọn Quận theo thứ tự giống như khi chọn Bộ và Tỉnh lúc còn ở Sàigòn, tôi có ý nghiêng về quận Bình Khê vì gần Quy Nhơn.  Nhưng rồi hỡi ơi, chẳng có chọn hay lựa gì cả, tôi đứng đầu danh sách đi tỉnh Bình Định thì lại bị “cấp trên” chỉ định “quẳng” về quận Hoài Ân, một quận miền núi, nằm trên một tỉnh lộ bằng đất ngoằn nghoèo bò giữa những đồi núi cao và dòng Lại Giang xuôi ra biển từ miền núi non Trường Sơn hiểm trở.  Thêm một lần nữa chỗ làm việc tôi định tâm lựa chọn lại vượt khỏi tầm tay vì một nguyên do ngoài ý muốn.  Có lẽ đây là một thiên duyên hay định mệnh ???

Trụ sở Quận Hoài Ân là một gian nhà gạch nhỏ nằm lưng chừng một ngọn đồi cao khoảng hơn 10 mét, trên đỉnh đồi là Chi Khu Hoài Ân.  Tôi là một dân sự duy nhất cư ngụ tại Chi Khu, ban ngày xuống văn phòng Quận làm việc, đến chiều thì lại bò lên Chi khu chằng chịt hàng rào kẽm gai phòng thủ với lô cốt tứ phía tua tủa những súng đạn.  Một trung đội pháo binh với hai khẩu đại bác 105 ly thuộc Sư Đoàn 22 đóng ngay trên đồi cách phòng ngủ của tôi khoảng chừng 20 mét, ngày đêm thường xuyên bằn ùng oằng với tiếng nổ đinh tai nhức óc làm rung cả giường chiếu (có lẽ vì vậy mà dạo này tôi hơi bị lãng tai chăng?)

Tôi được biết ngọn đồi này là địa điểm thứ ba của trụ sở Quận/Chi Khu chỉ trong vòng năm, sáu năm trở lại.  Những ngọn đồi trước đều bị quân chính quy Việt Cộng san bằng vì đây rất gần vùng An Lão nơi đặt đại bản doanh của Sư Đoàn 3 Sao Vàng VC, hầu hết quân nhân đồn trú trên đồi đều hy sinh, kể cả Quận Trưởng lẫn Phó Quận Trưởng (thường ở ké trong Chi Khu vì dưới làng không được an toàn về đêm).  Lúc đầu tôi cũng hơi “lạnh cẳng” khi đêm về cô độc trên đồi và nghĩ đến lúc ngọn đồi bị địch quân tràn ngập như đã từng xẩy ra tại các ngọn đồi trước đây, việc gì sẽ xẩy ra nhỉ?  Không khéo rồi tôi sẽ là tên đầu tiên của khóa Đốc Sự 14, đi trấn nhậm quận, sớm vội vã rửa chân leo lên bàn thờ ngồi nhìn đời chơi chăng???  Lo sợ quá rồi đâm ra chai lì.  Viên Quận Trưởng cũng cung cấp cho tôi vũ khí các loại, đạn dược, nón sắt, áo giáp như một quân nhân chính hiệu và cười cười nói: “Biết đâu ông Phó cũng có lúc sẽ cần đến nó” !

Công việc hàng ngày đã giúp tôi quên đi những lo âu, bất trắc, hiểm nguy có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.  Những lúc đi các xã, ấp với những viên chức địa phương tôi tìm lại được sự bình yên tâm hồn qua những vườn dừa bạt ngàn mát mắt với những ngọn gió nhè nhẹ mơn trớn da thịt, dòng Lại Giang lững lờ trôi thật hiền hòa với những bánh xe bằng tre quay đều nhờ dòng nước chẩy để mang nước dưới sông tưới vào ruộng đồng chung quanh càng làm tăng thêm vẻ thanh bình, dù là mong manh, của quận lỵ.  Cuộc sống ban ngày tại miền thôn dã sao yên bình, êm ả lẫn thơ mộng đến thế !

Thỉnh thoảng tôi ghé vào một quán bán đủ thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày lớn nhất của xã quận lỵ uống nước dừa khi thì cùng viên chức xã ấp, lúc thì cùng các sĩ quan trẻ của Chi Khu, cũng là dịp để biết thêm sinh hoạt mua bán của người dân.  Ghé riết rồi đâm ra ghiền nước dừa tươi mát ruợi, ngọt lịm với cô chủ quán trẻ trung, xinh sắn, lễ phép, nhỏ nhẹ.  Cô thật dễ nhìn và đáng mến với nước da trắng bóc thường thấy của các cô gái xứ dừa cộng thêm với nhan sắc trên trung bình cùng nét e ấp, thẹn thùng thật duyên dáng khi có người chọc ghẹo hoặc thả lời bóng gió tán tỉnh, nhất là khi cô lại hiện diện tại một nơi gần như là cùng trời cuối đất này.  Hình như Tạo Hóa đã ban cho mọi người tính đam mê, ưa chuộng  nét hay, vẻ đẹp, từ cái đẹp tráng lệ hoặc hùng vĩ của thiên nhiên hay những đóa hoa đủ loại rực rỡ khoe mầu, hoặc những áng văn thơ trữ tình đến nét đẹp thanh thoát của người con gái.  Chính lòng mến chuộng này đã dệt thành những vần thơ, những áng văn, những bản nhạc, những bức tranh tuyệt diệu sưởi ấm lòng người, làm cho cuộc sống đáng yêu và có ý nghĩa hơn.  Tôi cũng không thoát khỏi điều đó nên nhiều lúc cũng cảm thấy xao xuyến trước hình bóng cô mặc dầu đã có gia đình ở Sàigòn.

Các sĩ quan trẻ của Chi Khu Hoài Ân có vẻ đều trồng cây si tại quán này nhưng dường như cô chưa để ý đến một ai cả vẫn tiếp đón mọi khách hàng thật vô tư và hồn nhiên.  Bỗng một hôm nhân lúc tôi tới chỗ cô đứng để trả tiền mấy trái dừa tươi đã uống cô đã thấp giọng bảo tôi: “Cuối tuần này ông Phó không nên về Quy Nhơn bằng xe quận” rồi tiếp tục công việc đang làm của một người coi quán nước.

Trên đường về lại văn phòng Quận tôi cứ suy nghĩ mãi về câu nói ngắn gọn gần như ra lệnh này.  Làm sao cô biết được tôi thỉnh thoảng về Quy Nhơn vào dịp cuối tuần bằng công xa của Quận vì cô thường bận bịu túi bụi với công việc coi quán cơ mà?  Có chuyện gì sẽ xẩy ra vào cuối tuần sắp đến, chuyện không hay, tai nạn dọc đường hay VC phục kích bắn sẻ?  Chuyện VC bắn sẻ thì thường xẩy ra trên con đường đất quanh co dài gần mười cây số chạy từ Quận ra Quốc Lộ 1, mà nếu có việc này xẩy ra thì tại sao cô lại biết ?  Quan trọng nhất là nguyên nhân đã khiến cô cho tôi biết ?  Gần như suốt đêm đó tôi mất ngủ để cố tìm ra đáp số cho những câu hỏi đó thường lởn vởn trong đầu.  Cả ngày kế tiếp tôi vẫn không tìm ra câu trả lời.  “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” chợt hiện rõ nét nơi tôi.  Tôi bỗng ngẩn người tự hỏi: “Không lẽ câu chuyện tôi mê mẩn ngày trước lại xẩy đến với tôi”?

Không muốn đặt cả sinh mạng mình vào một canh bạc tuy mơ hồ nhưng cũng có thể xẩy ra, tuần đó tôi không về Quy Nhơn và cũng thay đổi hẳn thói quen trước đây thường hay thăm xã ấp vào các ngày giờ nhất định trong tuần.  Khi cần về tỉnh lỵ vì công vụ tôi thỉnh thoảng dùng xe Honda ôm khi vào buổi sáng, lúc thì buổi trưa và quan trọng nhất là lơi hẳn việc đến quán quen thuộc để uống nước dừa.

Sau đó ít lâu trong một buổi tiếp dân để nghe những thắc mắc, khiếu nại thường được tổ chức hàng tháng tại ngay văn phòng quận, cô chủ quán vào gặp tôi với lý do ghi trong phiếu tiếp kiến dân “thắc mắc về việc nộp thuế của quán”.  Trong buổi tiếp chuyện cô chỉ nói lanh quanh và đề cập rất sơ sài về việc chính quyền xã sở tại thu thuế quán của cô.  Tôi chợt lạnh hẳn người khi cô hạ giọng nói nhỏ đủ cho tôi nghe trước khi cô từ giã: “Tuần tới ông Phó không nên dùng xe Quận để chở tài liệu bầu cử về”

Vào thời điểm đó cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống VNCH sắp tiến hành.  Các Phó Quận Trưởng phải về tỉnh lỵ dự buổi thuyết trình về việc bầu cử cùng cách thức tổ chức các phòng phiếu trong quận trách nhiệm đồng thời chở những tài liệu liên quan đến cuộc bầu cử về quận của mình để về phổ biến lại cho các xã ấp.  Người tài xế cùng một thư ký trong quận đã được tôi thông báo về chuyến đi Quy Nhơn dự họp này để họ chuẩn bị.  Chi tiết chuyến đi trên đã lọt đến tai cô chủ quán.  Qua sự việc này, tôi thấy không còn nghi ngờ gì nữa: cô đúng là giao liên VC mà tôi đã thoáng nghĩ ra từ lần trước, nhưng tôi muốn tìm hiểu ai đã thông báo cho cô biết cùng lý do cô đã nói cho tôi nghe, không lẽ cô lại giống như cô gái trong “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI”? Tôi nhớ rõ là từ trước đến giờ tôi chưa làm một điều gì không thích hợp với vai trò của một Phó Quận Trưởng, không hề có ý tưởng bông lơn, lơi lả, đùa cợt hay định tán tỉnh cô gái này hoặc với bất cứ một phụ nữ nào trong quận cả.  Ngôn ngữ cùng cử chỉ của tôi rất chừng mực và đứng đắn, chỉ thỉnh thoảng một thoáng rung động thầm kín của một con người bình thường trước vẻ đẹp diễm tuyệt của Tạo Hóa mà thôi.  Còn cô tại sao cô lại có cảm tình với tôi, có lẽ cô, qua một nhân viên nào đó trong quận, đã biết tôi có gia đình rồi cơ mà.  Nhưng rồi tôi chợt nghĩ có lẽ nhịp đập con tim không cần nguyên do hay lý lẽ ???

Buổi sáng dự định về tỉnh họp đó, tôi đã nhờ một cảnh sát quận mặc thường phục chạy Honda chở tôi về Quy Nhơn và căn dặn viên tài xế lái xe quận theo sau tôi khoảng năm phút.  Về đến tỉnh tôi bàng hoàng hay tin chiếc xe quận trên đường về tỉnh đã bị mìn phá nổ tan tành, tài xế và thư ký trên xe đều hy sinh vì công vụ.

Tôi thẫn thờ trong suốt buổi họp.  Tôi đã thoát chết và người cứu tôi chính là cô gái xinh đẹp chủ quán nước dừa.  Nhưng tại sao cô lại cứu tôi?  Tại sao?  Hay là….,tôi vội lắc đầu, như vậy thì thế nào cô gái này cũng bị xử phạt thật nặng nề vì đã để xổng con mồi là viên Phó Quận trưởng sở tại.  Lòng tôi chợt chùng xuống với nhiều ý nghĩ ngổn ngang và thầm cầu mong sẽ sớm nhận được một lá thư tương tự như thư mà người Quận Trưởng trong “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” đã nhận.  Vì mãi suy nghĩ về những điều hệ trọng mới xẩy ra tại quận Hoài Ân nên hầu như tôi chẳng lãnh hội được một điều gì trong buổi họp đó cả.  Sau đó tôi đã phải thức trắng đêm để đọc những tài liệu hướng dẫn dầy cộm cùng hỏi thăm các chi tiết chưa hiểu rõ nơi những Phó Quận Trưởng khác để có thể hoàn tất cuộc bầu cử như đã ấn định.

Khoảng độ hơn một tuần lễ sau đó thì quán của cô đột nhiên đóng cửa, không ai rõ lý do cũng như không biết cô dọn đi đâu.  Đáng lẽ ngay từ đầu tôi nên nói toàn câu chuyện này cho người Quận trưởng kiêm Chi Khu Trưởng hay mọi việc để ông có thể, qua Ban Hai, biết thêm nhiều chi tiết cùng thảo luận với nhau cách đối phó, nhưng tôi đã không làm như vậy có lẽ vì ngựa non háu đá muốn thử chính sức mình hoặc cũng vì ảnh hưởng tình tiết của “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” nên khi cô chủ quán biến mất giờ đây tôi không thể hỏi vị Quận Trưởng này để biết thêm được một điều gì cả.  Tôi đành ngậm hột thị để tự vấn lòng.  Như vậy “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI” chỉ ứng nghiệm có một nửa vào trường hợp của tôi mà thôi, không có thư xin giải cứu cũng như không có cuộc hành quân gây nên thảm cảnh chia lìa chết chóc, xót xa ở đoạn chót như trong truyện.  Tôi luôn cầu nguyện cho cô luôn được an bình trong mọi tình cảnh khắc nghiệt nhất vì dù sao cô ấy cũng là ân nhân đã cứu sống tôi.  Trong chiến trận Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, quận Hoài Ân bị tàn phá nặng nề, nhiều quân nhân thuộc Trung Đoàn 41 Sư Đoàn 22 Bộ Binh đã tử trận trong cuộc hành quân giải tỏa quận.  Dù không còn làm việc tại Hoài Ân vào lúc đó nữa nhưng tôi vẫn cố liên lạc với người quen để tìm tin tức của cô chủ quán năm nào, nhưng chỉ hoài công, không một chút tin gì về cô cả.  Tôi tin là VC đã thủ tiêu cô ta để trừng phạt cũng như ngăn ngừa truờng hợp bội phản khác có thể tái diễn trong mai hậu.

Tất cả mọi việc hầu như lần lần khuất hẳn dưới lớp bụi mờ của thời gian, nhất là sau cuộc đổi đời bi thảm của Miền Nam vào năm 1975. Tôi đã gần như quên hẳn câu chuyện cô chủ quán này vì cứ nghĩ rằng cô đã vĩnh viễn không còn hiện diện trên cõi nhân gian nữa cho đến một ngày tôi đã gặp lại cô ngay tại miền đất Hoa Kỳ tạm dung này nhưng không phải dưới vóc dáng của một thôn nữ có vẻ e ấp, thẹn thùng, mộc mạc xa xưa mà là với vẻ thật đài các, kiêu sa của bậc mệnh phụ quyền quý, sang cả.  Những cảm xúc cùng tình tiết của cuộc trùng phùng thật bất ngờ đó đã tạo nên ngẫu hứng để tôi dệt nên truyện ngắn đầu tay: “Quận Đầu Đời” cách đây đã khá lâu.  Có lẽ kết thúc của một mảnh nhỏ cuộc đời này đẹp và ý nghĩa hơn đoạn kết trong “VIÊN ĐẠN ĐỒNG CHỮ NỔI”.  Tôi chủ quan nghĩ vậy.

Mỗi một cựu sinh viên Học Viện Quốc Gia Hành Chánh chúng ta khi bước chân vào ngưỡng cửa ngôi trường thân yêu này đều có một lý do riêng biệt, có thể là lý tưởng, hoài bão, cơ duyên….. Nhưng dù với một lý do nào đi chăng nữa chúng ta đều hãnh diện có một mẫu số chung đó là đã xuất thân từ ngôi trường danh tiếng, lẫy lừng xưa kia của một Miền Nam yêu dấu ngày nào với niềm tự hào vô bờ bến. Do vậy tôi cầu mong cũng như hy vọng và tin tưởng dạt dào niềm tự hào đó luôn luôn trường tồn với thời gian.

New York, Tháng 11 Năm 2008
Nguyễn Ngọc Cường,  ĐS 14

Views: 981

Trận Tuyết Mùa Xuân Bất Ngờ

Truyện Nhật Bản của SAE SHUICHI
 SƠN TÙNG dịch từ bản Anh ngữ của Miyamoto Noriko

snow_0

– 1 –

Trong suốt hai mươi năm Osugi làm chủ một trà thất, chưa bao giờ xảy ra một việc như vậy trước đây.

Hoàng hôn đang xuống. Những cơn gió lạnh mùa đông không ngừng thổi, bứt đi và tung rải ra những chiếc lá vàng cháy cuối cùng của cây zelkova ở bên hông trà thất. Người đàn bà đến từ hướng Futatsuya trên xa lộ Tôkaiđô, trông giống như đang bị cơn gió săn đuổi. Bà ta ngồi sụp xuống chiếc ghế dài dưới mái hiên trà thất.

– Chào bà. Mừng bà chiếu cố trà thất của chúng tôi.

Osugi đang nghĩ đến việc đóng cửa, nhưng bây giờ nàng sẵn sàng rời chỗ ngồi bên lò sưởi và hối hả bước ra cửa.

Vào khoảng thời gian này hàng năm, dòng người hành hương đến Enoshima và Ôyama đột ngột ngưng lại, và khung cảnh trở nên yên tĩnh cho đến cuối năm. Vào mùa bận rộn, những người có sức khỏe đều rời Edo vào sáng sớm, đến các quán trọ ởFujisawa trên xa lộ Tôkaiđô trước khi trời tối và nghỉ đêm ở đó. Sáng hôm sau, họ đi lễ tại đền thờ thần tài – Banzai-ten – trên Enoshima, và đi ngang Fujisawa lần nữa trước khi trực chỉ Ôyama.

Tương đối ít người chọn phía lề đường đi ngang Tsujiđô, nơi trà thất tọa lạc. Dầu sao thì trà thất chỉ cách Enoshima có nửa dặm, vì vậy những người đi từ Enoshima để hành lễ tại Ôyama có thói quen đi gấp mà không dừng lại. Những người dừng chân nghỉ là những người già yếu đến từ hướng khác, từ Ôyama đến Enoshima, họ hưởng vội đôi phút nghỉ ngơi trước khi rảo bước trên bờ Vịnh Sagami để sang Enoshima ở phía bên kia.

Cái quán trà nhỏ không có nhiều khách hàng, nhưng Osuji đã cai quản nó từ khi mười chín tuổi và kết hôn với Kumazô, một người vác kiệu tại những quán trọ ở Fujisawa. Trước kia còn có bà mẹ chồng phụ giúp, bây giờ chỉ còn một mình.

– Hôm nay gió quá. Trời lạnh thật bất ngờ. Hẳn là bà phải mệt lắm.

Nói với giọng ấm áp, Osugi bước tới gần người khách hàng và nhận ra người đàn bà gập mình khó chịu, bám lấy một cây gậy tre với hai vai nhô lên. Người đàn bà ăn vận theo cách đi đường xa: một chiếc khăn tay được cột quanh đầu để chống gió, một chiếc giỏ tre bọc trong một miếng vải buộc ở lưng, cuốn xà-cạp, và bọc kín cổ tay và cánh tay. Nhưng trông bà không có vẻ là một người đi hành hương đền thờ ở Enoshima. Osugi liếc nhìn khuôn mặt và thân hình gầy còm của người đàn bà, và nghĩ rằng bà ta trẻ hơn mình, có lẽ là một thiếu phụ ở giữa lứa tuổi ba mươi. Bà ta có vẻ hoàn toàn suy kiệt.

– Tôi sẽ bưng trà nóng mời bà ngay. Bà sẽ bị lạnh ở ngoài ấy, xin mời bà vào bên trong.

Osugi nói qua vai người đàn bà trong khi quay vào trong để rót nước trà đậm và bưng nhanh ra ngoài cho người khách lạ.

Người thiếu phụ vẫn ngồi trên chiếc ghế dưới mái hiên trà thất, ngửa mặt nhìn Osugi để cảm ơn. Mái tóc rối ướt đẫm mồ hôi, và xõa xuống mặt với hai xương gò má nhô lên. Mặt bà đỏ bừng và vẫn còn thở một cách khó khăn. Osugi đặt tách trà bên trong quán và bước ra để nắm tay thiếu phụ và giúp bà đứng dậy.

Osugi kêu lên trong nỗi ngạc nhiên.

– Trời, bà sốt thế này!

Dưới bàn tay của Osugi, vai người thiếu phụ nóng bỏng và xương bả vai sắc nhọn dưới lớp áo kimono bằng vải phủ bụi đường.

Người thiếu phụ chống chế, nói rằng sẽ lại sức sau một lúc nghỉ ngơi, và tỏ ra không muốn làm phiền Osugi. Nhưng, Osugi trải một chiếc nệm trong căn phòng nhỏ bên cạnh phòng chứa đồ, giúp thiếuphụ cởi đôi dép rơm và đặt bà nằm lên giường. Nàng làm mát trán người thiếu phụ với một chiếc khăn ướt.

– Tên tôi là Okiku. Tôi đến từ Gotemba và đang trên đường tới thủ đô. Tôi rất tiếc đã làm phiền bà như thế này.

– Không có gì phiền cả, bạn thân mến. Sao bà không nghỉ lại đây đêm nay?

– Nhưng tôi không thể…

– Hãy ngủ yên một đêm, và cơn sốt của bà sẽ hạ xuống. Sáng mai bà sẽ khoẻ lại. Chỉ có tôi và chồng tôi ở đây, vì vậy bà không cần phải bận tâm về bất cứ điều gì.

Okiku, như bà tự gọi, cảm ơn Osugi lần nữa. Đôi mắt bà không chỉ đẫm lệ, mà còn sưng lên vì cơn sốt. Bà có vẻ thư dãn và nhắm đôi mắt lại. Bà không đẹp, nhưng có khuôn mặt tươi tắn phúc hậu, giờ đây trở nên xanh xao đáng thương với hai quầng đen bên dưới cặp mắt. Okuki không có vẻ là bị đau ốm bất ngờ, và đã quyết định đi Edo mặc dù sức khỏe yếu kém.

Đàn bà không đi xa một mình, và Osugi thắc mắc về lý do cuộc hành trình của Okiku.

Osugi đóng những tấm cửa gỗ của trà thất, rồi bắt đầu sửa soạn bữa ăn tối cho chồng và một ít cháo cho Okiku. Khi trời tối, gió thổi mạnh hơn bao giờ. Căn phòng của Okiku yên lặng giữa tiếng lay chuyển của cây zelkova to lớn và tiếng rung đập từng hồi của những tấm cửa gỗ. Osugi nhìn đăm đăm vào những ngọn lửa đỏ trong lò sưởi, băn khoăn về người đàn bà đau yếu. Nàng vẫn thường nhìn sâu vào những ngọn lửa, thả hồn trong suy tư, nhưng bây giờ ngọn lửa có vẻ thật qúy và bình yên đến nỗi nước mắt Osugi ứa ra vì xúc động với vận may của chính mình.

Osugi có thể đã mất ba đứa con vì bệnh tật khi chúng còn nhỏ, nhưng nay con trai đầu lòng của nàng đã mười chín tuổi và làm việc tại một lữ quán ở Enoshima, đứa con gái mười lăm tuổi đang học việc tại một tiệm làm bánh đậu ở Fujisawa. Nàng thực sự không có gì để phải lo âu. Cho đến hai năm trước trước đây, Osugi vẫn còn săn sóc bà mẹ chồng khi bà phải nằm một chỗ vì bại liệt. Mẹ già Ofuku được đưa đến cho Osugi, và vui lòng có một nàng dâu để được chăm sóc. Bà là loại người không làm hại bất cứ cái gì, ngay cả khi bắt được một con rận bà cũng chỉ thích thả nó vào một thùng nước. Ngay trước khi chết, bà chắp hai tay co quắp trước ngực như thể đang cầu nguyện, và cảm ơn Osugi. Mùa xuân này là giỗ thứ hai của bà. Chồng của Osugi, Kumazô, lớn hơn nàng bảy tuổi. Anh thích uống rượu, và vẫn còn hay đấm nhau với những người vác kiệu khác. Nhưng, anh là một người tốt có cá tính mạnh, và chăm lo cho Osugi. Họ nghèo, nhưng cái quán bán nước trà đủ bảo đảm cuộc sống cho họ.

Mùa xuân tới đây, Osugi sẽ được bốn mươi tuổi. Nàng chưa bao giờ đi cúng chùa ở Ôyama, chưa tới Edo, nhưng thỉnh thoảng nàng cố thu xếp để đi viếng ngôi đền ở Enoshima. Như vậy là đủ cho Osugi, và nàng không bao giờ cảm thấy thôi thúc phải đi xa.

– Phải chăng tôi là một người đàn bà không ham muốn? – Nàng thắc mắc, tự hỏi.

Nàng mỉm cười với hình ảnh hài hước của mình trong khi nhìn đăm đăm vào những ngọn lửa bập bùng.

Khi cháo chín, Osugi bưng vào cho Okiku. Nhưng, Okiku không muốn ăn, và chỉ cố đưa đôi đũa lên môi một hay hai lần. Cơn sốt của bà còn cao. Osugi ăn tối một mình. Mãi khuya Kumazô mới trở về nhà trong cơn say rượu.

Nghe Osugi báo tin về người khách lạ, Kumazô liếc vào căn phòng nhỏ qua chỗ rách trên tấm cửa giấy. Mặt đỏ gay vì rượu, anh tặc lưỡi.

– Bà định làm gì đây, vác lấy một phế nhân à?

– Hạ cái giọng ông xuống!

Osugi kéo tay áo chồng và rít giọng.

– Tôi định hỏi, tôi có thể làm gì nữa?

– Ờ, tôi nghĩ là tốt hơn bà nên làm cái gì bà cảm thấy thích hợp. Còn tôi, tôi đi lên giường ngủ.

Sáng sớm hôm sau, Kumazô rời nhà đi làm như thường lệ. Cơn gió đã ngưng thổi trong đêm, và một lớp sương giá trắng đã bám trên tấm thảm lá rải rác bên ngoài. Suốt đêm qua, Osugi đã thức dậy không biết bao nhiêu lần để chăm sóc Okiku, đem thuốc bắc sắc cho bà, thay nước trong chậu, làm mát trán bà với một chiếc khăn ướt. Nhưng, cho đến sáng cơn sốt không hạ giảm, và Okiku nằm liệt trên giường, suy kiệt. Xế trưa, Osugi mời một bác sĩ tới khám cho Okiku, nhưng ông ta chỉ lắc đầu. Trước khi ra về, ông ta bảo Osugi báo tin cho các viên chức trong tỉnh, hoặc tỉnh nhà của người bệnh. Quán trà có nhiều khách nên phải tới xế chiều Osugi mới lại quỳ một lần nữa bên chiếc gối của Okiku.

Okiku nhướng đôi mắt nửa nhắm nửa mở, với một tay tới cái giỏ tre nhỏ bọc vải bên cạnh chiếc gối và cố ngồi thẳng dậy trong khi thì thào những lời nói sảng:

– Tôi phải đi gặp Isuke.

– Không thể được đâu, bạn ạ, với tình trạng như thế này của bà.

– Osugi cúi mặt bên tai Okiku để hỏi – Isuke là một chàng trai ở Edo ư?

Okiku mở hai mắt và níu hai tay Osugi:

– Tôi biết tôi đang đau, nhưng tôi vẫn đi được! Tôi phải gặp Isuke khi tôi còn sống.

Okiku mỉm cười yếu ớt.

Bà khởi đầu kể về câu chuyện của mình, với giọng khỏe như đang vắt hết những giọt sức lực cuối cùng trong người. Và đây, nói một cách nôm na, những gì Okiku đã kể.

Tại Gotemba, một tỉnh nổi tiếng về nghề thủ công làm giỏ đan bằng tre, Okiku đã gắn bó sâu xa với Isuke, một thợ thủ công làm đồ bằng tre, khi anh ta hai mươi mốt tuổi và Okiku mười bảy. Họ thề thốt với nhau rằng một ngày kia họ sẽ trở thành vợ chồng, nhưng khi Okiku mười chín tuổi Isuke bỏ đi Edo, hứa hẹn sẽ lập gia đình với nàng một khi anh ta đạt tới đẳng cấp bậc thầy thủ công nghệ chuyên ngành về những giỏ tre hay những hộp sơn mài. Sau đó, họ viết thư cho nhau trong ba năm, nhưng rồi suốt mười lăm năm nàng không được tin gì về chàng. Dù vậy, Okiku vẫn tiếp tục chờ đợi.

Thế rồi, mới mười ngày trước đây, Okiku nghe tin đồn rằng Isuke vẫn còn ở Edo, làm việc trong một cửa hàng bán những hộp sơn mài tên là Yashuya tại Kyôbashi Yazaemonchô. Okiku quyết định làm một cuộc hành trình đơn độc dù đang đau yếu, và gạt sang một bên tất cả sự chống đối của những người chung quanh.

Một lần nữa Okiku xê dịch bàn tay gầy guộc về phía chiếc hộp bên cạnh gối. Osugi giúp gỡ bỏ lớp vải bọc bên ngoài.

– Chiếc giỏ tre nhỏ này – Okiku nói, mấy ngón tay vuốt ve cái giỏ – là của Isuke để lại cho tôi khi anh đi Edo. Anh tự làm nó đấy.

Khi nói như vậy, người đàn bà ở giữa lứa tuổi ba mươi mỉm cười như một cô gái nhỏ.

– Tôi là một con già khờ dại. Nhưng không sao. Bà quá tử tế với tôi, và nếu tôi phải chết trên đường đi, ít nhất tôi cũng có chiếc giỏ của anh ấy bên mình.

– Okiku, đừng nói dại.

– Tôi rất tiếc đã gây quá nhiều phiền nhiễu cho bà…

Okiku nhắm mắt lại, và một khoảnh khắc sau thở hơi cuối cùng. Bàn tay đặt trên chiếc giỏ tre buông lỏng xuống sàn, và bà nằm bất động.

Những tia nắng sớm của mặt trời vào đầu mùa đông chiếu sáng những tấm cửa lùa bằng giấy, nhuộm chúng thành màu đỏ như máu, và chói lọi trên gương mặt chết tái nhợt của người đàn bà.

– 2 –

Trong chiếc giỏ tre nhỏ có chiếc kimono may bằng tay cho đàn ông còn mới nguyên và bằng vải có nền sọc theo kiểu Komochijima. Trong chiếc giỏ cũng có vài món đồ trang sức và những đồ dùng cho chuyến đi xa của Okiku. Có lẽ Okiku đã may vội chiếc kimono cho Isuke mặc dù đang đau. Những đường kim mũi chỉ của chiếc kimono là những tình cảm của người đàn bà trong mười tám năm chờ đợi.

Người đàn bà quá vãng mang theo mình tờ giấy phép đi đường của một ngôi đền tại Gotemba nên Osugi quyết định giao trả mọi thứ cho vị trưởng giáo tại Honryuji, một ngôi đền kế cận. Khi một lữ khách chết trên đường đi, ngôi đền địa phương sẽ nhận lãnh thi thể, làm lễ cầu siêu, và báo tin cho giáo khu nơi cư trú của người chết. Osugi cũng yêu cầu gửi trả những vật tùy thân của Okiku, nhưng quyết định giữ lại chiếc giỏ tre và cái áo kimono của người đàn ông. Nàng cảm thấy muốn tự tay trao những di vật này cho Isuke, kẻ đang làm công tại một tiệm bán hộp sơn mài ở Edo, dựa theo tin tức đã được cung cấp.

Chiếc giỏ tre được nói là do Isuke làm là một món đồ đan bằng tre tầm thường. Nó không có vẻ gì là một tác phẩm xuất sắc, dù là dưới mắt Osugi. Nhưng, hình như Okiku đã dùng chiếc giỏ này rất cẩn thận trong nhiều năm, vì những góc cạnh vẫn còn nguyên không bị hư hại, và mặt tre lên nước do chất béo từ những ngón tay làm cho nó thành màu vàng hổ phách bóng láng như tình yêu của Okiku. Ít nhất một lần mỗi ngày, Isugi sờ vào chiếc giỏ tre một cách nhẹ nhàng, vuốt ve nó như chính nàng là Okiku đã mơn trớn nó mỗi ngày khi còn sống.

– Hồn vía bà hồi này có vẻ như ở đâu đâu. Quên người đàn bà ấy đi cho rồi. Bà đã đối xử tốt với bà ta. Không ai như bà, bận tâm đến một chuyện không đâu quá lâu như thế.

Kumazô nói như vậy. Nhưng vào lúc đêm khuya, trước khi Kumazô trở về nhà vào những lần công việc vác kiệu bắt phải đi xa, Osugi tự nhận ra mình đang lắng nghe ngọn gió bắc, tay vuốt ve cái giỏ tre và thì thầm trong lòng. “Chưa bao giờ trong suốt cuộc đời ta chỉ nghĩ đến một người đàn ông quá lâu như Okiku đã làm.”

Hình như Osugi có một mối ưu phiền lớn không nguôi – không phải vì nàng thiếu hạnh phúc với Kumazô về bất cứ phương diện nào.

“Tôi băn khoăn không hiểu Isuke là loại người như thế nào…Nhưng, đây là điều kỳ lạ đặc biệt. Tôi, sắp sửa bốn mươi tuổi, và đang có những ý nghĩ như vậy!” Osugi tự nhủ.

Những ngày mùa đông qua đi. Quán trà bận rộn vào cuối năm và đầu năm mới, với những lữ khách trên đường lui tới các ngôi đền ở Enoshima hay Ôyama. Công việc chỉ ổn định lại sau tuần lễ đầu tiên của năm mới.

Năm mới này cũng là sinh nhật thứ bốn mươi của Osugi, và nàng nói với Kumazô rằng nàng muốn đi Edo. Nàng bảo muốn ngắm cảnh thành phố và thăm đền Asakusa ít nhất một lần trong đời, và trong khi đó muốn giao trả cái giỏ tre và chiếc kimono. Kumazô đáp rằng nếu việc ấy đem lại sự bình ổn cho tâm trí nàng thì có thể đi một mình. Đây không phải là một cuộc hành trình thơ mộng. Nếu đi nhanh, nàng có thể tới đó và trở về trong đôi ngày, nghỉ đêm tại Edo.

Osugi ra khỏi nhà trước bình minh, với Kumazô tiễn chân vợ lên đường. Ăn vận thích hợp, Osugi đi dọc theo xa lộ Tôkaidô trong ánh nắng dịu dàng đầu xuân, băng qua những tỉnh lẻ Totsuka, Hodogaya và Kanagawa, và nhận ra đang vui hưởng chuyến du hành một mình đầu tiên chưa bao giờ trải qua trong đời. Nàng đã để chiếc kimono sọc do Okiku may vào trong cái giỏ tre do Ikuse đan, bọc bên ngoài bằng một tấm vải vuông và buộc vào lưng giống như Okiku đã làm. Điều đó khiến Osugi khích động, giống như chính nàng thay vì Okiku đang đi tới gặp một người đàn ông. Nhưng Isuke là một con người không tim đã bỏ rơi Okiku trong mười lăm năm dài. Có thể anh ta đã kết hôn với người đàn bà nào khác, và đang nuôi dưỡng một gia đình.

“Ta có nên nhân danh Okiku, nói cho anh ta biết cảm nghĩ của một phụ nữ bị bỏ rơi và thêm vài ý nghĩ của chính mình…”, Osugi tự hỏi.

Osugi ăn trưa với đồ hộp ở Kawasaki, và bầu trời trở nên u ám từ khi nàng đi trên cầu Rôkugô. Vào lúc nàng đi ngang Shinagawa, một trận tuyết nhẹ bắt đầu rơi. Phản ảnh sự thay đổi của thời tiết, tâm trí Osugi mang đầy nỗi oán hận Isuke. Nàng tiếp tục bứơc đi vào ngay khu vực thị tứ của Edo, không cả cảm thấy mệt mỏi, và bây giờ đang vui thích với chuyến đi một mình của nàng.

Trời đầy gió bụi, và tuyết bắt đầu rơi xuống thật sự khi Osugi tới Yashuya ở Yazaemonchô. Yashuya là một cửa hàng lớn, với nhiều rương hộp sơn mài, cả lớn lẫn nhỏ, được trưng bày bên trong. Có những hộp bằng tre lớn và dài, những hộp đan có ngăn kéo. Có rương và một cặp hộp bằng tre để buộc một đầu và khoác trên vai.

Có những hộp tre để vác. Có những chiếc hộp để ở góc nhà, loại hộp lớn để đựng quần áo, thùng đựng sách, và nhiều loại nữa.

Được một người học việc ra tiếp, Osugi cho biết lý do cuộc thăm viếng, một người đàn ông lớn tuổi trong đám thợ đan giỏ trong căn phòng lớn có sàn gỗ nhìn lên và nói:

– Nếu bà đi tìm Isuke, anh ta không có ở đây lúc này.

– Ơ…

– Anh ta là một thợ thủ công giang hồ. Hắn ở tiệm này một dạo vào mùa thu, nhưng không bao giờ tính chuyện ổn định. Thằng cha ấy là một tay thợ vụng, nhưng điều kỳ cục là dường như hắn lại có đầu óc của một bậc thầy.

– Vậy anh ấy không làm ở đây nữa à?

– Thỉnh thoảng hắn tới đây với những rương hộp do hắn làm.

– Bây giờ anh ấy ở đâu?

– Có thể ở dãy nhà trong con đường hẻm ở Shamisen Bori.

Chắc vì tội nghiệp Osugi đã tới cửa hàng trong cơn tuyết đổ, người thợ thủ công già bước ra cửa tiệm và chỉ dẫn đường đi tới Shamisen Bori.

Sau tám giờ tối Osugi mới tìm ra chỗ ở của Isuke trong con đường hẻm, chân nàng lội ngập trong tuyết giờ đã dày tới mười phân tây. Nàng có ý tới gặp Isuke và định sẽ đi tìm chỗ nghỉ đêm sau cuộc gặp mặt.

Nơi Isuke ở là một chỗ trọ hai phòng trong một dãy nhà hư hỏng, với ánh sáng chiếu qua những cánh cửa lùa ở lối vào.

– Xin lỗi, – Osugi gọi to, hạ chiếc nón tre phủ tuyết trên đầu.

Nàng khó nhận ra giọng nói của mình, nó như thật căng và sắc. Nàng bất chợt tự thấy hối tiếc đã đến đây đường đột như thế này. Và, đồng thời cũng cảm thấy sự hiện diện của nàng ở đây có thể an ủi linh hồn Okiku, và có thể giúp nàng xếp lại ký ức về người đàn bà ấy.

– Ai đấy? Ai thì cũng xin mời vào. – Một người đàn ông trả lời sau một thoáng yên lặng.

Osugi phủi tuyết bám trên chiếc kimono và bước vào cửa tiền bẩn thỉu chật hẹp, cúi gập mình và nói:

– Tôi từ Tsujimo đến, và tên là Osugi. Hẳn ông là Isuke.

– Ờ, vâng, chính tôi…

Isuke ngồi trên một chiếc chiếu rơm trải trên sàn gỗ. Hình như anh ta đang uống rượu, và một chai sakê rẻ tiền đang nằm trong tay khi anh nhìn Osugi một cách nghi ngại. Anh ta gầy như một cái gắp than, và hình như vào khoảng bốn mươi tuổi.

“Vậy ra đây là Isuke…Anh ta đang rung động!” – Osugi tự nhủ.

Anh ta có vẻ không giống một người đàn ông chải chuốt, hay vô tình, hoặc là cái gì khác như Osugi đã tưởng tượng. Tim nàng đập mạnh và nàng sợ Isuke, những cảm giác khiến nàng ngạc nhiên về chính mình. Qua tấm màn rách treo bên giường, nàng có thể nhìn thấy chiếc giường ngủ đã được xếp lại và một cái hộp đan dở dang bên cạnh ngọn đèn dầu. Có rất nhiều miếng tre róc và gỗ mỏng bỏ rải rác khắp phòng khiến Osugi khó mà tìm được một chỗ để đặt chân, và cũng nhận ra mùi sơn mài. Nàng cảm thấy nhẹ nhõm vì không thấy dấu vết của sự hiện diện của một phụ nữ.

“Anh ta ở một mình trong căn nhà này và làm giỏ tre.” – Osugi tự nhủ thầm.

– Bà muốn gì đây, người đàn bà xa lạ này? – Isuke hỏi với nụ cười méo mó, trong lúc Osugi nhìn quanh mà chưa nói ngay nàng đến đây làm gì.

– Ồ, xin lỗi.

Osugi cũng mỉm cười để che giấu sự bối rối. Họ cười và nhìn vào mắt nhau.

“Anh ta có đôi mắt thật đẹp!” Osugi kêu thầm.

Trước đây, chưa bao giờ nàng thấy cặp mắt đẹp như vậy nơi một người đàn ông. Thân hình xương xảu của anh ta có vẻ suy yếu, nhưng nụ cười hóm hỉnh giống như của một thằng con trai vừa bắt được một con côn trùng và không biết có nên thả ra hay không.

Osugi thu góp sức lực và bắt đầu nói về Okiku. Isuke trông xúc động, và nói:

– Mời bà bước vào trong phòng. Xin lỗi vì tôi không đốt lửa sưởi.

Anh ta bước tới cái lò trong bếp, và đứng đó như sẵn sàng châm lửa. Osugi ngăn cản anh ta bằng cách nói nàng sẽ đi ngay, rồi đi vào câu chuyện của nàng trong lúc ngồi xuống bực cửa giữa lối vào và căn phòng. Isuke ngồi xuống sàn lần nữa với hai tay đặt trên đầu gối, lắng nghe trong yên lặng. Nhưng, khi Osugi đẩy tới trước cái giỏ tre đựng chiếc kimono bằng vải, Isuke liếc nhìn rồi quay đi chỗ khác và nói:

– Tôi hiểu rồi. Okiku là…

Anh nhắm mắt yên lặng một lúc rồi nói:

– Cảm ơn bà đã tới đây trong cơn tuyết đổ chỉ để đưa cho tôi vật này. Nhưng, bà phải tự nhìn nhận…là con người hơi đa sự một chút, phải không?

Anh ta phun ra phần cuối cùng của những lời thì thầm, hầu như đang nói với chính mình. Osugi cảm thấy bị xúc phạm. Vậy là cuối cùng anh ta đã để lộ nguyên hình. Máu dâng lên trong huyết quản, nàng cố dằn nén để đừng buông ra những lời buộc tội người đàn ông không trung thành. Nhưng, trong khi nhìn anh ta với sự phản đối trong mắt, nàng nhận ra người đàn ông này đã nói đúng: điều nàng đã làm quả là táo bạo, là hành động của một phụ nữ trung niên đã đi quá xa.

– Vâng, tôi cho rằng đã đến lúc phải đi…

Osugi nói với giọng dằn nén và nghe một cảm giác trống rỗng không diễn tả được. Và cũng khó mà chịu được cái nhìn thương hại của người đàn ông với một bên vai nhô cao và cái đầu treo lơ lửng một cách buồn thảm.

Nàng quay lưng lại người đàn ông và mở cánh cửa lùa. Trong bóng tối của con đường hẻm, những bông tuyết đang rơi xoáy xuống mạnh hơn trước.

– Xin bà đợi một chút.

Osugi nghe giọng Isuke khản đục.

– Trong cơn tuyết nặng như vầy, bà sẽ không kiếm được bất cứ chỗ nào để nghỉ đêm đâu. Mọi quán trọ giờ này đều đã đóng cửa hết rồi.

– Nhưng, tôi phải đi.

Isuke lại nói trong lúc Osugi vẫn quay lưng về phía anh ta:

– Tên bà là Osugi, phải không? Tôi không buộc bà phải ở lại nếu bà không muốn, nhưng xin nói cho tôi thêm một chút nữa về Okiku.

– 3 –

Isuke đốt lửa sưởi cho Osugi, xếp những lát tre vào chiếc thùng sắt rỗng. Osugi không có nhiều lắm để nói về Okiku. Isuke không uống thêm rượu sakê, và gần như hoàn toàn bật động trong yên lặng.

Nhưng rồi anh ta nói:

– Tôi sẽ thức suốt đêm nay để làm cho xong cái hộp đan này, vì vậy bà khỏi bận tâm về tôi và xin cứ vào giường nghỉ.

Isuke nhanh nhẹn dọn chiếc giường duy nhất, kéo tấm màn che quanh giường, rồi đi tới ngồi nơi một góc phòng quay lưng lại Osugi.

Âm thanh từ những phần khác của dãy nhà dài thỉnh thoảng có thể nghe được, nhưng đã trở nên yên lặng từ lâu. Trận tuyết mùa xuân tiếp tục rơi một cách ồ ạt không ngừng.

Osugi quyết định nằm xuống với tất cả quần áo trên người. Nàng không ăn tối và bắt đầu cảm thấy đói nhiều đến nỗi nghĩ chắc không thể ngủ được, nhưng định bụng sẽ nằm cho đến khi trời sáng.

– Thật tội nghiệp cho Okiku, nhưng tôi đã say mê tre như bà thấy đó.

Isuke nói, như đang chuyện trò với chính mình, phá vỡ sự im lặng với cái lưng vẫn quay về Osugi. Rồi, từng chút một, anh ta bắt đầu nói về chuyện của mình.

– Không phải không có những người đàn bà khác sau Okiku. Và đúng là tôi đã bỏ rơi nàng, không có gì thay đổi được điều đó. Nhưng, tôi lang thang từ nơi này tới nơi nọ, nhìn ngắm tre, sờ mó nó, và trở nên đam mê…Và càng đam mê bao nhiêu, nó càng trở nên khó hiểu cho tôi bấy nhiêu…Một khúc tre hay gỗ có một mặt hướng về mặt trời và một mặt ở trong bóng tối, bà biết chứ. Tôi biết điều đó từ khi còn là một đứa bé để mũi thò lò. Vậy mà khi đến Edo như một thợ thủ công, tôi khám phá ra là đã không biết một điều. Osugi, khi so sánh cái mặt có ánh nắng và mặt trong bóng tối, mặt nào bà nghĩ là mềm dẻo và mạnh?

Lời nói thật bất ngờ. Osugi cảm thấy cơ thể căng lên trong bóng tối vì Isuke nói với mình và đáp:

– Vâng, bây giờ tôi không rõ.

Giọng Osugi thật trẻ như của một cô gái khiến nàng ngạc nhiên. Sau một thoáng suy nghĩ, nàng nói:

– Mặt mạnh chắc là mặt trong bóng tối hướng về gió bắc. Và mặt mềm là mặt quay ra ánh mặt trời, phải không?

Thật ra, trước đây chưa bao giờ nàng nghĩ tới cái mặt hướng bắc và mặt hướng nam của cùng một khúc tre lại có những đặc tính khác nhau.

– Tại sao bà nghĩ như vậy?

– Ơ, lạnh và sự bất lợi trong bóng tối làm cho mặt tối cứng mạnh. Và mặt tiếp nhận ánh nắng phát triển dễ dàng. Có phải vậy không?

– Bà nói đúng đấy, Osugi.

– Một nửa.

– Mặt có ánh mặt trời mạnh và cũng mềm dẻo. Mặt tối trở nên cứng và dòn. Con người cũng vậy. Sống trong bóng tốt không tốt. Nó làm cho ta thành cứng khô và méo mó. Hãy nhìn tôi đây, đang ở tuổi bốn mươi và như thế này đây.

Isuke cười thành tiếng như một cách tự chứng minh.

Osugi chân thật nói:

– Không hẳn như vậy. Luồng gió bắc khắc nghiệt làm cho anh mạnh mẽ. Những người chỉ đi trong ánh mặt trời trở thành khô kiệt và kiêu căng, và tôi không thích họ.

– Điều ấy có thể đúng với loài người. Nhưng không đúng với tre hay gỗ. Đó là điều tôi thích ở chúng. Chúng có thể ở trong ánh mặt trời mà không trở thành kênh kiệu với sự quan trọng của chúng. Chúng tiếp nhận những tia nắng và lớn mạnh. Cây lớn lên đầy những cành và ngạnh làm cho chúng vững mạnh. Ta cần đối xử với cả tre và gỗ giống như khi chúng ở trong thiên nhiên. Nếu ta hạ một cái cây đã sống trên núi một ngàn năm và chỉ dùng để làm một cái cột nhà, cái nhà ấy cũng sẽ đứng vững trong một ngàn năm.

Mặc dù cai quản một trà thất có nghĩa là được nghe về đủ thứ chuyện, nhưng đây là lần đầu tiên Osugi được nghe về những điều này.

– Và tre cũng như vậy à?

– Với những cây tre già ba năm hay năm năm, vấn đề là ta đừng xáo trộn mặt có ánh nắng và mặt tối của những lát tre, một hộp sơn mài hay một giỏ đan có thể tồn tại hai trăm hay ngay cả ba trăm năm.

Isuke quay lại đối diện với Osugi và lần đầu tiên mỉm cười sung sướng. Anh ta có vẻ như là một người khác.

– Nhưng, Osugi ạ, để có thể cầm một lát tre lên và qua cảm giác mà nói được nó thuộc phiá mặt trời hay phía bóng tối, phải mất ít nhất là mười năm học hỏi. Rồi dựa vào cảm nhận ấy, ta phải làm nhiều phán định trong việc đan tre. Không ai có thể dạy ta điều đó, và ngay cả nếu ta có thể làm được điều đó cũng không phải như vậy là đã trở thành một tay thủ công bậc sư đâu. Sau khi được luyện nghề khoảng mươi năm, người ta sẽ ba hoa như là một tay thợ thủ công có đẳng cấp, nhưng mà không có bao nhiêu người có thể

đan tre như cách nó lớn lên. Và trong trường hợp những hộp sơn mài, ta che phủ tre bằng giấy và sơn mài làm cho nó khó thở. Điều đó mới lại càng khó khăn hơn.

– Anh đang nói rằng những giỏ tre và hộp sơn mài hít thở à?

– Đúng vậy, Osugi. Người ta nói một cây tre mềm không bị gãy dưới sức nặng của tuyết. Nhưng, ngay cả một thanh tre thoạt trông có vẻ tốt, đừng bị đánh lừa. Tre là vật sống động, và nó đặt loài người chúng ta vào cuộc xét nghiệm. Một thợ thủ công với hai bàn tay đẹp là điều ngu ngốc. Không có gã nào với bàn tay sạch sẽ lại là một thợ thủ công thật sự.

“Với phụ nữ cũng vậy. Một ngưoi đàn bà với hai bàn tay đẹp không bao giờ biết đến sự khó nhọc.” Osugi thầm nghĩ.

Isuke tiếp tục nói với vách tường:

– Một khi bà cầm lên một thanh tre, và sau khi biết nó được trồng ở đồng bằng hay trên sườn một ngọn núi, rồi bà đan nó giống như bà là ánh mặt trời chiếu xuống nó hay là ngọn gió thổi qua nó. Một thợ thủ công kiên trì sẽ đan nó theo cách kiên trì, và một kẻ xốc nổi sẽ đan nó theo kiểu xốc nổi. Tại Yashuya có một thợ thủ công già tên là Matsu-san. Lão khởi sự làm việc trước khi mặt trời mọc, và lúc những người khác trong tiệm thức dậy, lão đã hoàn tất phần lớn công việc, đi tắm, hớp nhanh ly rượu, và ăn điểm tâm. Lão ăn vội vã, và trở lại làm việc ngay. Kiểu cách của ông già ấy trông có vẻ là một tay thợ cần mẫn, được coi là xuất sắc. Nhưng, nếu bà hỏi tôi, cho dù bà có thể làm xong công việc của ba người khi mặt trời còn cao, đó chỉ là sự mau lẹ và làm xong công việc. Đó không phải là một tay thủ công bậc thầy.

Osugi cảm thấy vui thích nhìn Isuke trở nên phấn chấn và nói năng lưu loát như một chuyên gia.

– Ồ, tôi thắc mắc không biết có phải là ông già ấy không. Chính ông ta đã nói anh là một người vụng về và giả vờ như là một tay thủ công bậc sư đấy. – Nàng nói và cười, liếc nhìn Isuke qua chỗ rách trên tấm màn che giường ngủ.

– Vụng về và giả vờ như một thủ công bậc sư không phải là tôi.

– Isuke đáp một cách nghiêm chỉnh – Tôi đã bốn mươi tuổi, và vẫn chưa đan được một món đồ tôi thích. Tôi không thể kiếm được việc làm tại bất cứ tiệm nào, vì vậy phải trôi nổi hết nơi này tới nơi khác như một ngọn gió khô, làm việc như một thợ thủ công lang thang có chút tay nghề. Đó là cái loại người bất hạnh vô giá trị mà tôi tự nhận là mình.

Isuke có vẻ khích động vì những lời tự bôi đen chính mình và chợt im lặng. Rồi nói:

– Nhưng, bà nên ngủ đi một chút.

Bỗng, Isuke chạy ra con đường hẻm.

Trong tiếng tuyết rơi không ngừng, có tiếng người xối nước tắm từ phía cái giếng. Một lát sau, Isuke trở lại, làm như đã quên sự có mặt của Osugi, ngồi thẳng lưng trước cái hộp sơn mài đang làm dở, với cái khăn vắt chéo vòng quanh đầu. Chiếc hộp này dài khoảng một thước và rộng độ sáu mươi phân tây, được dùng như một cái rương để đựng quần áo.

Đã quá nửa đêm từ lâu, và căn phòng trở lại yên tĩnh. Cơn gió có vẻ đã ngưng thổi, tất cả những gì có thể nghe thấy là tiếng động nhẹ của những bông tuyết dày đập vào tấm cửa lùa phía trước. Rồi, từ chỗ Isuke ngồi, có tiếng động khác nữa.

Soạch soạch, soạch soạch…

Nó giống như tiếng một người nào đó thở ra thật mạnh, được tạo ra một cách vô tình khi Isuke đan cái hộp. Qua chỗ rách trên tấm màn che giường, Osugi có thể trông thấy cái lưng người đàn ông.

Hình như Isuke dùng tay phải lấy những lát tre để bên phải và đan nhanh chúng bằng cả hai tay. Phía sau chiếc áo khoác ngắn của anh ta ướt mồ hôi và di động với những rung chuyển nhỏ, rõ ràng phản ảnh sự vận động của những bắp thịt nhỏ, xăn chắc.

Soạch soạch, soạch soạch…

Tấm lưng của người đàn ông trong khi làm việc đã xâm chiếm một cách hoàn toàn vô thức tâm trí người đàn bà tới thăm viếng anh ta vào cái đêm tuyết đổ này và đang nằm ngay bên cạnh anh ta. Dường như nó còn làm phát sinh một sự căng thẳng cao độ như sức mạnh của một ngọn dáo, đồng thời cũng tạo ra trong tâm tưởng ánh sáng mặt trời êm dịu và một cơn gió nhẹ.

Osugi thầm nhủ: “Người đàn ông này đã dâng hiến cuộc đời để làm những chiếc hộp sơn mài kia. Đây không phải là một cơn gió khô, đây là một luồng gió êm ái thổi qua một khóm tre.”

Osugi nghe một cảm giác ấm áp kỳ lạ phát tỏa trong đáy lòng.

Nàng cố nhắm mắt. Trong khoảng đen sau đôi mí mắt, nàng vẫn có thể nhìn thấy cái lưng của Isuke. Soạch soạch, soạch soạch… Sâu trong hai tai, nàng vẫn có thể nghe thấy hơi thở dũng mãnh của người đàn ông. Thân thể nàng dường như trở nên ẩm ướt. Nàng chống cự lại, và cùng một lúc lại ôm giữ lấy nó. Nhưng, nàng mau chóng rơi vào giấc ngủ.

Và nằm mơ.

Chìm sâu giữa những bông tuyết dày mùa xuân đang lặng lẽ tuôn rơi không ngừng, nàng và Isuke, hai kẻ gặp nhau lần đầu tiên trong đời, ôm nhau trong vòng tay. Osugi cầm bàn tay Isuke lên và ép nhẹ vào trước ngực nàng. Có những cục chai thô kệch trên ngón tay anh và vô số sẹo nhỏ, vậy mà lòng bàn tay lại dịu như bột, và những ngón tay cũng mềm mại. “Mi không được, mi không được,” giọng nàng réo gọi từ đâu đó, “chồng của mi cũng có cục chai trên vai vì vác kiệu.” Nhưng, Osugi cảm thấy như cả thân thể và linh hồn nàng tan chảy, và nhìn lên một cách mơ mộng từng bông tuyết đang nhảy múa trong khi rơi xuống từ trời cao đen thẳm. Chỉ có hai người, Isuke và nàng, tràn đầy hoan lạc trong vòng tay của nhau…

Khi nàng thức giấc, mặt trời buổi sáng chiếu chói lọi trên những tấm cửa bằng giấy. Trận tuyết suốt đêm qua đã chấm dứt, và bầu trời trong xanh của buổi sáng đầu xuân làm thành một vòng cầu ở trên.

Có mùi thơm của cơm vừa chín trong không khí. Hơi đang bay ra từ chỗ hở giữa cái nắp và mép chiếc nồi đặt trên bếp lò. Không thấy Isuke đâu cả, nhưng chiếc rương sơn mài đã làm xong được đặt ngay ngắn gần đó, và ngọn đèn dầu vẫn còn sáng trên cái kệ nhỏ gắn nơi vách tường.

– A, bà thức dậy rồi à. Bà ngủ ngon chứ?

Isuke nói với một nụ cười tươi vui. Một bó củ cải trắng vừa rửa xong chĩu nặng trên tay cho thấy Isuke vừa mới ra giếng trở về.

– Tôi rất tiếc đã ngủ quá giấc. Bây giờ tôi sẽ làm việc này.- Osugi nói một cách e thẹn, nhưng gần như giựt mớ củ cải trên tay Isuke.

Nàng khởi sự nấu món xúp misô.

–   Bà là người mà tôi phải cảm ơn về việc đã làm điều tôi ưa thích đêm hôm qua.- Isuke nói trong lúc hút thuốc lá với vẻ vui tươi hiển hiện.

Isuke chăm chú ngắm chiếc rương sơn mài vừa làm xong. Nhưng anh ta lắc đầu nhè nhẹ như thể còn có vài chỗ chưa được hoàn toàn ưng ý.

Dưới mắt Osugi, đây có vẻ như là một tác phẩm tuyệt vời và hoàn toàn độc đáo. Nàng sẽ yêu thích nếu có cái rương sau khi nó được phủ giấy và tráng sơn mài.

Một lát sau, ngồi đối diện nhau trong khi ăn sáng, Osugi bật ra nói với giọng rụt rè:

– Isuke, anh không thể cho tôi coi bàn tay anh, phải không?

– Cái gì đây, một điều hoàn toàn bất ngờ hả?

Isuke đặt đôi đũa xuống với một cái nhìn bối rối, rồi e thẹn xòe cả hai bàn tay. Có những cục chai trên đầu những ngón tay, và những sẹo nhỏ, nhưng trông bàn tay mềm dịu, đen thâm như đã được ngâm trong dầu tre thấm vào những nếp nhăn nhỏ nhất.

– Hai bàn tay dơ bẩn, phải không? Nhưng, nếu tôi rửa sạch tay, chúng sẽ bị tre làm cho xước hay đứt. Bà không thể đan tre nếu không có dầu trên bàn tay. Ngay cả khi bị đứt tay, bà cũng không nên dùng bất cứ loại thuốc mỡ nào. Chỉ việc liếm ít cái và rồi nó sẽ tự lành.

– Vâng, chúng giống như tay của một vị Phật. Cảm ơn anh đã cho tôi xem những ngón tay của anh.

Đã đến lúc phải chia tay. Osugi quá thích cái rương đan sơn mài mà Isuke đã làm xong trong một đêm tuyết đổ. Nhưng, nàng chỉ xin Isuke một khúc tre mỏng và tròn để dùng làm gậy chống đi đường.

Những người ở trong dãy nhà dài đang xúc dọn tuyết đã ngập trong con đường hẻm đến ba mươi phân tây. Isuke đưa nàng tới đầu ngõ Shamisen Bori và nói:

– Đây là một trận tuyết lớn, nhưng tuyết mùa xuân sẽ mau tan. Bà nên cẩn thận trên đường về nhà.

– Tôi sẽ cẩn thận.

– Tôi lại sắp sửa ra đi nữa. Một ngày gần đây, tôi sẽ đi viếng ngôi đền ở Enoshima và chắc chắn sẽ thăm trà thất của bà. Và khi tôi đi, – Isuke nhìn vào mắt nàng và đặt hai bàn tay lên hai vai nàng một cách dịu dàng như cử chỉ của một thanh niên trai trẻ – tôi hứa sẽ đem tặng chiếc hộp sơn mài độc nhất trong đời, chiếc đẹp nhất mà tôi chưa bao giờ làm được.

Kể từ ngày ấy, năm này sang năm khác, không biết bao nhiêu trận tuyết đã đổ xuống Tsujidô trên Tôkaidô, dù chúng có nhẹ hơn trận tuyết ở Edo.

Con trai của Osugi đã lấy vợ và nàng đã có cháu nội, con gái nàng cũng đã có chồng, Kumazô đã qua đời năm năm trước đây, và Osugi giờ đây đã ở tuổi sáu mươi.

Nhưng, trong suốt hai mươi năm qua, nàng không bao giờ quên Isuke, người đàn ông đã cùng nàng trải qua một đêm tuyết đổ. Đó không phải chỉ là một giấc mơ. Chiếc gậy tre nàng xin của Isuke giờ đây đã lên nước màu vàng hổ phách, được làm bóng bằng chất dầu từ bàn tay già nua của Osugi.

Vào lúc hoàng hôn một ngày tháng Chạp, khi trận tuyết đầu mùa nhẹ rơi lất phất, một ngưoi đàn ông ở lứa tuổi sáu mươi không biết từ đâu tới, ngồi xuống chiếc ghế dài dưới mái hiên trà thất. Osugi với mái tóc bạc bưng cho người lữ khách một tách nước trà đậm.

– Osugi đây, phải không? Cái này là của bà.

Người đàn ông có một cặp giỏ đan nối với nhau bằng một chiếc đai, một cái đeo phía trước và một cái ở đằng sau. Ông ta lấy từ trong một cái giỏ ra một chiếc hộp tre đan sơn mài để đựng sách và trao cho Osugi, nói:

– Một tháng trước đây, Isuke đã chết trên đường đi. Mấy năm sau này, anh ta không thể sử dụng tay một cách bình thường. Anh ta luôn luôn lăn một cặp hột bồ đào trong lòng bàn tay để làm mềm những ngón tay. Nhưng chiếc hộp sơn mài này…

Osugi không nghe gì nữa. Ép chiếc hộp sơn mài bóng láng vào ngực, nàng ngửi thấy mùi cơn gió nhẹ thổi qua bụi tre, và nghe tiếng động của hai hột bồ đào lúc lắc bên trong, va chạm vào nhau với những âm thanh sắc nhỏ. Có lẽ cùng những tiếng động phát ra khi chúng ở trong tay Isuke.

(Hết)

 Truyện Nhật Bản của SAE SHUICHI
 SƠN TÙNG dịch từ bản Anh ngữ của Miyamoto Noriko

Views: 374