Ca Dao Thời Đại Xã Hội Chủ Nghĩa

 Vũ Bá Hoan   

vietnamwater-puppet-4413

Có lẽ từ ngày lập quốc tới nay, chưa có thời đại nào có nhiều ca dao được truyền tụng trong dân gian để chỉ trích những người cầm quyền và chính sách cai trị đất nước, như thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Kể từ ngày 30-4-1975 , VC xâm chiếm miền Nam tới nay, Sàigòn và Hà Nội có lẽ là nơi xuất phát nhiều ca dao chỉ trích chế độ VC nhất.

Người dân sống dưới chế độ độc tài đảng trị bị đàn áp và tước đoạt những quyền căn bản của con người như quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và tự do đi laị.  Những  bloggers và thanh niên, thiếu nữ bầy tỏ lòng yêu nước qua việc chống Trung Cộng chiếm đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoặc bầy tỏ bất đồng chính kiến một cách ôn hòa về chính sách đảng trị, cũng đều bị Việt Cộng trấn áp dã man bằng cách kết án tù nhiều năm. Để tránh bạo quyền VC áp đặt cảnh tù tội khi công khai chỉ trích chính quyền, người dân đã dùng thể thức ca dao (một loại văn chương bình dân được lưu truyền trong dân gian mà tác giả những câu ca dao ấy không ai biết rõ tên tuổi) làm phương tiện đấu tranh chống lại bạo quyền Việt-Cộng. Người dân sáng tác những câu ca dao thời đại để chỉ trích và phản đối chính sách độc tài đảng trị của Cộng-Sản VN, đồng thời còn là một hình thức để họ xả nỗi uất ức, bất bình trước bạo quyền.

Những câu ca dao được trích dẫn trong bài viết là những câu đã được người viết sưu tầm trên sách báo hải ngoại hoặc trên mạng lưới điện toán. Sau đây, chúng ta hãy xem ngườì dân VN sống dưới XHCN chỉ trích những người lãnh đạo CSVN qua  những câu ca dao châm biếm rất độc đáo và sâu sắc, được truyền tụng khắp các miền đất nước.

  • Châm biếm và chỉ trích lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam

Có thể nói trong lịch sử VN, kể từ ngày dựng nước tới nay, chưa có một lãnh tụ nào bị người dân khinh miệt và thù oán như Hồ Chí Minh. Vào những năm đầu chiếm được miền Nam, người dân bị kiểm soát dưới hình thức hộ khẩu, họ thiếu ăn, thiếu mặc; vì thế họ căm tức chế độ VC, nên đã miệt thị HCM, ví ông ta như bộ phận sinh dục của họ, một hình thức sỉ nhục mà giới bình dân khi khinh ghét ai, thường đem ra  nhục mạ :Đọc tiếp…

An Dưỡng Cuối Cùng

GS Cao Thị Lễ

old age

Tôi ngần ngại khá lâu trước khi viết về đề tài nầy vì đây là một việc mà không ai muốn nghe hoặc nghĩ đến mặc dù đó là sự thật không ai có thể tránh được: “Có sinh thì phải có tử”! Điều quan trọng là chúng ta phải chấp nhận và làm sao để cho mình trong những ngày cuối cuộc đời, cũng như để cho những người thân yêu đang chăm sóc mình, được thoải mái. Đây là mục đích của dịch vụ hospice.

Hospice là dịch vụ săn sóc những bệnh nhân mà bác sĩ và bệnh viện tuyên bố không còn chữa trị được nữa, chỉ còn độ 6 tháng hoặc ngắn hơn để sống mà thôi, nôm na là “bác sĩ đã chê rồi” (terminal illnesses). Trong những trường hợp nầy, gia đình sẽ vô cùng bối rối không biết làm thế nào . Có người đành mang bệnh nhân về nhà, con cháu thay phiên săn sóc và chuẩn bị việc tang lễ.  Có người nhứt định “còn nước còn tát” tìm cách chạy chữa khác như Đông y … Nhưng khổ nỗi là bệnh cứ  kéo dài nhiều tháng, con cháu phải đi làm kiếm sống và mệt mỏi trong việc săn sóc người bệnh. Người bệnh cũng đau khổ không kém vì không những đau đớn về thể xác mà còn đau buồn khi thấy con cháu bận rộn vì mình .

May mắn là ở Hoa Kỳ có dịch vụ hospice để giúp đỡ chúng ta trong những trường hợp như thế. Tuy nhiên người Việt chúng ta ít người biết đến dịch vụ nầy .

Quan Niệm Căn Bản của Hospice:

Quan niệm căn bản của hospice là giúp cho những bệnh nhân sắp lìa đời được thoải mái trong những ngày cuối cùng của cuộc đời bằng cách săn sóc những nhu cầu về thể xác, tình cảm, tinh thần và xã hội của bệnh nhân. Ngoài ra hospice cũng giúp đỡ gia đình bệnh nhân vượt qua giai đoạn khó khăn nầy.

Quan niệm về hospice đã được du nhập từ Anh Quốc vào thập niên 1970s. Sau đó hospices được phát triển nhanh chóng: vào năm 2007 có đến 1.4 triệu bệnh nhân sử dụng dịch vụ nầy và hơn 1/3 người Mỹ từ giã cõi đời qua các dịch vụ nầy.Đọc tiếp…

Vai Trò và Thành Quả của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh

Gs Cao Thị Lễ

hocvien qghc tqt

Tôi được may mắn vừa là sinh viên vừa là nhân viên giảng huấn của Học Viện. Ngoài ra, tôi còn có được kinh nghiệm học và giảng dạy tại đại học Hoa Kỳ. Với những kinh nghiệm nầy, tôi xin cố gắng trình bày sau đây những suy nghĩ của tôi về vai trò và thành quả của ngôi trường thân yêu của chúng ta, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.

 Bài nầy gồm 3 phần :

  • Việc đào tạo công chức cao cấp trước ngày thành lập Trường Quốc Gia Hành Chánh.
  • Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
  • Vài ý kiến về Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.
I- Việc Đào Tạo Nhân Viên Hành Chánh Cao Cấp Trước Ngày Thành Lập Trường Quốc Gia Hành Chánh năm 1952.

(Phần nầy được viết theo  tài liệu biên khảo của Giáo Sư Trần Văn Binh đề ngày 25 tháng 2 năm 1992)

Trước khi Pháp trao trả nền độc lập cho Việt Nam vào năm 1948, công chức cao cấp của nền Hành Chánh Đông Dương gồm 2 ngạch :

a- Ngạch Âu : gồm có Tham Biện (Administrateur des Services Civils) và Chủ Sự (Chef de Bureau des Services Civils).

b- Ngạch Đông Dương: gồm các tham tá (commis).

Tham Biện được tuyển chọn bằng 3 cách:

  • sinh viên tốt nghiệp trường Pháp Quốc Hải Ngoại (Ecole de la France d’Outremer).
  • chuyển từ ngạch Biên Tập Viên (Redacteur des services civils) có bằng cử nhân luật, văn hay khoa học.
  • qua một cuộc thi tuyển vào ngạch phó tham biện hạng 3. Kỳ thi nầy dành cho nhân viên phó tham biện hạng 1 (Ngạch Phó Tham Biện bắt đầu từ hạng 1, cao nhất là hạng 3).

Ngạch Tham Tá (commis) được tuyển dụng từ các sinh viên tốt nghiệp trường Pháp Chính Hà Nội hay qua một kỳ thi chuyên nghiệp dành cho các ứng cử viên có bằng tú tài hay thơ ký với 6 năm thâm niên công vụ.Đọc tiếp…

Kênh Đào Kra và Khu Vực Đông-Nam-Á

Lê Trung Hiếu, Cao Học Hành Chánh khóa 4

kra_canal-map-sp-43217

Hiện nay, tàu thuyền lưu thông từ Thái bình Dương sang Ấn Độ Dương và ngược lại,  phải đi qua eo biển Malacca giữa bán đảo Malaysia và đảo Sumatra. Eo biển Malacca dài khoảng 1,000 km (600 miles), bề ngang hẹp, chỗ hẹp nhất chưa tới 2.5 km (1.6 mile) với độ sâu chỉ có 82 feet (khoảng 25 meters).  Tàu  vận chuyển dầu và hàng hóa có trọng tải lớn gặp nhiều trở ngại nên thường phải chạy vòng xuống phía nam của đảo Sumatra để đi qua eo biển Lambock, rộng và sâu hơn 820 feet (khoảng 250 meters).  Ngoài những trở ngại về địa lý, hằng năm số lượng tàu thuyền qua lại eo biển Malacca gia tăng đáng kể cũng là nguyên nhân làm cho sự lưu thông bị trì trệ. Để  tạo sự thuận tiện cho tàu bè lưu thông và rút ngắn hải trình từ đông sang tây và ngược lại đến hơn 620 miles, chính quyền Thái Lan và nhiều công ty của Nhật và Mỹ  đề nghị đào kênh Kra trong lãnh thổ của nước Thái Lan nhằm nối liền Vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương. Một câu hỏi đặt ra: Ý kiến xây dựng kênh Kra xuất phát từ lúc nào và đem lại ích lợi gì cho các nước thuộc khối Asean cũng như nền hòa bình của thế giới? Tại sao cho đến bây giờ việc đào kênh vẫn chưa được thực hiện? Để trả lời những câu hỏi này, ta thử xét đến các vấn đề sau đây:

  1. Diễn tiến của dự án kinh đào Kra
  2. Lợi ích của kinh đào Kra
  3. Vai trò của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Cộng về việc thực hiện.

Đọc tiếp…