Liên Hiệp Quốc: 70 Năm Hỗ Trợ Kinh Tế Xã Hội Thế Giới

Lê Văn Bỉnh

LHQ

Ngày 24/10/15 vừa qua, Liên Hiệp Quốc tròn 70 tuổi.  Được hình thành sau Thế Chiến Thứ Hai tại San Francisco để thay thế Hội Quốc Liên (The League of Nations) thành lập năm 1920 — vốn đã không được Quốc Hội Hoa Kỳ phê chuẩn, cũng như sự gia nhập trể của Đức (1926) và Liên Xô (1934), và nhất là đã không ngăn cản được cuộc chiến tàn khốc đang xảy ra — tổ chức mới này đã được chuẩn bị chu đáo với sự tham dự của 282 đại biểu và 2,400 nhân viên yểm trợ đến từ 51 quốc gia.  Sau 2 tháng làm việc, bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc (Charter of the United Nations) đã được ký kết ngày 26/6/1945, tức 2 tuần lễ trước khi Đức và vài tháng trước khi Nhật Bản đầu hàng.

 Tổ chức LHQ ra đời nhằm 4 mục tiêu: (1) Duy trì hòa bình và an ninh thế giới, ngăn ngừa và loại trừ các đe dọa hòa bình, tôn trọng các nguyên tắc công lý và luật pháp quốc tế; (2) Phát triển mối bang giao hữu nghị giữa các quốc gia dựa trên quyền bình đẳng, tự quyết của các dân tộc, sử dụng mọi biện pháp thích nghi để duy trì hòa bình; (3) Đạt tới sự hợp tác quốc tế để giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo; cổ vũ và khuyến khích tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cho mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo; và (4) Là trung tâm hài hòa hoạt động của các quốc gia để đạt các mục tiêu trên.

Nhìn qua, chúng ta nhận ngay ra rằng những người sáng lập LHQ có ý định liên kết an ninh và nghèo đói thế giới.  Theo họ, chính cuộc Đại Suy Thoái (Great Depression) vào đầu thập niên 1930  đã đem lại bất ổn kinh tế trên thế giới, giúp Đức Quốc Xã lên nắm chính quyền ở Đức và đưa thế gìới vào cuộc đại chiến tranh tàn phá và chết chóc. Tránh kinh tế sụp đổ có thể tránh được chiến tranh; đó là ước nguyện đầu tiên hình thành LHQ.

Bài viết này phác họa một số thành tựu riêng về phương diện kinh tế, xã hội mà LHQ mang lại sau 70 năm thành lập.

***

Về phương diện tổ chức, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (The General Assembly) là bộ phận có thẩm quyền tối cao của LHQ; gồm tất cả các quốc gia hội viên. Dưới đó là: Hội Đồng Bảo An (The Security Council), Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội (The Economic and Social Council), Hội Đồng Ủy Trị (The Trusteeship Council), Tòa Án Công Lý Quốc Tế (The International Court of Justice), và Văn Phòng Tổng Thư Ký (The Secretariat).

Thành phần, nhiệm vụ và sự điều hành của Hội Đồng Kinh Tế và Xã Hội (HĐKTXH) được qui định trong các Điều 61-72 của Hiến Chương.  Từ nhiều năm nay, HĐ gồm 54 thành viên do ĐHĐ bầu ra với nhiệm kỳ 3 năm. năm. Đa số thành viên đến từ các nước đang phát triển: 14 nước từ Châu Phi, 11 từ Châu Á, 6 từ Đông Âu, 10 từ Châu Mỹ Latin và Vùng Carribean,  13 từ Tây Âu hay nơi khác. HĐ họp mỗi năm 2 lần.

HĐ giám sát nhiều chương trình và quỹ, 9 phái bộ chức năng, 5 phái bộ cấp vùng, các cơ quan chuyên môn và nhiều bộ phận khác.  Nói chung, số cơ quan và các chương trình trực thuộc HĐKTXH qua thời gian được thêm bớt theo nhu cầu, ngân sách và đòi hỏi của số hội viên LHQ càng ngày càng đông.  Nhiệm vụ của HĐ nhiều khi trùng dụng, chòng chéo. Hiện nay, nhân số của LHQ nói chung khoảng 9000 người, tức đã giảm đi 25% sau đợt cải tổ hành chánh năm 1997.

Trong 5 nhóm dưới đây, xin chỉ liệt kê một số cơ quan mà chúng ta thường nghe nói đến.

1.Các Chương Trình và Quỹ:

  • Hội Nghị Thương Mại và Phát Triển LHQ (UN Conference and Trade, UNCTAD), sản sinh ra World Trade Organization, WTO
  • Chương Trình Phát Triển LHQ (UN Development Program. UNDP) có văn phòng trên 160 quốc gia, đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc giảm nghèo đói, cải thiện môi sinh, phát triển bền vững, bảo vệ nhân quyền.
  • Văn Phòng Cao Ủy Tị Nạn LHQ (Office of the UN High Commissioner for Refugees, UNHCR)
  • Quỹ Nhi Đồng Quốc Tế LHQ (UN Children’s Fund)
  • Chương Trình Thực Phẩm Thế Giới (World Food Program)
  • Chương Trình Môi Sinh LHQ (UN Environment Programme) v.v.

2.  Các Phái Bộ Chức Năng (Functional Commissions)

  • Dân Số và Phát Triển (Population and Development)
  • Phát Triển Xã Hội (Social Development)
  • Phát Triển Bền Vững (Sustainable Development)
  • Qui Chế Phụ Nữ (Status of Women)
  • Ma Túy (Narcotic Drugs)
  • Ngăn Ngừa Tội Phạm và Công Lý Hình Sự (Crime Prevention and Criminal Justice) v.v.

3. Năm Phái Bộ Cấp Vùng (Regional Commissions)

  • Phái Bộ Kinh Tế Châu Phi (Econ. Comm. for Africa)
  • Phái Bộ Kinh Tế Châu Âu (Econ. Comm. for Europe)
  • Phái Bộ Kinh Tế Châu Mỹ Latin và Vùng Caribbean (Econ. Comm. for Latin America and the Carribean)
  • Phái Bộ Kinh Tế và Xã Hội Châu Á và Vùng Thái Bình Dương (Econ & Soc. Comm for Asia and Pacific)
  • Phái Bộ Kinh Tế và Xã Hội Tây Á (Econ & Soc for Western Asia)

4. Các Cơ Quan Chuyên Môn (Specialized Agencies) Gồm 15 cơ quan tự trị, hoạt động với các bộ phận khác của LHQ qua sự phối hợp của HĐKTXH:

  • Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (International Labor Organization, ILO)
  • Tổ Chức Lương Nông LHQ (Food and Agriculture Organization of the UN, FAO)
  • Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization, WHO)
  • Nhóm Ngân Hàng Thế Giới (World Bank Group)
  • Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF)
  • Quỹ Phát Triển Nông Nghiệp Quốc Tế (International Fund for Agricultural Development, IFAD)
  • Tổ Chức Phát Triển Kỹ Nghệ LHQ (United Nations Industrial Organization (UNIDO) vv.

5. Các Ủy Ban Khác

  • Ủy Ban Chính Sách Phát Triển(Committee for Development Policy)
  • Ủy Ban Các Chuyên Gia Hành Chánh (Committee of Experts on Public Administration)
  • Ủy Ban Các Tổ Chức Phi Chính Phủ (Committee on Non-Governmental Organizations) v.v.

Hoạt động của 5 nhóm này được phối hợp nhằm “cải tiến mức sống, toàn dụng nhân công, điều kiện tiến bộ và phát triển kinh tế và xã hội” do Hiến Chương LHQ đề ra. Tuy nhiên đóng góp quan trọng nhất của LHQ nói chung, và HĐKTXH nói riêng, chính là cung cấp diễn đàn để các quốc gia phát biểu ý kiến và lập trường của mình đối với vấn đề an sinh và phát triển con người. Tiếng nói này có các tính chất sau đây: phổ quát (universality, bảo đảm tất cả quốc gia đều được quyền phát biểu ý kiến trước khi lấy quyết định), không cục bộ (impartiality, không vì lợi ích riêng lẻ nào), hiện diện toàn cầu (global presence, có mạng lưới lớn với nhiều trụ sở để thực hiện công tác phát triển); và cam kết (commitment, với các dân tộc khác của LHQ).

Trong 70 năm vừa qua, số quốc gia hội viên của LHQ đã tăng lên rất nhanh: từ 51 khi thành lập năm 1945; lên 67 năm 1955 với sự gia nhập của các quốc gia vừa thoát khỏi đô hộ sau Thế Chiến; rồi 159 năm 1989; và hiện nay là 195 sau sự tan vỡ của khối Cộng.

 Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ngoài 2 khối tư bản và cộng sản đối kháng nhau rõ rệt về chủ trương cũng như tổ chức chính trị và kinh tế, còn có “Phong Trào Không Liên Kết” (Non-aligned Movement), mà số hội viên cũng tăng lên từ từ: 25 năm 1961; lên đến 77 năm 1964, tiến đến việc thành lập  nhóm “Group of 77” (G-77) vào ngày 15/6  tạo sức mạnh chung của các nước đang phát triển  để thương lượng về thương mại và tiền tệ với các nước phát triển kinh tế Tây phương.

Một thập niên sau, vào năm 1974, gặp khó khăn vì cuộc khủng hoảng nhiên liệu do các nước sản xuất dầu hỏa gây ra, Nhóm 77 này –với số hội viên lúc bấy giờ lên trên 120– đã thúc đẩy LHQ đưa ra một trật tự kinh tế mới,với tên gọi là New International Economic Order (NIEO) nhằm thay thế cho trật tự đang bị Hoa Kỳ và các cường quốc kinh tế khác khống chế, với ý muốn được tham dự vào việc hình thành chính sách kinh tế thế giới. Tổ chức UNCTAD – lúc đó được gọi là câu lạc bộ của các nước nghèo — được hình thành từ đó. Tuy nhiên yêu cầu cải cách này của Nhóm không đem lại kết quả đáng kể. Lời hứa từ thập niên 1970 của các nước phát triển là bỏ ra 0,7% tổng sản lượng quốc gia (GNP) — về sau đổi thành tổng lợi tức quốc gia (GNI) — của mình cho mục tiêu trợ giúp (official development assistance, ODA, tức cho không và cho vay nhẹ lãi) các quốc gia nghèo, trong đó có hầu hết các hội viên của Nhóm, chỉ được mấy nước (Đan Mạch, Lục Xâm Bảo, Hòa Lan, Thụy Điển và Na Uy) giữ lời! Tuy nhiên về số tiền đóng góp, thì Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Anh và Nhật vẫn là những nước đóng góp nhiều nhất.

Lý do là có 2 khuynh hướng trái ngược nhau về viện trợ cho các nước đang phát triển, mặc dù cả hai đều đồng ý cần cứu trợ khẩn cấp trong trường hợp thiên tai, đói, bệnh hay xung đột vv. .  Một khuynh hướng phản đối, trong đó có kinh tế gia Hoa Kỳ William Easterly đã từng làm việc nhiều năm cho USAID, cho rằng viện trợ không giúp ích được bao nhiêu cho phát triển kinh tế vì nó không những làm cho nước nhận mất đi tinh thần tự lực cánh sinh, mà còn khiến họ ỷ lại và lệ  thuộc vào nước cấp viện.  Trong khi đó, Jeffrey Sachs lại chủ trương rằng các nước nghèo có thể tìm ra được lối thoát thích hợp nếu có nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài đưa vào. Chủ trương của Sachs được LHQ tán dương và ông là Cố Vấn Kinh Tế của LHQ trong nhiều năm nay.

Ngày nay, mặc dầu số hội viên lên đến 134, nhưng tên gọi của Nhóm vẫn đươc giữ như cũ. Có người cho rằng Nhóm 77 này là “một tổ chức trong một tổ chức.”  Nghĩa là về kinh tế và xã hội, LHQ  có  2 bộ  phận lớn “đồng sàn dị mộng” Thật vậy, trong khi các nước phát triển đặt trọng tâm vào các mục tiêu như ưu tiên vai trò thị trường, cai quản tốt (good governance), nguyên tắc pháp trị (rule of law), tôn trọng nhân quyền trong nước, thì các quốc gia đang phát triển lại đòi hỏi san bằng bất bình đẳng kinh tế, kêu gọi các nước giàu hãy giảm hoặc hủy nợ, tăng cường viện trợ, tạo điều kiện dễ dãi cho họ xuất cảng  vv. Vào các thập niên 1960-1970, các nước đang phát triển cho rằng chính quá khứ bị đô hộ đã làm cho họ phải chậm phát triển dù đã được độc lập về chính trị. Qua nhiều thập niên phát triển (decades of development) do LHQ chủ xướng, khởi đầu từ năm 1961, qua các chương trình viện trợ kỹ thuật, giáo dục, tư bản (cho không, hoặc cho vay nhẹ lãi từ các nước giàu hay Ngân Hàng Thế Giới), cũng như tạo điều kiện nhập cảng dễ dàng hơn (giảm hay bỏ hạn ngạch, thuế quan vv.) từ phía các nước giàu, nền kinh tế của hầu hết các nước đang phát triển cũng có thay đổi, nhưng không nhiều như mong muốn, thậm chí có vài nước còn thụt lùi.  Cuối cùng, thì đôi bên mới nhận thức được “chân lý”: Nguồn gốc chủ yếu cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia chính là tài nguyên nhân lực của quốc gia đó.  Vấn đề là làm sao phải khai thác và phát triển được tiềm năng nhân lực này – tài năng và sự sáng tạo — qua hệ thống giáo dục, y tế, cũng như tham dự của họ trong quá trình quyết định chính sách  và đường lối phát triển cộng đồng trong đó họ đang sinh sống.

Dưới bóng dù LHQ, kinh tế thế giới tiến tới toàn cầu – kinh tế thị trường — tương đối chậm.  Mới đầu qua cơ cấu GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) hình thành từ 1947 và được xem là câu lạc bộ của các nước giàu có kỹ nghệ phát triển.  Lần lượt qua khá nhiều vòng đàm phán và thương lượng về thuế quan, hạn ngạch và những rào cản khác giữa các nước đã phát triển và đang phát triển.  Vòng đàm phán Uraguay bắt đầu tháng 9/1986 và kéo dài đến 87 tháng với 123 nước tham gia đưa đến sự thành lập WTO. Đến tháng 4/2015, WTO có 161 hội viên chính thức trong đó có cả Nga (8/2012 sau 18 năm thương lượng) và 23 hội viên quan sát, trong đó có Iran, Iraq).

Mãi đến đầu thiên niên kỷ này, LHQ mới đưa ra một lịch trình phát triển cụ thể có tính cách toàn cầu, được nhiều người tán dương mặc dù cho đó là tương đối trể.  Đó là Những Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ (The Millennium Development Goals, MDGs). Lịch trình này gồm 8 mục tiêu lớn (8 goals) với 14 chỉ tiêu (targets): (1) Xóa nạn cực nghèo và nạn đói (1990 – 2015 giảm nửa dân số mà lợi tức chỉ 1 đô la/ngày, và gỉảm nửa dân số chịu đói); (2) Đạt đưọc giáo dục phổ thông cấp một cho tất cả trẻ em trai gái; (3) Cổ vũ bình đẳng về giới tính và tăng quyền cho phụ nữ (dự ước không còn cách biệt giữa nam nữ trong giáo dục cấp 1 và cấp 2 vào năm 2005, và ở mọi cấp vào năm 2015; (4) Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em (2/3 cho trẻ dưới 5 tuổi); (5) Cải tiến sức khỏe của sản phụ (giảm 3/4 mức tử vong trong thời gian 1990 – 2015); (6) Chống các bệnh HIV/AID, sốt rét và các bệnh khác (giảm xuống phân nửa mỗi loại vào năm 2015); (7) Bảo đảm sự bền vững của môi sinh (hội nhập các nguyên tắc phát triển bền vững vào các chính sách và chương trình của mỗi quốc gia và đảo ngược sự mất mát về môi trường; giảm nửa số người không tiếp cận được nước uống vệ sinh vào năm 2015; cải thiện đời sống cho ít nhất 100 triệu người trong khu nhà ổ chuột; (8) Phát triển đối tác toàn cầu để phát triển (*Phát triểm thêm hệ thống thương mại và tài chính mở rộng, dựa trên qui luật, có thể tiên liệu được và không kỳ thị — bao gồm sự cai quản tốt, phát triển và giảm nghèo, quốc nội và quốc tế; *Đối phó với Những Nhu Cầu Đặc Biệt Của các Nước Chậm Phát Triển Nhất – bao gồm: miễn quan thuế và hạn ngạch cho hàng xuất cảng của các quốc gia này, đẩy mạnh chương trình giảm nợ cho Các Quốc Gia Với Nợ Nần Chồng Chất (Heavily Indebted Poor Countries, HIPCs) và hủy bỏ các món nợ song phương thuộc chính quyền, và viện trợ ODA hào phóng hơn cho những quốc gia cam kết giảm nghèo); *Đối phó với Những Nhu Cầu Đặc Biệt của các quốc gia nằm lọt trong đất liền và các đảo nhỏ (qua Chương Trình Hành Động Để Phát Triển Bền Vững Cho Các Tiểu Đảo Quốc Đang Phát Triển); *Đối phó toàn bộ với các vấn đề nợ nần của các nước đang phát triển qua các biện pháp quốc nội và quốc tế nhằm giúp kham đưọc nợ nần trong dài hạn; *Cộng tác với công ty sản xuất dược phẩm, cung cấp thuốc trị bịnh thiết yếu với giá phải chăng tại các nước đang phát triển; cộng tác với khu vực tư để giúp cho kỹ thuật mới, đặc biệt về thông tin và liên lạc có thể tới tay dân chúng.

Nhìn qua, người ta thấy 7 mục tiêu đầu tiên được chia cắt ra riêng lẻ và cụ thể; chứ không phải nói tổng quát là “phát triển” với GDP hay GNI tăng tỷ lệ mấy phần trăm như những thập niên trước đó. Lý do chính là khi đề cập đến phát triển, thì phải nói đến cả tăng trưởng (growth), về xuất lượng, lợi tức, vv. lẫn những thay đổi (changes) về cơ cấu tổ chức chính trị & hành chánh, phẩm chất đời sống dân chúng vv. Đó là điều mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Cộng Sản trong nhiều năm trước đây, không muốn nói đến.  Sự chia cắt riêng lẻ này vừa tạo cơ hội và trách nhiệm đóng góp của các cơ quan trong 5 nhóm kể trên; nhưng đàng sau đó cũng là lý do để biện minh cho sự tồn tại của những cơ quan này.

Ngay cả mục tiêu “phát triển bền vững” đề cập ở mục tiêu 7 cũng là cả một lịch sử dằng co giữa 2 nhóm các nước phát triển và nhóm các nước đang phát triển. Ngay từ 1972, khi bàn về các ảnh hưởng xấu của phát triển kinh tế đối với môi sinh ô nhiễm, bà Thủ Tướng Ân Độ Indira Gandhi đã tuyên bố đưa ra một so sánh để đời.  Theo bà, “nghèo nàn là nguồn ô nhiễm lớn nhất” (poverty is the greatest polluter). Thoạt tiên, khi khái niệm phát triển kinh tế bền vững (sustainable devevelopment), tức phát triển mà không làm phương hại cho các thế hệ về sau, trở thành chủ trương của LHQ, thì nhiều nước Nam Bán Cầu cho rằng đây là âm mưu của các nước Bắc Bán Cầu “qua sông rồi rút cầu” để cản bước tiến kinh tế của họ.

Riêng mục tiêu thứ 8 được đề cập với 7 chỉ tiêu gồm nhiều chi tiết. Nhưng cái chung của tất cả 7 chỉ tiêu này là kêu gọi sự đóng góp hào hiệp từ các quốc gia phát triển, nghĩa là nhà giàu phải giúp nhà nghèo, vì đó là bổn phận, là nhân đạo.  Điều này nhắc chúng ta nhớ lại “viện trợ” trong thời kỳ chiến tranh lạnh.  Cũng xin nói rõ, “viện trợ” trong thống kê của các nước cấp viện trợ liệt kê nhiều thành phần rất ôm đồm và phức tạp.  Nó bao gồm: cho không, cho mượn, cho vay nhẹ lãi, bão kê nợ, xoá nợ, giảm nợ, gửi chuyên viên kỷ thuật đến, cấp học bỗng cho sinh viên du học, công chức tu nghiệp, dự hội nghị, vv. Không hiếm khi cho bằng tay mặt, lấy lại bằng tay trái, mà đôi khi lấy lại nhiều hơn cho ra!  Các nước “ít phát triển” (less developed countries) thủa đó cũng “làm eo làm sách”, mặc cả chính trị vì biết rằng nghiêng sang “tư bản” thì đưọc cấp cho cái nhà máy, một xa lộ; nghiêng sang “cộng sản” thì được cái cây cầu, thậm chí cả cái đập nước vv. Tuy nhiên, thử hỏi có mấy quốc gia cho đi mà không có hậu ý, không nghĩ tới quyền lợi của dân mình, những người phải đóng thuế?

Chủ trương viện trợ của LHQ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Điểm Thứ Tư (Point Four) trong bài diễn văn nhậm chức ngày 20/01/1949 của Tổng Thống Mỹ Truman. Theo ông, những tiến bộ khoa học và những tân tiến kỹ nghệ của Hoa Kỳ nên được sử dụng để giúp cho việc tăng trưởng và cải thiện các vùng chậm phát triển (underdeveloped areas) – đang chiếm hơn nửa dân số thế giới. Chủ trương này được đưa ra để đối phó trong chiến tranh lạnh sau khi có sự than phiền của nhiều quốc gia Á, Phi và châu Mỹ Latin rằng Hoa Kỳ chỉ lo giúp Châu Âu tái thiết mà không ngó ngàng tới các nước cũng đang bị tàn phá vì chiến tranh.  Hẳn nhiều độc giả khó quên được rằng viện trợ kinh tế Hoa Kỳ  đầu tiên mà miền Nam Việt Nam nhận được là các xe và các toán nhân viên diệt trừ sốt rét, tượng trưng cho tiến bộ khoa học vừa nói.  Về sau, Tổng Thống Kennedy chủ trương dùng nhiều hình thức khác nữa để viện trợ cho các nước đang phát triển, như Đoàn Hoà Bình (Peace Corps), Thực Phẩm Phụng Sự Hòa Bình (Food for Peace) vv. với quan niệm “nước lên thì thuyền cũng lên.”

Qua thời gian, Ngân Hàng Thế Giới thay đổi quan niệm về phát triển, từ cho vay xây dựng nhà máy sản xuất thay thế nhập cảng, đến hạ tầng cơ sở vật chất như đường sá, cầu cống; rồi cho vay để xây trường học,  bệnh viện; sang giúp đỡ cải tiến cơ cấu tổ chức, đào tạo nhân sự.  Nói chung, LHQ và NHTG vẫn còn xem “viện trợ” là đòn bẩy đưa đến tiến bộ.  Người ta nghiệm ra rằng “viện trợ tư bản (vốn)” tỏ ra rất hữu hiệu với các quốc gia vốn đã có tiềm năng khoa học kỹ thuật –từ trước Thế Chiến — như các nước Châu Âu và Nhật Bản; và ít hoặc không hữu hiệu hơn đối với hầu hết những nước khác. Hơn nữa, gần đây nhất, hai nước đất rộng dân đông Hoa Lục và Ấn Độ đã tăng trưởng kinh tế rất nhanh, cho thấy họ không cần viện trợ tư bản của Tây phương.

Việc thay đổi định chế có thể giúp gì cho tăng trưởng kinh tế?  Đó là câu hỏi lâu nay được nhiều kinh tế gia của HĐKTXH đặt ra, nhất là với sự lớn mạnh của 2 nền kinh tế nói trên.  Hoa Lục ban đầu chỉ “mở các con đường làng” qua một ít cải tổ nông thôn, chỉ “mở cửa sổ” ra thế giới bên ngoài qua các khu kinh tế đặc biệt vùng duyên hải, và huy động mạnh mẽ tiết kiệm quốc nội vào công cuộc  đầu tư.  Nói chung, Hoa Lục chỉ từ từ mở cửa thị trường không thay đổi mấy về định chế và pháp luật.  Trong khi đó thì Ấn Độ, vốn đã là một nước dân chủ, quyết định sử dụng cải tổ rộng rãi luật pháp và định chế để đem lại tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế.  Hai khuynh hướng trái ngược này khiến không ít người nghi ngờ về tác dụng cải tổ định chế trước để chuẩn bị phát triển kinh tế. Hai khuynh hướng kinh tế Neo – Liberal Economics của thời kỳ Reagan – Thatcher, (đưa đến Washington Consenus) và Neo- Instututional Economics (đưa đến Beijing Consensus) làm cho người ta phân vân chưa biết dứt khoát chọn con đưòng nào.

Tuy nhiên có điều khá rõ là, trong trường kỳ, cải tổ định chế là điều không thể tránh được, để khỏi phải đổ vỡ, như trường hợp của nhiều nước Á Châu hồi đầu thập niên 1990, và có thể Hoa Lục trong những năm sắp tới.  Việt Nam Cộng Sản cũng đang và sẽ lâm vào hoàn cảnh khốn khó này.  Hiến Pháp 2013 có thêm vào đầu Điều 2

  1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Việc ghi vào Hiến pháp nguyên tắc “pháp quyền” (rule of law, trước 1975 gọi là “pháp trị”) chỉ nhằm hiện đại hóa cho đúng trào lưu trở lại của nguyên tắc pháp quyền mà các nước văn minh trên thế giới từ bao nhiêu thế kỷ nay hằng tôn trọng. Thật vậy, “rule of law” có nghĩa đen là “sự ngự trị của luật pháp”, tức luật pháp đứng trên hết; vua chúa, nhà nước, đảng phái, chức sắc cao cấp, nhân dân vv. ai ai cũng phải tuân theo; vì vậy nguyên tắc này còn gọi là “tính siêu việt của luật pháp” (the supremacy of law).  Qua lịch sử, “rule of law” được dùng để đối kháng với “rule of men”, tức sự cai trị của con người, với ý nghĩa là con người dù được coi là anh minh đến đâu đi nữa thì cũng có lúc không còn công chính khi vụ việc xảy ra có liên hệ đến mình hay người thân của mình. Ngày nay, luật pháp đề cập trong “rule of law” còn được gán thêm nhiều ý nghĩa, như không ai bị làm thiệt hại tổn thương nếu không được ghi trong luật pháp; luật phải phải được soạn thảo một cách dân chủ; luật pháp phải được phổ biến rộng rãi; không áp dụng hồi tố; phải áp dụng công bằng cho mọi người vv.  Còn “rule by law” có nghĩa là cai trị bằng luật pháp, kể cả luật pháp lỗi thời, bất công vv. do nhà nước độc tài hay độc đảng ban hành.  Ngày nay, mặc dù với sự có  mặt thường trực của LHQ ở Việt Nam, ai ai cũng thừa hiểu “rule of the Party” vẫn là nguyên tắc thống ngự, bàng bạc khắp nơi. Đó là nguyên nhân chính của các thảm hại kinh tế cũng như trật tự xã hội hiện nay. Chắc chắn là đức Khổng Tử sẽ không bao giờ dám bước xuống bệ thờ ở khuôn viên đại học Hà Nội để hạch hỏi vì sao không ai áp dụng nguyên tắc “đức trị” (dezhi, rule of virtue) của Ngài!

Sau cùng, xin mở một dấu ngoặc về viện trợ song phương.  Người viết muốn có đôi dòng về viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ (gọi tắt VTM) cho miền Nam trước đây — hy vọng sẽ có dịp đào sâu hơn trong một bài viết riêng biệt khác. Trước hết, đừng bao giờ vội vã lấy tổng số VTM theo các con số thống kê — với nhiều thành phần ôm đồm phức tạp như đã đề cập — rồi đem chia cho dân số, để đưa kết luận là mỗi gia đình người dân miền Nam được cho bạc triệu đô la trong 20 năm chiến tranh! Thêm nữa, VTM không “dễ ăn”, tức Mỹ trao đôla cho rồi chính phủ VNCH muốn làm gì thì làm theo ý mình, như nhiều người ngây thơ ngộ nhận.  Trái lại, VTM phải chịu rất nhiều cưỡng chế: chính sách ngoại giao; chủ trương và đường lối viện trợ của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ (chẳng hạn chủ yếu chỉ về kỹ thuật, như đã nói); luôn nằm dưới mắt cú vọ dò xét của Quốc Hội Mỹ, nhất là của các vị nghị sĩ dân biểu không đồng ý với lập trường của Hành Pháp Hoa Kỳ, hay không thích nhà cầm quyền VNCH.  Nó còn chịu sự chi phối mạnh mẽ của các viên chức Mỹ tại Saigon (buộc VNCH phải thay đổi hối suất có lợi cho sở hữu chủ của đô la khi vào VN, buộc VNCH không được giữ quá 300 triệu đôla khi miền Nam có dư thừa ngoại tệ nhờ sự có mặt đông đúc của quân đội và nhân viên dân sự, mà phải dùng đô la sở hữu của mình trong thời gian ngắn nhất để nhập cảng TV, tủ lạnh, xe gắn máy vv, những thứ mà chính dư luận Hoa Kỳ cũng coi là xa xỉ trong chiến tranh; còn dư thì phải gửi vào ngân khố Mỹ; chịu sự chi phối của luật lệ Hoa Kỳ (mua hàng Mỹ phải chở về bằng tàu Mỹ với giá gấp đôi, phải dùng VTM mua hàng của các nước do Mỹ chỉ định, trong đó có Đài Loan, Thái Lan, Đại Hàn, Phi Luật Tân vv.).  Đó là chưa kể đến sự tham nhũng của một số viên chức phụ trách viện trợ, ăn chia với các nhà cung cấp ngoại quốc. Cố Vấn Ngô Đình Nhu có lúc than thở: “Đối phó với Việt Cộng đã khó, mà đối phó với người Mỹ lại còn khó hơn.”  Giáo Sư Nguyễn Duy Xuân, Phụ Tá Đặc Biệt về Kinh Tế Tài Chánh, Phủ Tổng Thống khi được người viết này hỏi vì sao chính quyền Mỹ không cho VNCH giữ nhiều ngoại tệ, đã không ngần ngại trả lời: “Họ e khi có nhiều tiền, chúng ta có thể làm phản.” Cách nay đúng 500 năm, Machiavelli người Ý trong quyển “Ông Hoàng” (The Prince) đã dặn dò “người nhận viện trợ” : “Và ông hoàng đó, người chỉ trông cậy vào lời hứa của họ (những người đề nghị giúp đỡ), mà không có những chuẩn bị khác, sẽ bị diệt vong mà thôi; bởi vì thứ tình hữu nghị do mua mà có chứ không do lòng quãng đại, và sự cao cả tinh thần được mua chứ không được đảm bảo, và mua khi tuyệt đối cần thiết, sẽ không đem lại lợi ích gì cho bạn.”

Cũng khá may, những nguy hại của việc cho và nhận viện trợ song phương nói trên không phải là đa số trường hợp của viện trợ được đề cập ở Mục tiêu 8. Tuy nhiên, các các lợi lộc trời cho cũng như những món ngoại tệ dễ kiếm khác của nước nhận – nhưng khó kiếm từ phía người gửi đến — dễ sinh ra chứng bệnh Dutch Disease, nghĩa là nguồn tài nguyên “trời cho” này có thể đưa đến bất ổn về hối suất, đẩy giá sinh hoạt tăng cao, chuyển ngân lậu, “rửa tiền”, hoang phí, nhũng lạm vv.  Cái bệnh truyền nhiễm nguy hiểm này thấy rõ ràng đã và đang phát triển tại Việt Nam trong nhiều năm nay sau khi đổi mới kinh tế.

Thật ra, các viện trợ song phương lẫn đa phương đều có những ràng buộc, hoặc ít hoặc nhiều. Cái khó vẫn là làm sao sử dụng cho hiệu quả. HĐKTXH, cũng như các bộ phận khác chỉ có thể đưa ra những hướng dẫn tổng quát. Còn việc sử dụng viện trợ cho có hiệu quả và hiệu năng còn tùy thuộc phần lớn vào khả năng và đạo đức nghề nghiệp của các gíới chức cũng như của sự tham gia của dân chúng liên hệ của các nước nhận viện trợ.

Tài nguyên nhân lực, vật lực của LHQ vốn đã hạn chế, lại còn bị phân tán manh múng, cho nên một sự phối hợp hoạt động của các cơ quan liên hệ là điều tối cần thiết mới có hy vọng giúp đỡ hữu hiệu các nước đang phát triển.  Vì vậy mà giữa năm 2005, Tổng Thư Ký LHQ Kofi Annan (cùng LHQ được giải Nobel Hòa Bình 2012) đã triệu tập một nhóm chuyên viên cao cấp thuộc 32 tổ chức của LHQ nhằm nghiên cứu biện pháp thích hợp.  Kết quả là tháng 11 năm 2006, bản phúc trình “Delivering As One” ra đời, và bắt đầu thực hiện vào năm sau.  Theo đó, LHQ sẽ hành động với “Một Lãnh Đạo, Một Chương Trình, Một Ngân Sách, Một Trụ Sở” tại các nước nhận trợ giúp. Việt Nam tình nguyện là một trong 8 thí điểm đầu tiên. Số quốc gia trong dự án tăng dần theo thời gian: 5 vào năm 2007; 20 vào 2009; 40 vào 2010 và 52 vào năm 2015.

   Trong phúc trình “Millennium Development Goal 8: Tasking Stock of the Global Partnership for Development 2015 MDG Task Force Report”, Tổng Thư Ký LHQ cho biết viện trợ từ các quốc gia phát triển từ US$ 81 tỉ năm 2000 lên US$ 134 tỉ năm 2014, tuy tăng 66%, nhưng chỉ đạt 0.30% GNI — thấp hơn tỷ lệ 0.37% của thập niên trước — phần chính do cuộc khủng hoảng tài chánh hồi cuối thập niên vừa qua.  Ngoài các nước Đan Mạch, Lục Xâm Bảo, Na Uy, Thụy Điển vốn đã đạt chỉ tiêu 0.70% từ lâu, lần này chỉ có thêm Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan.

Về phương diện thực hiện các mục tiêu, theo phúc trình của LHQ The Millenium Developing Goals Report 2015, thì sau 15 năm, thế giới đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ trong thời gian 15 năm qua. Chẳng hạn, đối với Mục Tiêu 1, thì số người cực nghèo (dưới US $1.25/ngày đã giảm từ 1, 9 tỷ năm 2000 xuống còn 836 triệu năm 2015 (tại VN, tỷ lệ đó là 58.1% xuống còn 14.5%) Cùng thời gian đó, con số trung lưu ($4/ngày) đã tăng lên gấp 3 lần; con số người thiếu dinh dưỡng giảm xuống từ 23.3% dân số xuống còn 12.9% (tại VN, tỷ lệ đó từ 41% xuống còn 11,75%).  Đối với Mục Tiêu 2, số trẻ em tiểu học toàn cầu bỏ trường xuống từ 100 triệu xuống còn 57 triệu. Tại VN, càng lên cao thì tỷ lệ rơi rớt càng tăng một cách đáng ngại. Chẳng hạn ở cấp 1, tỷ lệ trẻ em nữ ghi danh là 91,5% và nam là 92.3%; lên cấp 2, tỷ lệ đó là 82% và 81%; nhưng đến cấp 3 thì tỷ lệ chỉ còn 63.1% và 53%. Đối với Mục Tiêu 6, số người mang bệnh sốt rét giảm 37%, số người chết vì bệnh này giảm 58%, tức đạt được chỉ tiêu cho 15 năm qua;, tuy nhiên nó vẫn còn là mối đe dọa, tức còn đến 3,3 tỷ người trên 97 quốc gia còn mang bệnh.  Đối với Mục Tiêu 7, nạn phá rừng làm ảnh hưởng xấu đến môi trường sống (nước, không khí trong lành, thay đổi khí hậu) tuy có chậm lại, nhưng vẫn còn trầm trọng, nhất là tại Á Châụ (mất 2,2 triệu hecta/năm từ năm 2000 đến 2010.  Khí thải carbon dioxite tăng 50% trong thời gian đó, nhất là tại các nước có nền kinh tế đang lên (như Trung Quốc, Ấn Độ) gây ảnh hưởng vô cùng tai hại, khiến LHQ phải triệu tập Hội Nghị UN Framework Convention on Climate Change Conference vào tháng 12/16 nhằm cùng nhau tìm ra giải pháp hạ giảm nhiệt độ trái đất…Trong Mục Tiêu 8, xuất cảng từ các nước phát triển được miễn thuế quan để vào các nước phát triển đã tăng lên 65%. Phúc trình còn cho biết 95% dân số thế giới đã được phủ sóng cho điện thoại di động trong lúc số người có điện thoại di động tăng lên 10 lần (7, 2 tỷ người); tỷ lệ sử dụng Internet tăng từ 6% dân số lên 43% (3, 2 tỷ người) .

Phúc trình cũng cho thấy còn nhiều lãnh vực cần phải cải tiến:  bất bình đẳng về giới tính, giữa giàu và nghèo, giữa nông thôn và thành thị; ô nhiễm môi sinh; suy giảm tài nguyên thiên nhiên, trữ lượng thực phẩm (nhất là hải sản).

Một vấn đề lớn quan trọng không kém các yếu tố vật chất kể trên.  Đó là vấn đề nhân quyền. LHQ tự hào đã đưa ra luật pháp căn bản để bảo đảm nhân quyền, từ Universal Declaration of Human Rights, đến International Covenant on Civil and Political Rights, đến International on Economic, Social and Cultural Rights, United Nations Conventions Against Tortures (mà VN ký hồi tháng 10/2014). Ngoài ra, LHQ không thiếu những bộ phận chuyên trách như: The Human Rights Council, The Commission on Human Rights, The Human Rights Committee, The Committee on Economic, Social and Cutural Rights, và Committee Against Torture vv; nhưng vẫn không thể nào bảo vệ được nhân quyền cho toàn cầu vì LHQ không được ban cấp đầy đủ quyền lực, ngoại trừ Tòa Hình Sự Quốc Tế (International Criminal Court, ICC) lâu lâu mới nhóm xử một vài tội phạm chiến tranh, diệt chủng. VNCS không những được bầu làm một thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền (Human Rights Council) sau khi ký công ước về tra tấn nói trên, mà còn có cả “một rừng luật”, nhưng tiếc thay, Hà Nội chỉ thích sử dụng “luật rừng” (chữ của luật gia thân Cộng Ngô Bá Thành), với đám “dư luận viên” thừa hành pháp luật.  Dân chúng gọi đó là “côn an”, tức côn đồ làm công an, hay công an giả danh côn đồ.

***

            Công bằng mà nói, kinh thế tế dân, cải tạo xã hội, tăng tiến nhân quyền là những nhiệm vụ mà nhà nước của mỗi quốc gia phải chủ yếu gánh vác đối với công dân của mình, LHQ chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi, nhất là đối với những quốc gia lúc nào cũng đề cao chủ quyền, cổ vũ tinh thần dân tộc, ca tụng tính độc đáo văn hóa của mình. Trong thời đại toàn cầu hiện nay qua ý thức liên lập và phương tiện thông tin, người ta lại càng đòi hỏi nhiều hơn ở LHQ về sứ mạng gìn giữ hòa bình, về hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội cùng nhân cao nhân quyền.  Đáp ứng của LHQ chỉ có thể đạt được trong chừng mực nào đó.  Điều này khiến một số người nổi giận, đòi hỏi giải tán tổ chức này, hay rút khỏi tổ chức hoặc không đóng góp phương tiện tài chánh cho nó hoạt động.  Có thể nói một cách không sai rằng nếu không có một tổ chức như LHQ thì trong 70 chục năm qua, sau mỗi lần khủng hoảng quân sự, chính trị, kinh tế, y tế vv., chắc chắn người ta cũng đã tìm cách thiết lập một tổ chức có chức năng tương tự như LHQ, hay tạo ra những cơ quan với chức năng như những cơ quan của LHQ hiện nay. Những thứ tân tạo này có thể  hoạt động hiệu năng và hiệu quả hơn hay không, thật khó mà đoán được. Chúng ta mơ ước LHQ sẽ đóng góp nhiều  hơn cho nhân loại.

Lê Văn Bỉnh

Virginia, tháng 11/2015

——————————–

Tài Liệu Tham Khảo

Bookmiller, Kirsten: The United Nations, New York, Chelsea House, 2008

Fasulo, Linda: An Insider’s Guide to the United Nations, 2nd ed., New Haven, Yale University Press, 2009

Hanhimaki, Jussi: The United Nations: A Very Short Introduction. 2nd ed., New York, Oxford University Press, 2015

International Monetary Fund: World Economic Outlook 2012: Coping with High Debt and Sluggish Growth, Washington DC, 2012

Rist, Gilbert: The History of Development: From Western Origins to Global Faith, 4th ed., New York, Zed Book, 2014

The World Bank: The MDGs after the Crisis, Washington DC, 2010

United Nations Department of Public Information: Basic Facts about the United Nations, Revised ed., New Yơrk. 2011

Wess, Thomas; Forsythe, David; Coate, Roger: & Pease, Kelly-Kate: The United Nations and Changing World Politics, 6th ed., Boulder, Westview Press, 2010

Visits: 589

Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt và Cuộc Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ Năm 2016

Đỗ Quang Tỏa

cong hoa hay dan chu newTrong những năm gần đây, Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt (CĐNV) đã bắt đầu chú ý rất nhiều đến tiến trình vận động chính trị tại Hoa Kỳ, nhất là những cuộc bầu cử Tổng Thống. CĐNV đã nhận thấy rằng sau 40 năm, chúng ta phải có tiếng nói trong chính trường Hoa Kỳ để đòi hỏi và bảo vệ quyền lợi của chính chúng ta. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài nhận định này, chúng tôi xin được chia ra làm hai phần. Phần một là quá trình tham gia vận động chính trị của CĐNV  trong những cuộc bầu cử Tổng Thống và phần hai là những đề nghị cho cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2016.

Tiến Trình Vận Động Chính Trị của Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt

Cho đến cuối thập niên 1980, người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ  mới bắt đầu vô quốc tịch và bắt đầu đi bỏ phiếu, nhất là tại các cuộc bầu cử Tổng Thống. Cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1980 và 1984, ứng cử viên Cộng Hoà Ronald Reagan đã đánh bại hai đối thủ đảng  Dân Chủ  là Carter (1980) và Walter Mondale (1984). Số người Việt đi bầu những năm 1984 và 1988 giữa ứng cử viên George Bush và Michael Dukakis (Dân Chủ) đã đa số bầu cho đảng Cộng Hòa vì cho là Đảng Cộng Hòa là chống Cộng và có một nền ngoại giao cứng rắn đối với các nước Cộng sản. Điển hình là vai trò của Tổng Thống Reagan đã đưa đến nền dân chủ ở Đông Âu và phá bỏ bức tường ngăn cách Đông và Tây Bá Linh.

Thập niên 1980 cũng cho thấy việc hình thành các tổ chức Người Việt với mục đích vận động chính trị tại Hoa Kỳ như Liên Đoàn Cử Tri người Mỹ gốc Việt, Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ (thành lập năm 1986) và một số tổ chức cộng đồng (TCCĐ) tại nhiều tiểu bang như Cộng Đồng Việt Nam tại vùng Washington D.C., MD & VA.  Tất cả các tổ chức này đều có mục đích khuyến khích người Mỹ gốc Việt ghi danh cử tri (voter registration) và đi bầu.  Dưới thời Tổng Thống George Bush (1988-1992) CĐNV vẫn tiếp tục ủng hộ Đảng Cộng Hoà và chỉ có một số ít ủng hộ Liên Danh Clinton-Gore trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1992.  Tuy nhiên những năm sau đó dưới thời Tổng Thống Clinton, chương trình HO đưa các cựu tù nhân chính trị và gia đình qua định cư tại Hoa Kỳ, bỏ cấm vận (1994) và bình thường hóa bang giao với Việt Nam (1995) đã gây ra sự chú ý rất nhiều của CĐNV trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1986 giữa ông Bill Clinton và Thượng Nghị Sĩ  Bob Dole.

Phải cho đến cuộc bầu cử năm 2000 giữa  ứng cử viên Al Gore và George W. Bush, chúng ta mới thấy có sự thay đổi trong suy luận chính trị của CĐNV. Thay vì chỉ bầu cho đảng Cộng Hòa vì chủ trương cứng rắn đối với các nước Cộng sản, CĐNV đã thấy cần phải suy xét thêm về các phúc lợi cho cộng đồng của mỗi đảng.  Thêm vào đó, nhiều tài liệu về chiến tranh Việt Nam cũng đã được tung ra cho thấy trên phương diện đối ngoại, nước Mỹ luôn luôn đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết.  Những lá thơ cam kết của Tổng Thống Richard Nixon gởi cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đều không có giá trị gì nữa khi Ngoại Trưởng Henry Kissinger đã thỏa hiệp  với Chu Ân Lai mở cửa  cho thương gia Mỹ vào thị trường Trung Cộng.  Ông Al Gore  đã thắng số phiếu phổ thông (Gore: 51,003,926 phiếu – Bush: 50,460,110 phiếu) nhưng đã thua số phiếu cử tri đoàn (Gore : 266 – Bush: 271).

Cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2004, CĐNV cũng đã không mạnh mẽ  ủng hộ ứng cử viên John Kerry vì cho là ông ta đã phản bội Việt Nam qua các hành động phản chiến của ông sau khi phục vụ tại Việt Nam.

Cuộc bầu cử năm 2008 lần đầu tiên đánh dấu sự chuyển hướng chính trị của CĐNV.  Tuy nhiên các cuộc nghiên cứu sau bầu cử (Exit Poll Survey) cho thấy  Cộng Đồng Người Mỹ gốc Á Châu đã bỏ phiếu cho Ông Barack Obama (76%), trong đó CĐNV có số phiếu thấp nhất cho Ông Obama.  Các cuộc nghiên cứu cho thấy đa số thành phần trẻ (thế hệ thứ hai) trong CĐNV đã bầu cho Ông Obama, trong khi đó số người Việt lớn tuổi thì bỏ cho Ông John McCain như một lá phiếu “biết ơn” thời gian ông đã bị Cộng sản cầm tù tại Việt Nam.  Cuộc bầu cử năm 2012 lần đầu tiên tất cả các cuộc nghiên cứu  cho thấy CĐNV đã bỏ phiếu nhiều hơn cho đảng Dân Chủ (61%) và lý do chính là những chương trình phúc lợi cho người có lợi tức thấp và người lớn tuổi.  Trong cuộc bầu cử Thống Đốc Tiểu Bang Virginia vào ngày 5 tháng 11, 2013, 71%  người Mỹ gốc Á Châu Thái Bình Dương đã bầu cho ứng cử viên Dân Chủ Terry McAuliffe, trong đó có 69% người Mỹ gốc Việt, 70% gốc Tàu và 83% gốc Ấn Độ.

Vài Nhận Xét và Đề Nghị về Bầu Cử Tổng Thống Năm 2016

Cộng Đồng Người Việt đã tiến những bước rất dài trong việc hội nhập vào dòng chính của chính trị Hoa Kỳ qua việc đi bỏ phiếu, đóng góp tài chính, qua các tổ chức khác nhau.  Tuy nhiên kết quả còn rất khiêm nhường.  Số người Mỹ gốc Việt được bổ nhiệm vào các chức vụ cao cấp trong chính quyền rất ít hoặc không có so với các cộng đồng Á Châu  khác.  Thỉnh nguyện thư cho Tòa  Bạch Ốc vào tháng 3, 2012 với trên 150 ngàn chữ ký, tuy gây tiếng vang trong CĐNV nhưng cũng đã không đưa đến một thay đổi quan trọng nào trong quan hệ Mỹ Việt, nhứt là không có sự cải thiện nào  về nhân quyền cho Việt Nam.

Nhận Xét 1: Tiền

CĐNV vẫn chưa có tổ chức để đóng góp một cách đáng kể  vào các vận động chính trị.  Hầu hết các cộng đồng gốc Á Châu đều có các Ủy Ban Vận Động Chính Trị hay còn gọi là  PAC (Political Action Committees) ở cấp liên bang (Federal PAC).  Các Ủy Ban này có quyền đi quyên góp tài chánh và sau đó sẽ ủng hộ các ứng cử viên nào ủng hộ đường lối  và chủ trương của họ. Năm 2012, CĐNV có một Federal PAC  gọi là Ủy Ban Vận Động Chính Trị cho Nhân Quyền cho Việt Nam (Human Rights For Viet Nam PAC) do luật sư Nguyễn Đỗ Phú tại Orange County thành lập. Theo báo cáo nộp cho cơ quan Bầu Cử Liên Bang, trong năm 2012, Human Rights For Viet Nam PAC thu được $110,720.00 và đã chi ra $26,683.00.  Tiền còn lại là $91,201.00 tính đến ngày 30 tháng 6, 2013.  Ủy ban Vận Động cho Obama của người Mỹ gốc Việt – Vietnamese Americans for Obama (VAFO) đã gây quỹ được hơn $200,000.00 trong cuộc bầu cử năm 2012.  Tuy nhiên so với quỹ tranh cử lên đến 1 tỉ đô la, những số tiền này quá nhỏ để gây sự quan tâm của ứng cử viên.  Trong khi đó , CĐNV có hơn 200.000 người làm thương mại và đã đóng góp hàng năm 28 tỉ đô vào nền kinh tế  Hoa Kỳ (Thống kê của Nha Thống kê 2007), số tiền CĐNV gởi về Việt Nam hàng năm cũng cả tỉ đô la, nhưng việc đóng góp cho các cuộc vận động chính trị còn rất thấp vì nhiều lý do, đứng đầu là sự thiếu tín nhiệm vào các tổ chức vận động chính trị, cũng như ý tưởng là các cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ không có ảnh hưởng trực tiếp (dù có lợi hay hại) đến cá nhân hay gia đình.  Do đó, vấn đề thiết lập các PAC (cho cả hai đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa) với những mục tiêu trong sáng, thành phần lãnh đạo trẻ trung và mở rộng là điều cần thiết để gây quỹ trong CĐNV.

Multilingualballots

Nhận Định 2: Lá Phiếu

Thống kê dân số năm 2010 ước định dân số người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ là 1,548,449 người, đứng thứ ba của người Mỹ gốc Á ( Trung Hoa 3,347,229 người, Ấn Độ: 2,843,291 và Phi Luật Tân: 2,555,923).  Người Mỹ gốc Việt ở đông nhứt tại 10 tiểu bang: Cali (581,000), Texas (210,000), Washington (67,000), Florida (58,000), Virginia (54,000), Georgia (45,000), Massachusetts (43,000), Pennsylvania (39,000), New York (29,0000) và Louisiana (28,000). Trong cộng đồng người Mỹ gốc Á thì có khoảng 48% ghi tên đi bầu  và từ 55% đến 71% cử tri đi bầu nhất là các cuộc bầu cử Tổng Thống. Do đó, với khoảng 300,000 đến 350,000 cử tri ở rải rác  trong 10 tiểu bang, CĐNV không đủ  số phiếu để làm thay đổi kết quả  bầu cử Tổng Thống. Tuy nhiên, qua cuộc bầu cử năm 2000 (tiểu bang Florida đã là yếu tố quyết định thắng bại giữa Gore và Bush) và cuộc bầu cử năm 2008 (một số tiểu bang quyết định như Virginia và Florida), chúng ta phải biết cách vận động các tiểu bang “xôi đậu” (swing states) và dồn nổ lực cũng như tài chánh vào những tiểu bang đó. Một điểm quan trọng nữa là CĐNV phải tham gia thiệt sớm, ví dụ ngay từ bây giờ, cho cuộc bầu cử năm 2016.  Bước đầu tiên là sửa soạn tham gia vào các cuộc bầu sơ bộ (Primary) nhất là các cử tri gốc Việt sinh sống tại tiểu bang Iowa hay New Hamshire, nơi đã đưa ra các ứng cử viên Tổng Thống cho cả hai Đảng.  Số người tham dự các cuộc bầu cử sơ bộ thường rất nhỏ, nếu tham gia đông đảo vào các cuộc bầu sơ bộ, do đó dù có số ít cử tri, CĐNV vẫn có thể gây được nhiều sự chú ý.

Nhận Xét 3: Tổ Chức

Các ủy ban vận động của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa  chỉ chú ý đến các tổ chức có tính cách toàn quốc (National Organizations), do đó tập thể CĐNV phải có những tổ chức toàn quốc để làm việc vận động cử tri và gây quỹ mới có thể gây chú ý, tiếng vang và hy vọng các Ủy ban Vận Động của cả hai đảng sẽ chú ý đến.  Để đo lường mức độ thành công của các tổ chức CĐNV này, chúng ta có thể coi cả hai đảng có bỏ tiền vào quỹ vận động truyền thông của CĐNV hay không ? Quảng cáo bằng tiếng Tây Ban Nha đã trở thành một điều kiện quan trọng trong tiến trình vận động của cả hai đảng. Một điều quan trọng nữa là  những tổ chức CĐNV vận động chính trị phải có các  thành phần trẻ tuổi tham dự và nắm vai trò trọng yếu. Thành phần trẻ (25-50 tuổi)  thường có ba yếu tố quan trọng để thành công: (1) địa vị xã hội và khả năng tài chính, (2) các liên hệ cá nhân với các đoàn thể khác qua trường học, việc làm hay các tổ chức xã hội khác (social media network) và (3) khả năng sinh ngữ để có thể truyền đạt mục đích qua các giới truyền thông hay chính quyền Hoa Kỳ.  Cả hai tổ chức VAFO và Human Rights For Vietnam PAC đều có thành phần trẻ này trong Hội Đồng Quản Trị .

Nhận Xét 4: Mục Đích

Có phiếu, có tiền và có tổ chức, chúng ta cần phải có một hay nhiều mục đích rõ rệt là chúng ta đòi hỏi điều gì? Sự đòi hỏi này có thiết thực và khả thi không? Và đây có phải là sự đòi hỏi của đa số tập thể CĐNV hay không? Thiếu một mục đích chung hay một mục đích được đa số chấp nhận sẽ lại dẫn đến sự chia rẽ, lủng củng nôi bộ và thất bại trong việc gây quỹ.  Thêm vào đó, khi đã có mục đích, chúng ta phải biết cách đưa những thông tin này vào đúng chổ, thuyết phục đúng người và đúng lúc.

Có được như vậy, công cuộc vận động chính trị của CĐNV tại Hoa Kỳ  sẽ sớm được thành công.  Năm 2016 sẽ là một năm  của thế hệ thứ hai trong CĐNV và họ sẽ nắm một vai trò quan trọng trong cuộc vận động bầu cử Tổng Thống năm 2016.

Phụ lục: Hỏi – Đáp về Bầu Cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2016

Hỏi: Tôi nghe nói người dân Hoa Kỳ KHÔNG trực tiếp bỏ phiếu bầu cho Tổng Thống và Phó Tổng Thống. Có đúng không?

Đáp: Đúng, vì  Tổng Thống và Phó Tổng Thống được bầu chọn bởi một Cử Tri Đoàn (Electoral College). Số cử tri đoàn và sự lựa chọn do luật lệ của mỗi tiểu bang quy định. Số cử tri đoàn trong mỗi tiểu bang sẽ bằng số đại diện dân cử (Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ).

Ví dụ, tiểu bang Virginia có 11 Dân Biểu Quốc Hội và 2 Thượng Nghị Sĩ Liên Bang, tổng cộng là 13 người. Do đó, số cử tri đoàn của Virginia sẽ là 13 người. Tổng số Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ là 435 người, 100 Thượng Nghị Sĩ và Thủ Đô Washington, D.C. được quy định có 3 cử tri đoàn (dù là không có Dân Biểu Quốc Hội hay Thượng Nghị Sĩ nào). Do đó, tổng số cử tri đoàn trên toàn quốc sẽ là 538 người. Muốn trở thành Tổng Thống Hoa Kỳ, ứng cử viên phải có ít nhất là 270 cử tri đoàn. Con số 270 này được gọi là “magic number”.

2016-Projections-7001

Hỏi: Vậy cử tri đoàn có phải là “người” thực sự không hay chỉ là một con số điển hình? Tại sao tôi không thấy tên của cử tri đoàn trên lá phiếu lúc tôi đi bầu?

Đáp: Cử tri (electors) trong Cử Tri Đoàn (Electoral College) là người thực sự. Họ thường được đề cử lên trong các đại hội Đảng ở cấp tiểu bang và sau đó do các vị lãnh đạo của các đảng có ứng cử viên ra tranh cử sẽ đề bạt lên Ủy Ban Bầu Cử Tiểu Bang (State Board of Election). Số cử tri (electors) được đề cử sẽ bằng số cử tri đoàn do luật tiểu bang ấn định. Xin xem thêm về phần lựa chọn cử tri đoàn vì rất phức tạp và tùy theo luật của mỗi tiểu bang.

Hỏi: Như vậy lá phiếu của tôi khi đi bầu Tổng Thống có giá trị gì không?

Đáp: Rất có giá trị vì số cử tri đoàn bầu cho một ứng cử viên nào sẽ tùy thuộc vào số phiếu bầu cho ứng cử viên đó trong tiểu bang. Đây là quy luật “Winner Takes All” hay “ Được Ăn Cả, Ngã Về Không”.

Ví dụ, ứng cử viên Obama đã thắng số phiếu bầu ở Tiểu Bang Virginia năm 2012, do đó toàn bộ 13 cử tri đoàn (electors) của Tiểu Bang Virginia đều về tay Obama. Nên nhớ dù chỉ thắng có 1 phiếu, ứng cử viên cũng sẽ lấy hết số cử tri đoàn (ngoại  trừ trường hợp hai tiểu bang Maine và Nebraska là cho phép phân chia số cử tri đoàn theo số phiếu phổ thông). Do đó trên thực tế, chúng ta có thể coi là chúng ta được trực tiếp chọn lựa Tổng Thống và Phó Tổng Thống.

Hỏi: Nếu cử tri đoàn quyết định chính thức ai sẽ là Tổng Thống và Phó Tổng Thống, tại sao ngay sau khi bầu cử, họ đã tuyên bố ai đắc cử mà không chờ cử tri đoàn tuyên bố?

Đáp: Như đã nói ở trên, ai thắng số phiếu qua cuộc phổ thông đầu phiếu sẽ thắng tất cả cử tri đoàn của tiểu bang đó. Do đó sau khi số phiếu đã kiểm xong, ứng cử viên có thể tiên đoán là mình đắc cử dựa trên số phiếu tiểu bang. Ngoại trừ trường hợp năm 2000, giữa ứng cử viên Al Gore và George Bush. Ứng cử viên Gore đã thắng hơn 500 ngàn phiếu trên toàn quốc, nhưng lại thua số cử tri đoàn  (Gore 267 electors – Bush 271) sau khi thua Florida nên G. Bush đã trở thành Tổng Thống.

Cử tri đoàn thường sẽ họp vào tuần lễ thứ nhất của tháng 1 sau ngày bầu cử vào tháng 11 năm trước. Dựa vào số phiếu trong tiểu bang, ứng cử viên nào nhiều phiếu nhất sẽ được toàn thể cử tri đoàn dồn phiếu cho (trừ Maine và Nebraska). Sau khi kết quả cuộc bầu phiếu của cử tri đoàn được chứng nhận với tất cả chữ ký của cử tri đoàn, bản chính sẽ được Thống Đốc tiểu bang ký tên và chuyển cho Chủ Tịch Thượng Viện Hoa Kỳ. Vị Chủ Tịch Thượng Viện Hoa Kỳ sau đó sẽ triệu tập một phiên họp khoáng đại lưỡng viện để chứng nhận kết quả bầu cử. Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện sẽ là người nhận lời tuyên thệ của vị Tân Tổng Thống, năm nay sẽ vào ngày 27 tháng 1 năm 2017. Do đó, thủ tục bỏ phiếu của cử tri đoàn để lựa chọn Tổng Thống và Phó Tổng Thống thực ra cũng chỉ là hình thức thôi vì kết quả thực sự là dựa trên cuộc phổ thông đầu phiếu.

Hỏi: Năm 2016 tôi thấy Đảng Dân Chủ có 3 ứng cử viên và Đảng Cộng Hòa có hơn 10 người, vậy ai sẽ là ứng cử viên chính thức, dựa vào đâu và khi nào chúng ta sẽ biết?

Đáp: Sau cuộc bầu cử sơ khởi (primary election) tại các tiểu bang Iowa, New Hamsphire, South Carolina vào đầu tháng 2 và các tiểu bang khác sau đó (Virginia sẽ vào tháng 3), chúng ta sẽ có một ý niệm ai sẽ được Đảng Dân Chủ hoặc Cộng Hòa đề cử.

Thông thường muốn trở thành ứng cử viên (nominee) của đảng, các ứng cử viên (candidate) phải thắng trong số mấy tiểu bang bầu thử trước này, vì dựa trên kết quả của các cuộc bầu cử sơ khởi ở các tiểu bang này, số người ủng hộ tiền sẽ tăng thêm. Tuy nhiên, cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa sẽ có các cuộc họp (convention) ở cấp tiểu bang để lựa chọn đại biểu (delegate) và các đại biểu này sẽ lựa chọn ứng cử viên chính thức của Đảng tại đại hội đảng toàn quốc.

Năm nay Đại Hội Đảng Cộng Hòa sẽ họp vào trung tuần tháng 7 tại Cleveland, Ohio và Đảng Dân Chủ vào cuối tháng 7 tại Philadelphia, Pennsylvania. Thông thường vào khoảng tháng 6 của năm bầu cử, ai là ứng cử viên sẽ được biết trước ngày đại hội đảng cấp tiểu bang để ứng cử viên này có thì giờ đi vận động. Ví dụ, năm 2008, trước đại hội đảng Dân Chủ ở tiểu bang Virginia, có hai ứng cử viên là Bà Hillary Clinton và Ông Barack Obama. Trước đại hội Đảng Dân Chủ tại tiểu bang Virginia vào tháng 6, 2008, tất cả các đại diện của Bà Hillary đã “được yêu cầu” chuyển qua cho Ông Obama. Do đó, tại Đại Hội Đảng Dân Chủ, ứng cử viên Obama đã được toàn thể đại biểu bầu lên để có sự thống nhất trong đảng.  Năm nay, Bà Hillary có chiều hướng sẽ được đề cử. Ngược lại Đảng Cộng Hòa có thể sẽ không biết được ai là ứng cử viên, cho đến ngày Đại hội Đảng Cộng Hòa tại Cleveland. Lúc đó, các đại biểu mới tham dự cuộc bỏ phiếu và người nào nhiều phiếu nhất sẽ là ứng cử viên Đảng Cộng Hòa. Sự lo ngại của Đảng Cộng Hòa là nếu ứng cử viên của Đảng được lựa chọn quá trễ, số tài nguyên và thì giờ đã bỏ phí vào chuyện nội bộ và có thể có sự chia rẽ nên khó thắng ở cuộc phổ thông đầu phiếu vào tháng 11. Do đó, hy vọng chúng ta sẽ biết ai là ứng cử viên Dân Chủ hay Cộng Hòa vào tháng 6  năm 2016.

Hỏi: Tôi nghe nói có tiểu bang được coi là sẽ nghiêng hẵn về một đảng Dân Chủ hay Cộng Hòa, và có một số tiểu bang có thể bầu cho đảng này hay đảng kia tùy theo ứng cử viên và những tiểu bang này được gọi là “swing states” có đúng không?

Đáp: Đúng như vậy. Danh từ “swing states” để chỉ những tiểu bang có thể bầu cho đảng này hoặc đảng kia và chữ này được các vận động viên hay các chiến lược gia của đảng phái chính trị  xử dụng để họ có thể biết nên tập trung công cuộc vận động bầu cử vào tiểu bang nào.

Cuộc bầu cử Tổng Thống năm 2012 cho thấy các tiểu bang Florida, Virginia, Ohio, Pennsylvania, Colorado Nevada được coi như “swing states”, do đó rất nhiều sự đầu tư đã được dồn vào những tiểu bang này. Đây cũng là một điểm quan trọng CĐNV cần để ý đến vì chúng ta có nhiều phiếu nhất ở hai tiểu bang: California và Texas nhưng hai tiểu bang này được coi là “one-party state” nghĩa là California sẽ bầu cho ứng cử viên Đảng Dân Chủ và Texas thì bầu cho ứng cử viên Đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử năm 2016. Do đó,  số phiếu vài trăm ngàn của chúng ta ít được chú ý đến. Ngược lại, nếu CĐNV biết cách vận động, với số phiếu chỉ là hai ba ngàn nhưng ở tiểu bang “swing states” như Florida, Virginia, Ohio, Pennsylvania và Colorado thì rất là quan trọng. Chúng ta sẽ có nhiều cơ hội đòi hỏi các ứng cử viên Tổng Thống phải chú ý đến các yêu cầu của chúng ta.

toi da bo phieu

Kết luận: Chúng ta phải ghi danh đi bầu (registration), đi bầu (vote) và chọn lựa những ứng cử viên xứng đáng đại diện cho quyền lợi của chúng ta tại Hoa Kỳ.

Đỗ Quang Tỏa

Virginia, January 2016

Visits: 568

Khát Vọng Của Con Người Thời Đại: Người Làm Đầu Phải Hầu Thiên Hạ

Nguyên Ty

Lãnh đạo là vấn đề rất cũ và cũng rất mới. Cũ, vì ngay từ thuở con người có mặt trên trái đất có nhu cầu kết hợp vì bất cứ lý do nào, dù ở một đơn vị thật nhỏ chỉ gồm hai ba người thì lãnh đạo xuất hiện. Mới, vì ở mỗi thời đại luôn luôn có nhu cầu đi tìm một đường hướng lãnh đạo hữu hiệu phù hợp với nhân tính, khát vọng và sự hiểu biết của con người thời đại đó.

Qua dòng lịch sử, tựu trung có ba phương cách lãnh đạo: độc tài, buông thả, và dân chủ. Dưới các chế độ độc tài, quyền hành tập trung cao độ; con người bị tha hóa, người dân phải tuyệt đối vâng phục, chấp hành mệnh lệnh, không có quyền tự do lựa chọn.  Ở các quốc gia Tây Phương với thể chế dân chủ tự do, phương thức lãnh đạo dân chủ là nền tảng của mọi sinh hoạt xã hội.

Hiện nay, ngay ở các quốc gia dân chủ tự do thật sự, đặc biệt ở Hoa Kỳ, người ta vẫn thấy có sự khủng hoảng lãnh đạo. Những định chế, tổ chức lớn như chính quyền, doanh nghiệp, nghiệp đoàn, tôn giáo, các trường đại học… vẫn chưa làm tròn chức năng phục vụ thành viên của mình. Phương cách lãnh đạo trong những tổ chức này vẫn còn chú trọng nhiều đến quyền hành, và trong nhiều trường hợp đưa đến sự lạm quyền, chỉ nhằm phục vụ danh tiếng cá nhân hay quyền lợi của một thiểu số. Sự thờ ơ của quần chúng đối với những lời kêu gọi của chánh quyền, tổ chức nghiệp đoàn, tôn giáo đối với các chương trình cải tiến dân sinh,  sự trống vắng các buổi lễ ở nhà thờ trong các ngày Chúa Nhật… phải chăng đã nói lên sự thất bại lãnh đạo nơi các tổ chức này?

Hơn bốn thập niên qua, một cuộc cách mạng về phương thức lãnh đạo diễn ra ở Hoa Kỳ, khởi từ năm 1970 với ý tưởng “lãnh đạo phục vụ” (servant-leadership).

Greenleaf newRobert K. Greenleaf (1904-1990), cha đẻ của cuộc cách mạng này, lần đầu tiên dùng từ “servant-leadership” trong bài viết The Servant as Leader, sau này được khai triển thành sách. Ý tưởng này, theo Greenleaf, khởi nguồn từ cuốn tiểu thuyết ông đọc được của Hermann Hesse, Journey to the East. Cuốn tiểu thuyết giả tưởng kể lại cụộc hành trình kỳ bí của một đoàn người.  Leo, nhân vật chánh của câu chuyện, đi theo đoàn với tư cách một người phục vụ (servant), nhưng đồng thời cũng chính anh gây hứng khởi cho cả đoàn bằng tinh thần lạc quan với lời ca giọng hát.  Sự hiện diện của anh Leo trong đoàn thật khác thường. Mọi việc đều tốt đẹp cho đến khi Leo biến mất. Sau đó, đoàn người phân tán, bỏ cuộc, và cuộc hành trình trở nên dang dở. Người trưởng đoàn sau nhiều năm đi đây đó đã tìm gặp lại Leo và được anh đưa về viếng Hội Kín (“the League”) đã bảo trợ cho cuộc hành trình khi trước. Chính nơi đây, ông mới khám phá ra rằng Leo, người mà trước đây ông nghĩ chỉ là người phục vụ trung thành, chính thật là người đứng đầu của hội, linh hồn hướng dẫn, là người lãnh đạo tài ba, phong cách của tổ chức.

Từ đó, Greenleaf kết luận ý nghĩa cốt yếu của câu chuyện là người lãnh đạo lỗi lạc thoạt đầu được nhìn như người phục vụ kẻ khác và sự kiện đơn giản này chính là chìa khóa mang lại thành công. Người lãnh đạo phục vụ (servant-leader) là người phục vụ trưc nht.

(phương thức lãnh đạo phục vụ) khởi đầu bằng cảm nghĩ tự nhiên, người muốn phục vụ thực hành điều này trước. Sau đó, ý thức lựa chọn đưa dần người đó tới vai trò lãnh đạo. Điều này khác hẳn với trường hợp một người bắt đầu bằng vai trò lãnh đạo trước, có lẽ chỉ nhằm để thỏa mãn nhu cầu quyền bính hay thụ đắc của cải vật chất.“ (The Servant as Leader.)

Từ lúc được Robert Greenleaf khai sinh, phương thức lãnh đạo bằng phục vụ được xem như một mô hình lãnh đạo mẫu mực cho thế kỷ 21. Nó gây hứng khởi cho nhiều học giả, giáo sư đại học, chuyên viên nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp cũng như hành chánh công quyền. Hàng trăm quyển sách, luận văn, bài viết, tài liệu nghiên cứu được xuất bản. Nhiều trường đại học cấp chứng chỉ hay văn bằng chuyên về “lãnh đạo phục vụ.” Viện đại học công giáo St. Thomas ở St. Paul, MN có cả học trình Cao Hoc (Master’s degree) về chuyên ngành này. Nhiều công ty lớn trong danh sách “The 100 Best Companies To Work For” do tạp chí Fortune xuất bản hàng năm đã hội nhập phương cách lãnh đạo phục vụ vào nền văn hóa của công ty.

Điều thật ngạc nhiên là phải chờ đến gần cuối thế kỷ 20 đường lối lãnh đạo phục vụ mới được ghi nhận là đáp số cho các vấn đề xã hội, tôn giáo, kinh tế, chính trị… của thời đại. Gần 2000 năm trước, Đức Kitô đã dạy các môn đệ theo Người phương thức lãnh đạo này:  Ai làm lớn phải phục vụ!

Ai muốn làm lớn giữa anh em phải làm người phục vụ anh em.

Và ai muốn làm đầu anh em phải làm đầy tớ anh em.

Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ,

nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn dân.

Mt 20:26-28; Mc 9:35; Lc 9:48; Lc 14:11

Chẳng những là Thầy dạy, Đức Kitô còn là người thực hành những gì Người dạy các môn đệ. Các môn đệ thật ái ngại khi thấy Đức Kitô cởi áo ngoài, lấy khăn, đổ nước vào chậu rửa chân cho từng người và lau khô:

Nếu Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em

thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau.

Thầy đã nêu gương cho anh em

để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em.

Yn 13:14-15

Vậy, trước nhất và hơn ai hết, giáo hội của Đức Kitô phải là tổ chức tiên phong trong việc ứng dụng đường lối lãnh đạo phục vụ này.

Nhưng thực tế lại khác hẳn. Từ khi được hoàng đế La Mã Constantine công nhận là quốc giáo năm 325 và ban cho một số đặc quyền, nói chung, giáo hội mất dần tính cách phục vụ, và trở nên một tổ chức quyền hành. Nhìn những Vương cung Thánh Đường, đền thờ lộng lẫy được xây cất hiến dâng cho Thiên Chúa hay những nghi thức lễ lạc, sinh hoạt tốn kém, người tín hữu Kitô không thể không tự hỏi: cho Thiên Chúa hay cho con người? Chúa đến thế gian để phục vụ, không phải để được phục vụ. Vậy câu trả lời là… cho con người và vì con người! Nhưng “con người” có phải là bất cứ ai hay quảng đại tín hữu thuộc về giáo hội hay không? Danh Chúa hay tiếng ta?

Điều trùng hợp lạ lùng, ngẫu nhiên hay do bàn tay Quan Phòng mầu nhiệm, là trong khi phương thức lãnh đạo phục vụ hiện nay được nghiên cứu, bàn thảo, giảng dạy, và áp dụng ngoài đời trong lãnh vực quản trị ở các công ty lớn, các trường đại học, thì cũng có một số giáo sĩ lên tiếng cổ súy cho đường lối lãnh đạo này trong các giáo hội ở Hoa Kỳ, tuy ở phạm vi nhỏ hẹp hơn. Sự song hành kỳ diệu này phải chăng là khát vọng của con người thời đại hôm nay đối với phương thức lãnh đạo mới trong mọi lãnh vực hoạt động đời cũng như đạo, lãnh đạo vì người, không phải vì mình, lãnh đạo để phục vụ, không phải để được phục vụ?

Trong quyển “In the Name of Jesus: Reflections on Christian Leadership”, (1989), linh mục Henri J.M. Nouwen (1932-1996) thẳng thắn nhìn vào trọng tâm phương cách lãnh đạo của giáo hội công giáo hiện nay. Theo nhận xét của Nouwen, những người theo Đức Kitô thường bị quyến rủ bởi quyền tước và áp dụng đường lối lãnh đạo không giống Chúa:

“Tưởng mình là Chúa dễ dàng hơn yêu mến Chúa; kiểm soát tha nhân dễ dàng hơn yêu mến tha nhân; làm chủ đời sống dễ dàng hơn yêu quí đời sống…”

  “Nhiều người ở vai trò lãnh đạo không biết cách phát triển những liên hệ thân thiết và lành mạnh nên phải dùng đến quyền bính và kiểm soát. Nhiều người xây dựng Nước Chúa nhưng không có khả năng cho đi và nhận lãnh tình yêu…”

Linh mục mời gọi những người lãnh đạo Kitô hữu, gồm cả chính bản thân mình, hãy chống lại những cơn cám dỗ, lối sống khoa trương, nổi tiếng, quyền hành, và trở về với căn bản đường lối lãnh đạo phục vụ của Đức Kitô 2000 năm trước. Là môn đệ hèn mọn theo bước chân Đức Kitô, linh mục Nouwen nhìn sự lãnh đạo từ góc cạnh thần thiêng, không phải để sử dụng quyền hành mà để gần Chúa hơn. Thầy Kitô vốn thân phận Thiên Chúa, xuống thế gian làm người để phục vụ và hiến dâng mạng sống để cứu chuộc tội lỗi con người, lãnh đạo bằng lối đi xuống, thì trò Nouwen đi con đường cũng gần giống như vậy.

Năm 1983, đang là giáo sư thần học nổi tiếng ở Harward, Nouwen đi thăm cộng đồng L’Arche ở Trosly, Pháp, nơi dành chăm sóc người khuyết tật và bịnh tâm thần. Sau chuyến đi này, ông cảm thấy bị thôi thúc bởi “hướng đi xuống” (downward mobility) để sống với người nghèo khó, bất hạnh thay vì “hướng đi lên” (upward mobility) trong thế giới khoa bảng đại học. Lần đầu tiên, Nouwen cảm thấy đây mới là ơn gọi đích thực của mình từ sau ngày thụ phong linh mục.

henri nouwel new

Là một giáo sư được nhiều viện đại học danh tiếng mời đón, tác giả hơn 40 quyển sách, nhiều quyển thuộc loại “best seller,” linh mục Henri Nouwen, sau 20 năm làm giáo sư ở Notre Dame, Yale, Harward quyết định từ bỏ thế giới đại học khoa bảng, đi coi giúp mục vụ những người bịnh tâm thần ở cộng đồng L’Arche Daybreak, ở Toronto, Canada năm 1986 và ở lại đây đến khi mất, năm 1996. Sống giữa những người không biết linh mục là ai, chưa từng nghe tiếng hay đọc sách do linh mục viết, Nouwen học hỏi rất nhiều nơi họ. Qua các bịnh nhân này Nouwen khám phá ra cái tôi đích thực của mình, của một linh mục của Đức Kitô: phục vụ. Điều quan trọng đối với các bịnh nhân nơi đây không phải là những quyển sách nổi tiếng, những bài giảng văn hoa, sâu sắc mà chính là tình yêu: linh mục có thương mến họ không, và “tối nay có mặt ở với họ không.” Họ chính là thầy dạy của Nouwen và linh mục có trách nhiệm truyền đạt những thông điệp của họ đến người tín hữu Kitô. Nouwen đã đi con đường ngược chiu, t giảng dạy đến học hỏi, t dn dt đến được dn dt, t ni danh đến vô danh…

Con có yêu mến Thầy không?” Nouwen tin rằng Đức Kitô khi hỏi Phêrô ba lần là muốn nói lên tầm quan trọng của sự sẵn sàng, ý chí quyết tâm, và khả năng ở cùng Người, muốn hành động giống Người, trước khi giao trách nhiệm  “Hãy chăn chiên của Thầy.” Chúa biết đây là một trách nhiệm nặng nề, chỉ những người có một tấm lòng yêu thương tha nhân thật sự và quyết tâm mới có thể đảm nhận.

Nouwen mời gọi hàng giáo sĩ hãy chấp nhận tình trạng sống như người bị thương tổn, mình trần, trắng tay, không quyền hành để phục vụ thay vì lãnh đạo! Và chỉ bằng tình yêu thương, chân thành phục vụ, người có trách nhiệm mới thật sự chuyển hóa, cải thiện môi trường, làm cho đời sống trở nên tốt lành, thánh thiện hơn. Điều này không những có thể thực hiện được mà còn đáng mong ước, không chỉ hữu ích mà còn cần thiết cho giáo hội. Mẹ Têrêsa Calcutta đã thực hành điều này.

Số kiếp con người, ngoài những sinh, bịnh, lão, tử gắn liền, còn có những thương tổn không ai tránh khỏi do cuộc đời dâu bể mang lại — thất bại, chia tay, bất công xã hội, bị ruồng bỏ, khước từ, áp bức… — mà chỉ có tình yêu chân thành mới hàn gắn, chữa lành được.  Chính những thương tổn này đã làm tan vỡ tinh thần và tâm thần khiến cá nhân mất hết niềm tin cậy nơi người khác. Một trong những sức mạnh to lớn của phương thức lãnh đạo phục vụ là khả năng chữa lành thương tích tinh thần của cá nhân cũng như hàn gắn lại liên hệ tin yêu với người khác, cho người phục vụ cũng như người được phục vụ. Người lãnh đạo không có ưu tiên riêng của cá nhân mà chỉ có ưu tiên của tập thể hay của người cần được phục vụ nhất.  Do đó, không có việc đi tìm sự sáng giá, nổi bậc, danh tiếng, khoa trương, đánh bóng cá nhân mà chỉ là sự cống hiến chính con người mỏng dòn đã bị thương tổn của mình cho tập thể.

Vấn đề thường được nêu lên và có lẽ là vấn nạn quan trọng nhất cho đường lối lãnh đạo phục vụ. Liệu những người được phục vụ có lớn lên, phát triển như con người bình thường?  Trong khi được phục vụ, họ có trở nên lành mạnh, khôn ngoan hơn, tự do, tự chủ hơn, và chính họ muốn trở thành người phục vụ?

Robert Greenleaf, trong quyển sách quan trọng nhất của ông, “Servant Leadership” (1977), đã trả lời cho câu hỏi này: Nhu cầu của người theo (followers) có tính cách thánh thiêng và sự sử dụng hợp pháp của quyền hành khởi xuất từ sự ưng thuận của người theo. Như Đức Kitô đã dạy gần 2000 năm trước, “Ngày Sabbath được lập ra cho con người, không phải con người được tạo nên cho ngày Sabbath” (Mc 2:27), Greenleaf xác định, tin tưởng rằng tổ chức phải phục vụ con người; không phải con người phục vụ tổ chức.

quote lanh dao phucvu

Đường lối lãnh đạo độc đoán, quyền hành đã gây nhiều thảm họa cho nhân loại, đi ngược với bản tính con người khi được Thượng Đế tạo dựng nên: có lý trí để suy nghĩ, rồi lựa chọn tự do. Phương thức lãnh đạo dân chủ tuy vượt xa đường lối độc tài trong việc mang lại nhiều phúc lợi cho con người, vẫn chưa phải là phương thức lý tưởng. Luật chơi dân chủ là đa số thắng thiểu số, do đó, có một thiểu số bị lãng quên, thường khi lại là một thiểu số rất lớn không xa cách đa số bao nhiêu; và vẫn có trường hợp đa số nhưng không đúng, chỉ nhờ biết lèo lái, áp lực, rành “luật chơi” mà thắng. Lãnh đạo phục vụ, trái lại, không loại bỏ bất cứ ai, nhất là những người cần được chăm sóc, phục vụ nhiều nhất.

 Muốn làm đầu phải hầu thiên hạ” phải là phương châm của những ai thật sự muốn sống đời phục vụ và xem lãnh đạo như là phương tiện phục vụ.

Nguyên Ty

Visits: 822

Xã Hội Dân Sự: Đấu Trường Hay Lớp Học?

Lê Văn Bỉnh

This is the city … and I am one of the citizens;
Whatever interests the rest interest me …politics,
churches, newspapers, schools
Benovelent society, improvements, banks, tariff,
Steamships, factories, markets
Stock and stores and real estate and personal estate.
*Walt Whitman, Song of Myself, 1855

CIVIL SOCIETY

Trong mấy năm gần đây, tại Việt Nam nhóm từ “xã hội dân sự” (XHDS) thường xuyên được đề cập đến bởi các nhà hoạt động dân chủ, và đôi khi cũng xuất hiện trên báo chí của chính quyền hay thân chính quyền để phản ứng lại những người này. Hơn thế, XHDS còn được một số các cơ quan quốc tế viện trợ cho VN và một số học giả về Việt Nam nghiên cứu khá công phu.

Đối với nhiều người Việt trong cũng như ngoài nước, XHDS không những là một thuật ngữ mới lạ, mà ý niệm gợi lên cũng rất mơ hồ.  Mới lạ vì nó chỉ xuất hiện chừng độ 10 năm nay trong nước. Mơ hồ vì cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa nào được cả hai phía chính quyền và các nhà hoạt động dân chủ đồng ý.

Về điểm sau này thì không có gì đáng ngạc nhiên, bởi lẽ ngay cả các cơ quan quốc tế cũng như nhiều học giả trên thế giới cũng đưa ra nhiều quan điểm khá khác nhau, thậm chí đôi khi trái ngược nhau nữa. Điều này có thể nhận ra được qua sự xuất hiện của nhiều tác phẩm khoa học chính trị, chính trị xã hội học (political sociology), cũng như qua các quyển kim chỉ nam mà các chính phủ dành cho các nhà ngoại giao của nước mình.

Bài viết này nhằm cung cấp vài thông tin về nguồn gốc và ý nghĩa của thuật ngữ XHDS nhằm giúp độc giả hiểu một cách đại cương về XHDS hầu có thể theo dõi những diễn biến gần đây và hướng đi của XHDS. Bài viết sẽ đề cập đến những điểm sau đây:

  1. Thuật ngữ xã hội dân sự
  2. Ý nghĩa xã hội dân sự
  3. Trào lưu xã hội dân sự

 I. THUẬT NGỮ XÃ HỘI DÂN SỰ

Căn cứ trên nguồn viện trợ ngoại quốc cho Việt Nam – có cũng như không có văn phòng đại diện tại Hà Nội, và dựa trên một số tường trình và nghiên cứu của họ, người ta có thể đoán khá chắc chắn rằng ngay từ lúc ban đầu, thuật ngữ xã hội dân sự được dịch ra từ tiếng Anh civil society. Thật ra, tĩnh từ civil trong tiếng Anh có nhiều nghĩa.

Khi dịch “civil” thành “dân sự”, người đọc không khỏi nghĩ ngay rằng nó đối kháng với hình sự (luật dân sự), hay với quân sự (toà án dân sự). Trong tiếng Anh, tĩnh từ civil còn được đem đối chiếu với religious (tôn giáo).  Tuy nhiên dựa trên nội dung những nghiên cứu viết bằng tiếng Việt về XHDS thì tĩnh từ “dân sự” không mang các tính chất đối kháng này. Hơn nữa, cho rằng XHDS đối nghịch với “xã hội quân sự” hay “xã hội tôn giáo” có thể đưa đến ngộ nhận khá nguy hiểm cho các nhà họat động dân chủ cũng như cho các tổ chức XHDS!!

Một nghĩa khác của chữ civil là “tương đối lịch sự” (a civil reply), tức là không sỗ sàng, thô lỗ; chứ chưa đến mức lịch sự (polite) theo nghĩa chúng ta thường dùng. Trong thuật ngữ mà chúng ta đang bàn đến, chữ civil không mấy liên quan đến ý nghĩa này.

Civil còn có nghĩa là văn minh (civilized).  Tự điển Merriam Webster’s Collegiate Dictionary, 10th edition (1993) – cũng như trong ấn bản 1974 –còn cho thí dụ civil society hiểu theo nghĩa này. Nói khác đi, civil society có thể dịch sang tiếng Việt là “xã hội văn minh”.  Theo xã hội học, dịch như thế là khá sát ý nghĩa.  Thật vậy, con người được nuôi dưỡng trong gia đình, rồi sau đó mới tiếp xúc và sinh hoạt với cộng đồng. Khi ra cộng đồng thì không thể cư xử như khi ở gia đình, nghĩa là cần phải giữ gìn ý tứ, ngôn ngữ, cử chỉ, tức phải cư xử cho văn minh. Thỉnh thoảng cũng có tác giả dùng civil society để đối chiếu với natural society, xã hội tự nhiên, tức chưa được tổ chức qui cũ với sự xuất hiện của nhà nước.  Nhưng nếu dịch civil society là xã hội dân sự thì “uncivil society” – như được đề cập trong vài tác phẩm viết về tình hình chính trị tại một số quốc gia thời hậu Cộng Sản — sẽ phải dịch lthế nào cho ổn?

Theo thiển ý, nghĩa phổ biến nhất của tĩnh từ civil gắn liền với “công dân” (citizen). Thật vậy, các tự điển dưới đây, xuất bản không bao lâu sau khi có sự hồi sinh của thuật ngữ civil society, cho thấy điều đó.

  • Tự điển Webster’s Encyclopedic Unabridged Dictionary of the English Language (1989) đưa ra định nghĩa dưới đây:

            Civil: of, pertaining to, or consisting of citizens (của, thuộc về, hay gồm có công dân) với các thí dụ: civil life, civil society

  • Tự điển The Amrican Heritage Dictionary of the English Language, 4th edition (2000) định nghĩa chi tiết hơn:

Civil: Of or relating to citizens and their interrelations with on another or with the state. (của hay liên hệ đến công dân và những mối tương quan của họ với nhau hay với nhà nước). Civil society còn được đưa ra làm thí dụ cho định nghĩa nàỵ

Thật ra tự bản thân “civil society” cũng xuất phát từ ý niệm của Aristote mà tiếng Hy Lạp gọi là koinomìa politilè, nó có liên hệ lâu đời với sự khám phá ra chính trị học trong Hy Lap Cổ.  Rồi ý niệm này du nhập vào La Mã với tiếng Latin là societas cilivis. Tiếng Pháp là société civile thì không có gì lạ.  Tuy nhiên, khi đến Đức, cái nôi của triết học, nó được dịch là bugerliche Gesellschaft trong đó bugerliche vừa có nghĩa là burgeois (trung lưu, tư sản) vừa có nghĩa là citoyen (thị dân).  Hiện nay thì tiếng Đức Zivilgeselleschaft được dùng để bàn về XHDS.  Như vậy thì cilivis, civil, civile, Zivil trông cũng không khác gì nhau!

Tại Trung Quốc có ít nhất 4 thuật ngữ được dùng để dịch civil society: (a) shimin shahui (xã hội thị dân, city-people or town-people society), (b) gongmin shahui (xã hội công dân, citizens’ society, (c) wenming society (xã hội văn minh, cilivized society), và (d) minjian shahui (xã hội dựa trên dân người, people-based society). Trong thuật ngữ sau cùng này, min có nghĩa là “dân” (the people) và minjian có nghĩa là “giữa người dân với nhau”; và khái niệm minjian shahui đã đưa đến nhiều tranh luận tại Hoa Lục bởi vì nó đối kháng giữa nhà nước (guo) và người dân (min), hàm ý đối chiếu “ý dân” (minye) và “ý trời” (tianye) trong xã hội truyền thống –điều mà đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể nào chấp nhận, vì đảng đã là “trời” rồi và không người dân nào được quyền trái ý đảng cả!

Người Nhật dùng chữ shimin shakai để dịch civil society, trong đó shimin được xem là tương đương với citizen (Anh), citoyen (Pháp) hay burger) Đức. Theo một nhà nghiên cứu người Nhật, trong thuật ngữ này, “công dân” không có nghĩa là người dân trong một đơn vị hành chánh nào đó, hay thuộc một giai tầng xã hội nào đó; mà là những người yêu chuộng và hoạt động cho tự do, công bằng. Giới bảo thủ dùng chữ kokumin để chỉ công dân của một nước (citizens of the nation).

Tóm lại, nếu chọn giữa “xã hội dân sự” và “xã hội công dân”, người viết nghĩ thuật ngữ “xã hội công dân” thích hợp hơn.  Trước hết, thuật ngữ “xã hội dân sự” dễ đưa người ta nghĩ ngay rằng “xã hội dân sự” là đối kháng với xã hội quân sự, hay xã hội hình sự — như đã bàn ở trên.  Những người đề nghị cần có hay không cần có một qui chế cho XHDS không nghĩ đơn giản như thế. Thuật ngữ “xã hội công dân” tự nó đủ khả năng gợi cho người đọc nghĩ đến quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân trong việc xây dựng hay cải tiến xã hội đương thời thành một xã hội tốt đẹp (a good society) – dù đó là xã hội Việt Nam, hay xã hội các nước thuộc thế giới thứ ba, hoặc xã hội  các nước được xem là đã dân chủ về chính trị và đã phát triển về kinh tế.  Nói khác đi, thuật ngữ “xã hội công dân” hàm ý tích cực hơn, tức mời gọi hành động.  Tuy nhiên hành động không hẳn phải là phê phán chỉ trích để chống đối và lật đổ. Hành động cũng có thể là tích cực, tức phê bình xây dựng, hợp tác, hoặc ít hoặc nhiều với chính quyền hay với các tổ chức khác, trong nhiều lãnh vực như công quyền, kinh tế thương mại, văn hóa vv.  nhằm cải thiện hiện trạng xã hội nói chung. Tuy nhiên, chủ trương “xã hội công dân” sẽ làm gì hay phải làm gì để đạt các mục tiêu đó lại là chuyện khác.  Đây thuộc về nội dung, tức là phạm vi (sphere), hay “không gian” (chữ dùng trong nước) và khuynh hướng của xã hội công dân trong nước cũng như trên toàn cầu, mà chúng ta sẽ đề cập sau.

Nhóm từ “xã hội dân sự” còn được dùng như cụm tính từ, chẳng hạn trong “các tổ chức xã hội dân sự” (civil society organizations); “các tổ chức xã hội dân sự quốc tế/toàn cầu” (international/global civil society organizations) mà chúng ta sẽ có dịp nói đến.

Trong phần còn lại, tác giả cũng dùng thuật ngữ “Xã Hội Dân Sự” với lý do là vì từ lâu nó đã được sử dụng rộng rãi trong nước, và cũng bắt đầu tiếp xúc với người Việt hải ngoại qua truyền thông.  Nếu chúng ta quan niệm ngôn ngữ chỉ là phương tiện thông đạt, giúp con người hiểu nhau, thì cũng có thể xem là đạt được mục tiêu nếu nó giúp chúng ta hiểu toàn ý hay phần lớn ý. Do đó từ vựng sẽ không còn là vấn đề đáng để tranh luận nữa.

II. Ý NGHĨA XÃ HỘI DÂN SỰ

Để tiện việc trình bày và phân tích, chúng ta hãy hình dung một lãnh địa (territory) trong đó có 4 khu vực:

  1. Khu Vực Gia Đình. Gồm có tất cả các hộ tiểu gia đình và đại gia đình. Nhiệm vụ của gia đình là duy trì và phát triển nòi giống, nuôi dưỡng, nâng đỡ, giáo dục các thành viên. Mối quan hệ giữa các thành viên trong cùng hộ gia đình, thậm chí cũng như với các hộ gia đình khác, là mối quan hệ đặc thù, không có tính cách quyền lực và vụ lợi. Có điều đáng ghi nhận là có nhiều gia đình đã đóng góp nhân sự và của cải cho công tác hay cho các cơ quan từ thiện, văn hóa nghệ thuật vv.
  2. Khu Vực Thị Trường. Thị trường là nơi thuận mua vừa bán hay trao đổi, có tính cách vụ lợi, mưu tìm lợi nhuận trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Thị trường lớn hay nhỏ, hoạt động mạnh hay yếu, tùy thuộc chế độ chính trị, phong tục tập quán, thời vụ, chu kỳ kinh tế. Cũng không ít các cơ sở thương mại đã ảnh hưởng không nhỏ đến các khu vực kia, hoặc trích lợi nhuận để đóng góp vào các cơ quan nghiên cứu, công tác nhân đạo, chính trị vv.
  3. Khu Vực Nhà Nước. Có nhiệm vụ bảo vệ lãnh địa, cư dân, duy trì trật tự, hay điều tiết (phát triển hay hạn chế) sinh hoạt của các định chế trên bằng quyền hành của mình. Quan trọng nhất trong quan niệm này là nhà nước độc quyền sử dụng quyền lực và các phương tiện cưỡng chế để làm những việc đó (From Max Weber do Gerth & Mills hiệu đính,1946). Tại nhiều quốc gia, đặc biệt tại các quốc gia kinh tế phát triển, nhà nước cấp trung ương cũng như địa phương cũng cung cấp những khoản tài chánh lớn lao để giúp các tổ chức từ thiện, bảo vệ môi sinh, dã thú, phát triển văn hóa, giáo dục, vệ sinh vv.
  4. Khu Vực Xã Hội Dân Sự. Đây cũng là khu vực “tổng gộp” (aggregation) những hiệp hội, đoàn thể, các trường đại học vv. gọi chung là các “tổ chức”. Nhưng có bao gồm trong các “tổ chức” này các đảng phái chính trị, các tôn giáo hay các nhóm hành động (action groups) không? Các “tổ chức” này trên thực tế có thể nhận tài trợ từ 3 khu vực kể trên.  Tại nhiều quốc gia đang phát triển, nơi mà các nguồn tài chánh khá eo hẹp, các “tổ chức” này còn nhận những khoản tài chánh lớn từ các tổ chức phi chính phủ (non-government organizations). Nói cách khác, câu hỏi đưa ra là khu vực XHDS trên thực tế có vị trí thế nào đối với 3 khu vực kia (độc lập hoàn toàn hay có những lãnh vực chung)?

Nhìn từ khía cạnh hoạt động, thì hoạt động của khu vực Gia Đình là nuôi dưỡng giáo dục qua tình thương yêu, của khu vực Thị Trường là mua bán trao đổi qua đồng tiền, của khu vực Nhà Nước là phối hợp điều động qua quyền lực, của khu vực XHDS là để đạt những mục tiêu đề ra qua tiếp xúc thông đạt.  Khi những phương tiện này được sử dụng bất cập hay thái quá, cũng như thiếu ý thức trách nhiệm thì khu vực đó sẽ không còn lành mạnh nữa, và có thể sẽ ảnh hưởng lây lan đến các khu vực khác, tức là đến toàn bộ xã hội, hoặc ít hoặc nhiều. Trong 4 khu vực này, do tính đa nguyên và đa dạng cũng như tính đa năng và uyển chuyển của nó, khu vực xã hội dân sự có khả năng dễ tự điều chỉnh nhanh những sai sót của mình, cũng như có khả năng phê phán khách quan những sai sót của các khu vực khác, và đưa ra những đề nghị xây dựng.

Có một số nhà nghiên cứu xem khu vực XHDS gồm những nhóm quyền lợi, các tổ chức tôn giáo, những cơ quan thiện nguyện, những tổ chức nghề nghiệp vv., và cho rằng khu vực XHDS nằm giữa 2 khu vực Thị Trường và Nhà Nước. Tuy nhiên, họ không xem các đảng phái chính trị và các nhóm hành động là những thành phần của XHDS. Lý do là vì các chính đảng có các phương thức tổ chức, đề cử, ứng cử đặc thù và có thể đã, đang hay sẽ có ít nhiều thành viên trong chính quyền, cho nên được xem như thuộc khu vực Nhà Nước.  Còn các nhóm hành động thì sự tập hợp chỉ có tính cách nhất thời nhằm đạt nguyện vọng yêu cầu của mình.  Quan điểm XHDS nằm ngoài chính quyền và đối kháng với chính quyền càng khiến cho các chính quyền không dân chủ e ngại, do đó hạn chế sự hiện diện hay tham dự của XHDS vào sinh hoạt công trong nhiều lãnh vực –thậm chí không cho phép hình thành, hoạt động, hay đàn áp ngay từ trứng nước. Theo mô hình này, thì khu vực Gia Đình được xem là riêng tư, vì thiếu tính cách “công cộng” như 3 khu vực còn lại; và 3 khu vực còn lại này phân lập và thường khi đối kháng nhau, nhất là giữa 2 khu vực XHDS và Nhà Nước.

p3Một khuynh hướng khác, hiện nay được khá nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận, cho rằng khu vực XHDS có mối tương tác mạnh mẽ với cả 3 khu vực kia nhìn từ khía cạnh hoạt động công cộng.  Mô hình phổ biến này được trình bày như sau:

p2

Thomas Janoski, trong quyển “Citizenship and Society: A Framework of Rights and Obligations in Liberal, Traditional and Social Democratic Regimes” (1998) còn đi xa hơn nữa. Ông cho rằng 4 khu vực trên đều có chung với nhau một số lãnh vực; nhưng ở đây chúng ta chỉ chú trọng đến những lãnh vực mà XHDS có chung với 3 khu vực khác mà thôi –như ở hình vẽ trên. Theo Janoski, ngoài những lãnh vực độc lập của riêng mình như: (1) các hội thiện nguyện (phụ trách các vấn đề an lạc, công ích, tôn giáo); (2) các cơ sở truyền thông, giáo dục, y tế  vv. của tư nhân; (3) các phong trào quần chúng; (4) các nhóm tự lực, khu vực XHDS còn có chung với khu vực Nhà Nước trong các lãnh vực (5) các chính đảng; (6) an lạc công cộng, giáo dục công, truyền thông công, nghiên cứu & phát triển; có chung với khu vực Thị Trường trong các lãnh vực (7) các nghiệp đoàn công nhân; (8) các hiệp hội chủ nhân, (9) các hiệp hội người tiêu thụ; và có chung với khu vực Gia Đình trong lãnh vực: (10) những chi tiết về đời sống riêng tư được công bố qua truyền thông, toà án vv. Tùy theo truyền thống và tùy theo thời kỳ mà kích thước của không gian chung này có thể thay đổi. Chẳng hạn, không gian chung giữa XHDS với Nhà Nước và với Thị Trường ở Hoa Kỳ thì khá nhỏ so với đối phần ở Đức và Thụy Điển; trong các quốc gia thần quyền, thì khu vực chung giữa Nhà Nước và XHDS rộng hơn ở các nước thế quyền.

Brian O‘ Connell, trong quyển sách mỏng súc tích “Civil Society: The Underpinnings on American Democracy” (1999), chia xã hội Hoa Kỳ thành 4 yếu tố: Nhà Nước (tư cách công dân, tự do, xác quyền hạn, tòa án, an ninh, giáo dục, bỏ phiếu, tham gia chính đảng, tuân hành luật pháp, trả thuế, tiếp xúc văn minh lịch sự); Cộng Đồng (láng giềng, họ đạo, hiệp hội, câu lạc bộ, nơi giải trí, nơi làm việc, nghệ thuật, nhà thương, chính quyền địa phương, tiếp xúc văn minh lịch sự  vv.); Thương Mại (tự do kinh doanh, công việc làm, thị trường và tự do lựa chọn, truyền thông, hội nghề nghiệp, nghiệp đoàn, trách nhiệm xã hội, thiện nguyện công ty, hoạt động công ích của nhân viên, tiếp xúc văn minh lịch sự ); và Thiện Nguyện (tình nguyện viên, hiệp hội, tôn giáo, đại học và bảo tàng viện tư, câu lạc bộ, quỹ tài trợ, hội đồng quản trị trường học và bệnh viện, các nhóm cứu trợ cấp tốc, quỹ trợ ích, chính đảng, tiếp xúc văn minh lịch sự). Theo Connell, “Xã hội dân sự hiện hữu ở lãnh vực chung (intersection) nơi mà các yếu tố xã hội gặp gỡ nhau để bảo vệ và nuôi dưỡng cá nhân, và nơi mà cá nhân hành động để cung ứng cho các cá nhân khác sự bảo vệ tương tự và các cơ hội giải phóng cho những các nhân khác nữa.”  Ông nhấn mạnh đến “cá nhân” vì xã hội Hoa Kỳ đặt nền tảng trên tự do cá nhân, như chúng ta thừa biết.

Trước khi đề cập đến sự đo lường và ảnh hưởng của khu vực XHDS đối với các khu vực khác theo mô hình này, thiết tưởng chúng ta cũng nên bàn đến sự phân loại XHDS. Theo Mary Kaldor, một nữ học giả người Anh, trong quyển Global Civil Society: An Answer to War (2003), XHDS có thể phân ra làm 5 loại sau đây:

 (1) Xã Hội Lịch Sự (society civilis) chi phối bởi khuôn phép lịch sự; sự bạo động giảm thiếu đến mức tối đa, nhất là phải sinh hoạt trong khuôn khổ luật pháp.  Muốn được vậy, phải cần sự hiện hữu của Nhà Nước. Nói cách khác, XHDS không phân biệt với Nhà Nước, mà là phân biệt với các xã hội phi dân sự (tức các xã hội tự nhiên, natural society) và với chiến tranh.

 (2) Xã Hội Trung Lưu (burgerliche gesellschaft, bourgeois society), hình thành do thương mại phát triển vào thời đại sáng thế (the Enlightenment), thời kỳ mà con người nhờ kinh tế khá giả cho nên có thêm thời giờ và phương tiện để giải trí, giao tiếp vv. Trong tình huống đó, thì thị trường, giai cấp, dân luật, các tổ chức … đều là thành phần của XHDS. Và XHDS tương phản với Nhà Nước.  Hegel gọi đó là “sự thành công của thời đại mới”; Marx cho đó là “kịch trường của lịch sử.”

(3) Xã Hội Dân Sự Theo Các Nhà Hành Động (the activist version) gần giống như XHDS của cánh đối lập Trung Âu hồi thập niên 1970 và 1980, công nhận Nhà Nước, nhưng đòi hỏi Nhà Nước không những phải hạn chế quyền lực mà còn phải tái phân quyền lực. Theo định nghĩa này, thì các tổ chức của XHDS với cách tổ chức tự trị và phát triển của mình có thể ảnh hưởng đến điều kiện và môi trường mà mình đang sống; không cần phải thông qua các tổ chức chính trị chính thức, tức được Nhà Nước cho phép. Nói cách khác, XHDS và Nhà Nước mỗi phía có không gian riêng của mình.

(4) Xã Hội Dân Sự Theo Quan Điểm Tân Phóng Khoáng (the neoliberal version), tiếp theo sự tan rã của khối Cộng Sản 1989, muốn đưa con người trở lại thời đại chính trị tự do hành động (laissez-faire politics), nở rộ các tổ chức vô vị lợi, các cơ quan thiện nguyện không những hạn chế quyền hành của Nhà Nước, mà còn thay thế Nhà Nước đảm đang những công việc mà Nhà Nước không cáng đáng hết được. Và XHDS được coi là “khu vực thứ ba” (the third sector), bên cạnh 2 khu vực Nhà Nước và Thị Trường.

(5) Xã Hội Dân Sự Theo Quan Điểm Hậu Hiện Đại (the postmoderm version) là một đấu trường của đa nguyên và của ganh đua, lịch sự cũng như không lịch sự. Những người theo quan điểm này chỉ trích quan niệm xem XHDS là sản phẩm của phương Tây muốn áp đặt nó cho toàn cầu. Khuynh hướng này chủ trương cần phải chú trọng đến tình trạng văn hóa, tôn giáo khi nghiên cứu XHDS.

Theo Kaldor, tất cả 5 quan điểm trên về XHDS đều mang cả hai tính cách mô tả lẫn tính cách qui chuẩn, và bà còn cho biết quan điểm của bà gần gủi với quan điểm của các nhà hành động.  Quan điểm của bà như vậy đã phân lập giữa XHDS và Nhà Nước.  Trước kia, vào thế kỷ 17 và 18, các triết gia chính trị học xem hai thực thể này là cộng sinh (coterminous), và chỉ chú trọng đến khía cạnh giá trị “đúng” hay không đúng của luật pháp do Nhà Nước ban hành. Trái với chủ trương của Thomas Hobbes (1588 -1679) cho rằng có tự do là khi con người không bị chống đối hay cưỡng chế lúc hành động để đạt được điều mình mong muốn; còn luật pháp chỉ là một hình thức cưỡng chế, John Locke (1632 – 1704) chủ trương rằng luật pháp không làm suy giảm mà còn tăng cường quyền tự do của con người vì nó giúp người ta không bị kẻ khác tấn công.  Tuy nhiên, Locke cũng phân biệt luật tốt và luật xấu: luật tốt công nhận và bảo vệ những quyền tự nhiên của con người và luật xấu làm phương lại đến tự do của con người; do đó nhà nước cần phải ra những luật lệ tốt, và tránh ra những luật lệ xấu. Jean-Jacques Rousseau (1712- 1778) phân biệt giữa luật đúng nghĩa của nó (true law), tức luật phản ảnh “ý chí chung” (general will) và luật trên thực tế (actual law), tức luật thực sự áp dụng.  Trong quyển Émile, còn gọi De l’éducation (1762), từng bị cấm ở Pháp và Genève do quan điểm của ông về triết lý, chính trị và nhà nước, ông đưa ra nhận xét: “Tinh thần phổ quát của luật pháp ở tất cả các quốc gia là ưu đãi kẻ mạnh chống lại kẻ yếu, và kẻ có của chống lại kẻ tay không: điều bất lợi này là không tránh khỏi và không có biệt lệ.” Trong “Contract social” (xuất bản cùng năm 1762), Rousseau viết: “Qua xã hội dân sự, con người có được tự do tinh thần, chỉ nó không thôi cũng làm cho con người thành chủ nhân của chính mình; bởi vì bị cai trị bằng sở thích không thôi chỉ là nô lệ, trong khi tuân thủ pháp luật cho chính mình viết ra thì là tự do.”  Sang thế kỷ 19, mới có sự phân biệt giữa Nhà Nước và XHDS, nhưng XHDS thời kỳ này lại gồm cả thị trường, tuy không gồm khu vực gia đình. Và mãi đến thế kỷ 20, sự phân lập giữa Nhà Nước và XHDS mới rõ nét.

Một câu hỏi được đặt ra là các tổ chức XHDS tại các nước độc tài — Cộng Sản cũng như không Cộng Sản — các tổ chức không nằm trong bộ máy tổ chức của Nhà Nước, nhưng do Đảng Cộng Sản hay do đảng duy nhất cầm quyền lập ra có được xem là các tổ chức XHDS hay không? Khuynh hướng hiện nay vẫn xem chúng là những tổ chức XHDS. Người ta không quên là chính các tổ chức thuộc loại này đã tham gia khởi xướng các cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolutions) tại Đông Âu khi gặp thời cơ thuận lợi xuất phát từ Liên Xô qua các cuộc cải tổ về cơ cấu (perestroika) và cởi mở (glasnost) khi Gorbachev lên cầm quyền năm 1985.  Chẳng hạn tại Ba Lan lúc ấy đã có sẵn các tổ chức quần chúng như các tổ chức thợ thuyền, các câu lạc bộ thể thao, các đoàn thanh niên, các hội phụ nữ, các hội văn nghệ sĩ vv. Điều đáng lưu ý là tại Ba Lan lúc bấy giờ các nhà thờ (thuộc Giáo Hội Thiên Chúa Giáo La Mã), khoảng 14,000 với 7,000 họ đạo và 20.000 linh mục, có ảnh hưởng truyền thống lâu đời và sâu sắc với các địa phương lại độc lập với Nhà Nước.  Chính các họ đạo cũng trở thành các tổ chức XHDS, và là nguồn cung cấp nhân sự và phương tiện cho các tổ chức quần chúng đang từ từ tuột khỏi tầm tay đảng Cộng Sản.

Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng chủ trương và hành động đứng ra thành lập các tổ chức chuyên môn nghề nghiệp để đặt duới quyền sử dụng của Nhà Nước đã đưa nước Ý tới chế độ phát xít với Mussolini. Chúng ta có thể xem đây là “chủ nghĩa thiết lập” (corporatism) trong đó “Nhà Nước thiết lập” (corporate state) bày dựng một “XHDS thiết lập” (corporate civil society) để củng cố quyền lực và thực thi các chính sách của mình.

Tại Tiệp Khắc, nơi mà từ lâu giới trí thức đã không quá mê muội mù quáng với chủ nghĩa Cộng Sản, các cuộc biểu tình của học sinh sinh viên bị cảnh sát đàn áp ngày 17/11/1989 đã dẫn đến sự tham gia đông đảo của quần chúng, có lúc lên đến 500.000 người và nhiều tổ chức XHDS (lúc đó chỉ có khoảng 500, có giấy phép). Cuộc tổng đình công toàn quốc ngày 24 đã khiến chính quyền trung ương từ chức, bãi bỏ điều khoản độc đảng trong Hiến Pháp, dẹp sạch các rào cản biên giới với các quốc gia láng giềng.  Václav Havel được bầu làm Tổng Thống.  Nhà lãnh đạo tinh thần của cuộc Cách Mạng Nhung này kêu gọi phát triển một XHDS trên quê hương của mình để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa đất nước.

 Trong hai thập niên vừa qua, nhiều nhà nghiên cứu chính trị có khuynh hướng uyển chuyển và linh động hơn. Họ cũng phân biệt 2 thực thể chính trị Nhà Nước và XHDS, nhưng không coi sự đối kháng giữa 2 thực thể này là điều hoàn toàn không thể tránh được.

Đến đây, chúng ta có thể trở lại mối tương tác của XHDS với 3 khu vực kia. Trong quyển Civil Society: Berlin Perspectives do John Keane (2006) hiệu đính, Jurgen Kocka đưa ra định nghĩa XHDS theo 3 phương cách có liên hệ với nhau, như sau: (1) một loại hoạt động xã hội (social action); (2) một lãnh vực (area) hay không gian (sphere) có liên hệ nhưng riêng biệt với ba lãnh vực thị trường, nhà nước và gia đình –như chúng ta đã đề cập trên đây; (3) cốt lõi của một dự thảo hay một dự án có một vài tính cách không tưởng – nghĩa là có tính cách qui chuẩn, tức nhằm mục tiêu nào đó. Vì là một loại hoạt động xã hội, cho nên XHDS  (a) hướng tới giải quyết các xung đột, chấp nhận tranh luận, dung hòa và hiểu biết trong công chúng: XHDS được thực hiện trong không gian công cộng (public sphere); (b) nhấn mạnh sự độc lập cá nhân và sự tự tổ chức của tập thể; (c) chấp nhận đa nguyên, dị biệt và căng thẳng là chính đáng; (d) hoạt động không dung bạo lực; và (e) liên hệ tới những vấn đề tổng quát, chẳng hạn hướng tới “cái tốt đẹp chung” (common good) ngay cả khi không có cùng một quan điểm về khái niệm này.  Như vậy, theo định nghĩa XHDS của Jurgen Kocka, thì Gia Đình, Thị Trường và Nhà Nước đều có thể tham gia vào XHDS. Ngược lại XHDS cũng chịu ảnh hưởng hay ảnh hưởng đến chính trị và luật pháp; đến kinh tế và thương mại và đến đời sống riêng tư.

Vấn đề không kém quan trọng là làm thế nào để tìm hiểu cụ thể sinh hoạt của các tổ chức XHDS tại một quốc gia, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với chính quyền trung ương và địa phương cũng như đối với đời sống của dân chúng.  Một tổ chức quốc tế có tên CIVICUS đã đưa ra một phương pháp đo lường hoạt động của XHDS tại 43 quốc gia trong đó có Việt Nam, trong bộ sách có  tựa đề là  “CIVICUS: Global Survey of the State of Civil Society” (2007). Trước hết, XHDS được định nghĩa là “đấu trường, bên ngoài gia đình, nhà nước, và thị trường, nơi mà người ta cùng gắn bó nhau để đẩy mạnh những lợi ích chung” (the arena, outside the family, the state, and the market where people associate to advance common interests). CIVICUS bổ sung vào định nghĩa giản dị này 2 ý niệm: (a) đấu trường là một lãnh vực đặc biệt của một xã hội người ta cùng đến để tranh luận, bàn cải, tập hợp và ảnh hưởng đến xã hội rộng lớn hơn; (b) và tính chất lẫn lộn (fuzziness) giữa 4 lãnh vực gia đình, thị trường, nhà nước và XHDS, vì khó mà xếp loại một số hoạt động tập thể của công dân. CIVICUS chỉ xem là thuộc XHDS những hoạt động tập thể nhằm đạt các lợi ích chung, chứ không phải là tổ chức từ đó xuất phát ra các hoạt động.

Cũng nhằm mục tiêu đo lường hoạt động của XHDS, CIVICUS chỉ kể đến các hoạt động tập thể có tính cách công ích, chẳng hạn quản lý (governance) và phát triển (development) hơn là các họat động có tính cách kinh tế của các tổ chức vô vị lợi (nonprofit organizations).

CIVICUS đưa ra các cuộc điều tra, quan sát, phỏng vấn vv. để đo lường 25 yếu tố của 4 thành phần sau đây của XHDS:

  1. Thành Phần Cơ Cấu (Structure) đánh giá tình hình sinh hoạt của các thành viên trong XHDS

 qua 6 yếu tố: lãnh vực tham gia của công dân, mức độ tham gia, tính đa nguyên trong nội bộ, tầm mức quốc gia hay điạ phương, mối quan hệ nội bộ, và nguồn tài chánh)

  1. Thành Phần Khung Cảnh (Environment), nghiên cứu 7 yếu tố ảnh hưởng đến XHDS: khung cảnh chính trị, các quyền tự do căn bản, khung cảnh kinh tế, khung cảnh xã hội, khung cảnh luật pháp, mối quan hệ giữa Nhà Nước và XHDS, và mối quan hệ giữa khu vực tư và XHDS.
  2. Thành Phần Những Giá Trị (Values) khảo sát 7 yếu tố mà XHDS theo đuổi, thực hiện và cổ vũ: dân chủ, tính cách minh bạch, sự khoan nhượng, bất bạo động, bình đẳng giới tính, xóa nghèo, và môi trường bền vững.
  3. Thành Phần Ảnh Hưởng (Impact) đánh giá ảnh hưởng của XHDS đối với các chính sách công, qui trách nhiệm của nhà nước và các công ty kinh thương mại, đáp ứng các lợi ích xã hội, tăng quyền lực cho công dân và thỏa mãn nhu cầu xã hội.

Mỗi thành phần được cho điểm từ 0 đến 3.  Nối các điểm trên các trục lại, người ta sẽ có một đồ biểu đo lường tình hình XHDS của một quốc gia.  Dĩ nhiên, không có một quốc gia nào mà XHDS được xem là toàn hảo, tức đạt 3 điểm trên mỗi trục, và đồ biểu là một hình vuông.  Trên thực tế, người ta chỉ có đồ biểu 4 cạnh không đều, được gọi là đồ biểu Xã Hội Dân Sự (civil society diamond).

Theo nghiên cứu của CIVICUS năm 2007, trong 45 đồ biểu XHDS, thì đồ biểu XHDS Scotland cho thấy tình hình tốt nhất, với OS=2,2; OI=2.4; OV=2,6 và OE= 2,4.  Còn đồ biểu XHDS Việt Nam cho thấy tình hình gần như là xấu nhất, với các số đo theo thứ tự này là: 2,0; 1,2; 1,7 và 1,4.

p1 new

Cũng cần nói thêm, là khi nghiên cứu về XHDS tại Việt Nam, CIVICUS chia các tổ chức XHDS ra làm 4 loại chính:

  • Các tổ chức cộng đồng (community-based organizations), có tính cách điạ phương, thường được sự chấp thuận hay hỗ trợ của chính quyền điạ phương, hoạt động trong lãnh vực nông ngư nghiệp, chống nghèo đói, cứu trợ vv. Một số nhận tài trợ nước ngoài và phối hợp hoạt động với các tổ chức phi chính phủ.
  • Các tổ chức quần chúng (mass organizations) có lịch sử lâu đời nhất, có hệ cấp từ trung ương đến địa phương. Đứng đầu là Mặt Trận Tổ Quốc, một bộ phận chính trị mà đảng Cộng Sẳn xem là “đại diện của nhân dân” có nhiệm vụ giám sát các cơ quan chính quyền, giới thiệu các ứng cử viên cho cá cuộc bầu cử. Kế đó phải kể đến Hội Phụ Nữ, Đoàn Thanh Niên, vv. mà ngày nay hoạt động không còn mạnh như trước.
  • Các tổ chức nghề nghiệp (professional associations), như các hội hồng thập tự, hội các nhà báo vv. Tuy không thuộc Nhà Nước, nhưng thành phần lãnh đạo hầu hết đều là đảng viên đảng CS. Trong những năm gần đây, có nhiều hiệp hội chuyên viên kinh tế kỹ thuật ra đời, hoạt động khá độc lập với chính quyền.
  • Các tổ chức phi chính phủ (non-government organizations), chẳng hạn World Health Organization (WHO), UNICEF, American Red Cross, The Ford Foundation, Operation Smile, Alcoholics Anonymous, Church World Service, Terre des homes Foundation, Autralian Volunteers International, Landmine Survivors Network  Đến cuối năm 2010 có khoản 500 tổ chức phi chính phủ quốc tế (international NGO) hoạt động tại Việt Nam, một số nhỏ có văn phòng đại diện, số còn lại thì chỉ tài trợ cho các tổ chức địa phương trong các hoạt động liên hệ. Để theo dõi, và giám sát hoạt động của các tổ chức quốc tế này, Hà Nội lập ra 3 cơ quan, điều khá thú vị là cả 3 có chung một địa chỉ liên lạc!

            Sang năm 2013 vừa qua, CIVICUS lại tiến hành một cuộc thăm dò mới, tìm hiểu xem vì sao các chính quyền trên thế giới không giữ được lời hứa là tạo ra khung cảnh thuận tiện để huy động và cho dân chúng tham gia vào các tổ chức XHDS. Cuộc thăm dò này được thực hiện trên 109 quốc gia, nhằm đo lường và so sánh những điều kiện ảnh hưởng đến tiềm năng mà công dân tham gia vào XHDS; và xếp hạng XHDS về quản trị (governance),  khung cảnh xã hội – văn hóa (socio-cultural enviroment) và khung cảnh xã hội kinh tế (soci-economic environment).  Chỉ số này được gọi là Chỉ Số Bối Cảnh Cho Phép (Enabling Environment Index: EEI), với thang điểm từ 0 đến 1. Mười quốc gia đứng đầu danh sách sách, theo thứ hạng từ trên xuống dưới là: New Zeland (0,87), Canada (0,85), Autrlia (0,85), Denmark (0,81), Norway (0.80), Netherlands (0,79), Switzeland (0,79), Iceland (0,79), Swedan (0,79) và Hoa Kỳ (0,79).

Việt Nam được xếp hạng 100, với chỉ số EEI là 0,37, khiến tổ chức CIVICUS phải bày tỏ mối quan tâm:

            “Người ta lo ngại rằng những quốc gia như Ethiopia (hạng 8 từ dưới đếm lên) và Việt Nam (hạng 10 từ dưới đếm lên) đã từng nhận được viện trợ phát triển đáng kể, và thường được cộng đồng quốc tế khen ngợi về những thành quả kinh tế mà lại có những bối cảnh tồi tệ đến thế cho xã hội dân sự. Lý do: Hoặc là vì các chính phủ cấp viện trợ hay các cơ quan tài trợ không tìm ra được phương cách để cải thiện những điều kiện cho XHDS sinh động, hoặc là vì họ cố ý nhắm mắt làm ngơ đối với các biện pháp trấn áp.”

            Trong năm vừa qua, các nhà họat động dân chủ không ngừng đòi hỏi chính quyền sớm ban hành “Luật về Hội”. Hiến Pháp mới nhất năm 2013, điều 25 qui định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình.” Và “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật qui định.” Nhưng từ ấy đến nay, vẫn chưa có cái “Luật về Hội” đó. Trong khi chờ đợi, các văn kiện dưới luật xuất hiện trước đó vẫn được đem ra áp dụng, tùy theo tình thế và sự giải thích của chính quyền.  Trên nguyên tắc, Sắc Lệnh số 101/SL-L003 ngày 20/5/57 do Chủ Tịch Hồ Chí Minh ban hành Luật về quyền tự do hội họp vẫn còn hiệu lực vì chưa bị bãi bỏ, do đó không thể chỉ đề cập đến các Nghị Định ban hành sau này. (Radio Free Asia ngày 20/01/20114). Vả chăng, nếu “Luật về Hội” được ban hành nay mai đi nữa, thì số phận của nó cũng sẽ không khác số phận của các Luật khác hiện hành là bao, khi mà bộ máy Nhà Nước chỉ là công cụ của đảng Cộng Sản, vốn hơn nửa thế kỷ nay đã không chút tôn trọng quyền công dân và quyền con người.  Ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nước độc tài chuyên chế khác, vấn đề không phải chỉ là nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Thật vậy, nếu “luật xấu” được ban hành và người thừa hành lại tuyệt đối “thượng tôn pháp luật” thì đây chỉ là trò chơi chữ nghĩa tàn bạo! Tuy nhiên, nếu “luật tốt” được ban hành với mục đích chính là để làm cây kiểng, để có chứng cớ nói chuyện với thế giới, nhưng người thừa hành lại không “thượng tôn pháp luật”, thì người dân sẽ phải tốn tiền cho luật sư, nếu không muốn nói là phải tham gia trò chơi dân chủ hiểm độc! Lý tưởng là cần có cả hai thứ cùng lúc: “luật tốt” và nguyên tắc “thượng tôn pháp luật.”

III. TRÀO LƯU CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ

Xuất hiện ở châu Âu thế kỷ 18 vào Thời Kỳ Sáng Thế (The Enlightenment), thời đại mà người ta tin tưởng rằng hầu như mọi việc đều hoạt động theo những định luật bất biến và có thể tiên liệu được, thậm chí triết học còn bị toan tính chuyển thành khoa học tự nhiên,  ý niệm XHDS đã  được đưa ra bàn luận sôi nổ và khảo cứu tận tình, với Adam Ferguson, G.F.W. Hegel, Karl Marx, Antonio Gramsci vv. Vậy mà không bao lâu sau lại bị lãng quên đi, mãi cho đến thập niên 1970 khi nó được các nhà hoạt động dân chủ Châu Mỹ Latin và thập niên 1980 khi các nhà tranh đấu Đông Âu nhớ đến và đem ra sử dụng lại để đương đầu với các chính quyền độc tài đương thời.

            Đối với gia đình chính trị học, sự trở về của người con thất lạc từ lâu đã được tiếp đón nồng nhiệt, xem nó là vị cứu tinh cho vấn đề dân chủ đang bị bế tắc.  Trước hết, nó được xem là nguồn sinh lực cho các quốc gia vốn được xem là dân chủ lâu đời, như Hoa Kỳ và châu Âu. Nó  cũng là nguồn hy vọng lớn lao cho các quốc gia đang phát triển mà sau mấy đợt sóng dồn dập đầy phấn khởi, tiến trình dân chủ không những bị khựng lại mà còn bị đẩy lùi nữa, cũng như cho các quốc gia mà các cuộc “cách mạng mùa xuân”, “cách mạng hoa lài” chỉ còn để lại chút mùi hương nhạt nhòa.  Đó là những lý do giúp chúng ta giải thích được sự ra đời phong phú của sách báo về XHDS hiện nay nhằm tìm hiểu khả năng đóng góp của nó cho tiến trình dân chủ hoá tại các nước đang phát triển cũng như củng cố dân chủ tại các nước vốn đã có dân chủ lâu đời.

Tại Hoa Kỳ, tác phẩm khá đồ sộ “De la démocracie en Amérique” của học giả Pháp Alex de Tocqueville, gồm 2 quyển xuất bản năm 1835 và 1840, vốn được dịch ra tiếng Anh từ 1966 và được các nhà lãnh đạo chính trị của Hoa Kỳ trích dẫn nhiều lần, lại được dịch thành 2 quyển sách mới trong thập niên 1990 với những ghi chú chi tiết hơn, cũng như với cả sách giải thích cặn kẽ cách dùng. Như chúng ta đã biết, trong chuyến công du Hoa Kỳ hồi thế kỷ 18 để nghiên cứu chế độ lao tù, Tocqueville đã ngạc nhiên thú vị về nền dân chủ non trẻ của quốc gia này, trong đó ông thích thú về sự hiện diện và sinh hoạt dân chủ của các tổ chức thiện nguyện, các câu lạc bộ, các nhóm tôn giáo, văn hóa, thể thao vv., mà những nhà nghiên cứu sau này gọi đó là các tổ chức XHDS.  Ông cho là những tổ chức này là do dân chúng đứng ra thành lập nhằm giúp đỡ lẫn nhau cũng như để đạt tới những mục tiêu mà chính quyền không có khả năng làm được.

  Nhiều nhà nghiên cứu Hoa Kỳ giật mình nghĩ lại cái thời hoàn kim này, sau sự ra đời của tác phẩm “Bowling Alone: The Collapse and Revival of America Community” (1999) của Robert D. Palmer, với những dữ kiện, phân tích tỉ mỉ sinh hoạt của xã hội Hoa Kỳ. Palmer nhận xét rằng ngày nay có nhiều người Mỹ chơi bowling hơn, nhưng họ chỉ chơi một mình thay vì chơi trong trong các hội (leagues). Trong những lãnh vực khác người Mỹ càng ngày càng ít tham gia, chẳng hạn ít đi bầu cử hơn, ít tham gia các hiệp hội hơn, ít đi nhà thờ hơn, ít tham gia nghiệp đoàn hay tổ chức nghề nghiệp hơn, ít tham gia sinh hoạt với khu lân cân láng giềng hơn vv.  Trước đó, người ta không thấy gì bất lợi hay có hại cho xã hội nói chung khi thiếu vắng sự liên lạc giữa các thành viên với nhau trong các tổ chức XHDS, như các hội Phụ Huynh và Giáo Viên (PTA), các câu lạc bộ, các tổ chức từ thiện, nhà thờ vv. thậm chí trong các chính đảng nữa.  Nói khác đi, qua giao tiếp, con người tin cậy nhau, hiểu biết nhau và nối kết với nhau, tạo nên chất keo gắn bó; mà khi khi xã hội mất nó đi, thì con người trong đó cũng dễ trở thành những người xa lạ.  Đây quả là “vốn liếng xã hội” — sẽ được bàn đến sau. Kết luận này là tiếng nói cảnh tỉnh cho bất kỳ một xã hội nào, dù đó là xã hội Hoa Kỳ, nơi có hàng trăm ngàn hiệp hội thiện nguyện vô vị lợi tạo công ăn việc làm cho 9% lực lượng lao động toàn quốc.

            Tại Liên Hiệp Châu Âu, cùng với sự củng cố tổ chức là sự thay đổi quan trọng về định chế và hiến pháp.  Những cải tổ luật lệ mới mẻ nhất trong những năm gần đây phản ảnh sự cương quyết của tổ chức này trong việc duy trì và phát triển dân chủ: ổn định đời sống chính trị của công dân dưới sự cai trị của các chế độ mới, và xây dựng một Liên Hiệp Châu Âu mang nhiều trách nhiệm hơn đối với XHDS. (“The European Court and Civil Society: Ligitation, Mobilization and Governance” , 2007) Trong một dự án có tên là “Toward a European Civil Society”, hơn 40 nhà nghiên cứu, cùng với nhiều học giả khác thuộc 15 viện nghiên cứu trên 10 quốc gia đã cùng nhau làm việc trong hơn 2 năm rưỡi để tìm hiểu nguồn gốc, ý nghĩa và sự phát triển của XHDS tại châu Âu. Hai tác phẩm “The Languages of Civil Society” (2006) và “Civil Society: Berlin Perspectives” (2006) là một đóng góp rất quan trọng của dựa án này. Ngoài ra, chúng ta cũng không quên rằng, châu Âu vốn là cái nôi của XHDS không những về phương diện lý thuyết, mà còn là nơi ý niệm XHDS này đã được khơi lại để hành động thành công chấm dứt các chế độ độc tài tại đây; nó cũng như là nơi xuất phát nhiều tổ chức phi chính phủ toàn cầu (global non-government organizations), và nhiều quốc gia châu Âu riêng lẻ đã giúp khá nhiều phương tiện nha%n sự và tài chánh cho các tổ chức XHDS ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.  Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong 10 quốc gia có bối cảnh thuận tiện cho sự phát triển các tổ chức XHDS đã có đến 6 quốc gia châu Âu, như kể trên. Năm 2001, đài BBC phát thanh một loạt 12 bài tìm hiểu về XHDS cho dân Anh vào mỗi thứ Năm trong 3 tháng 7, 8 và 9.

            Đối với nhiều quốc gia châu Âu không còn Cộng Sản nữa thì tình hình XHDS không có gì sáng sủa mấy, nghĩa là tiến trình dân chủ hoá không đi nhanh như người ta ước mơ.  Trong quyển “Aiding Democracy Abroad: The Learning Curve”  (1999), Thomas  Carothers cho rằng một cuộc cách mạng dân chủ gồm 2 “chương”: “Chương 1”  là chuẩn bị kỹ lưỡng, chờ đợi thời cơ thuận tiện và lật đổ nhà độc tài hay chế độ chuyên chế; và “Chương 2” là  thi hành những biện pháp để chuyển sang dân chủ, từ mức khởi đầu.  Lịch sử cho thấy câu hỏi “Làm thế nào để lật đổ?” (How?) đã tìm ra những câu trả lời tốt.  Nhưng câu hỏi “Làm gì để tiến tới dân chủ?” (What?), có liên quan ít nhiều đến sự hình thành và phát triển của XHDS, thì chưa có những câu trả lời được mọi người đồng thuận.

            Lấy trường hợp của Nga. Sau khi Gorbachev “làm cách mạng” để lật đổ cuộc cách mạng 70 tuổi của quê hương mình, thì XHDS đươc mở rộng với hy vọng phục hồi quyền con người,  quyền tự do kinh tế và các quyền công dân khác, cũng sự minh bạch, công bằng của các cơ quan nhà nước. Tiếp theo những cuộc biểu tình chống chiến tranh với Chechnya, những vụ phản kháng các lạm dụng môi sinh, thì các tổ chức XHDS mọc lên như nấm.  Một số trong 2.000 tổ chức XHDS hoạt động cho phong trào dân chủ và quyền con người đã nhận được nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ quốc tế (Interntional non-governments organizations, INGOs). Điều sau này lại càng khiến cho các quan chức nhà nước với ít nhiều não trạng cũ xem các tổ chức XHDS này là tai sai ngoại bang, nhất định vung tay làm mạnh: các nhân viên công lực và côn đồ làm nhục các nhân viên INGOs ngoài đường phố cũng như tại các trụ sở của họ; nhiều lần đe dọa cả chính Đại Sứ Anh viện lý do là ông ta can thiệp vào công việc chính trị nước Nga.  Năm 2006, Quốc Hội Nga ra luật buộc các tổ chức XHDS phải công khai tài chánh, khai rõ các nguồn tài trợ và cam kết hoạt động vì quyền lợi quốc gia Nga.  Luật này được áp dụng tức thì và nghiêm nhặt cho tất cả tổ chức XHDS, khoảng 13.000 lúc đó) khiến cho các tổ chức INGOs đang hoạt động ở Nga, như Amnesty International, Human Watch vv. gặp không ít khó khăn. (“A Diplomat Handbook: for Democracy Development Support”) (2013). Điều này không có gì khó hiểu khi mà từ trên, Putin đã “vận dụng Hiến Pháp” để nhảy xuống làm Thủ Tướng rồi lại nhảy lên lại ghế Tổng Thống, và dưới là  guồng máy kềm kẹp tham nhũng không khác mấy thời Cộng Sản; các tổ chức XHDS chỉ là cái gai trong mắt!

            Tại Trung Quốc, muốn được công nhận là một tổ chức XHDS, thì trước hết tổ chức đó phải được một cơ quan nhà nước đỡ đầu, rồi sau đó phải “đăng ký” với Bộ Dân Vụ (Ministry of Civil Affairs). Nếu không tìm được sự đỡ đầu, thì phải đăng ký với tư cách công ty, không những phải qua thủ tục rườm rà, tốn kém, mà trong tương lai còn không được xin gây quỹ xin tiền công chúng. Do đó, muốn có phương tiện hoạt động, các tổ chức XHDS này đành phải trông cậy vào nước ngoài.  Năm 1988 tổng số các tổ chức XHDS là 4.500; đến năm 2010, con số này tăng vọt lên 425.000 hay hơn nữa. Theo qui định tháng 3 năm 2010 thì  khế ước cho và nhận tiền giữa cơ quan tặng dữ (trong cũng như ngoài nước) và các tổ chức XHDS phải được công chứng. Nhờ những tặng dữ đó, mà công cuộc cứu trợ thiên tai bão lụt tương đối nhanh chóng và hiệu quả.  Tuy nhiên các quan chức địa phương cũng rất lo sợ ảnh hưởng của các tổ chức này, vì XHDS sẵn sàng tố cáo những sai phạm của chính quyền địa phương đã dẫn đến thiệt hại sinh mạng và tài sản. Về phần mình, các tổ chức XHDS phải luôn luôn phải cảnh giác, phải biết lúc nào không được quyền lớn tiếng hay vượt quá một địa phương nào đó; nếu không, sẽ dễ mất nguồn tài trợ, hay phải đi tù, hoặc cả hai! Trong thời gian gần đây, các tổ chức XHDS tại Trung Quốc bị kiểm soát chặt chẽ hơn.

Nhìn sang những nước Á Châu khác, có kinh tế phát triển hay đang lên như Nhật, Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, Mã Lai, chúng ta có thể đưa ra những định tổng quát như sau.  Trước hết, ý niệm về sự hiện diện của đoàn thể, hiệp hội đứng bên ngoài Nhà Nước là một ý niệm tương đối mới mẻ, chỉ xuất hiện sau khi có sự tiếp cận với Tây phương.  Do hoàn cảnh lịch sử, các tổ chức đầu tiên ở các nước này thường có mục tiêu chính trị (chính đảng), nghề nghiệp, hay ái hữu. Thứ đến, sự phát triển đi theo hướng từ trên xuống dưới, tức là chủ trương của chính quyền cho phép XHDS xuất hiện là để nhằm đối phó với những áp lực hay điều kiện từ bên ngoài của các tổ chức quốc tế, các cơ quan viện trợ quốc tế vv. Rồi sau đó, trong khi các các quốc gia Tây phương và các tổ chức này nghĩ rằng, một khi nền kinh tế lớn mạnh, thì các quốc gia nói trên sẽ dễ dãi hơn đối với các tổ chức XHDS hầu đẩy nhanh tiến trình dân chủ hoá, thì ngược lại các chính quyền các nước Á châu lại cho rằng sở dĩ kinh tế phát triển nhanh được là nhờ ở một chính quyền mạnh và ổn định, và cho rằng XHDS sẽ chia bớt quyền lực Nhà Nước và làm suy yếu chính quyền và dễ đưa đến suy yếu kinh tế; do đó sẵn sàng kềm hãm, ức chế sự lớn mạnh của XHDS một khi hoàn cảnh cho phép.

Hiện nay tại nhiều nước trên thế giới, tình trạng XHDS rất phôi thai.  Lý do đầu tiên được nêu ra là tình trạng dân trí.  Chính quyền cho rằng, dân trí thấp sẽ bị “bọn đầu cơ chính trị trong nước” và “lực lượng thù địch hải ngoại” lợi dụng. Nếu quả thực dân trí thấp thì cần phải nâng cao dân trí.  XHDS là nơi các thành viên tương tác và học hỏi lẫn nhau.  Sự tương tác làm cho con người tin cậy lẫn nhau.  Mặc dầu chưa có những nghiên cứu đảm bảo được tính khả hoán của lòng tin –thí dụ ở hội đoàn này, tôi tin lãnh đạo, nhưng khi chuyển sang hội đoàn khác, lòng tin của tôi đối với lãnh đạo mới có giữ được mức độ đó hay không –nhưng lòng tin trong một tổ chức –dù nhỏ hay lớn – là một yếu tố quan trọng giúp đạt được mục tiêu chung, và dù không đạt được mục tiêu chung đi nữa, nhiều nhà nghiên cứu vẫn xem đây là “vốn liếng xã hội” (social capital).

Theo Robert D. Putnam, trong tác phẩm “Democracies in Flux” (2002), khái niệm “vốn liếng xã hội” đã được L. Judon Hanifan đưa ra từ năm 1916. Theo Hanifan, thì “vốn liếng xã hội” không liên hệ gì với đất đai, của cải, tiền bạc vật chất, mà là thiện chí, cảm tình, tinh thần tương thuộc, các mối giao tiếp giữa các cá nhân và gia đình trong cộng đồng.  Và khi các thành viên trong cộng đồng quen biết nhau, gặp gỡ nhau để vui chơi, giải trí, tiếp xúc thì nhờ kỹ năng lãnh đạo mà “vốn liếng xã hội” đó sẽ được sử dụng để cải tiến đời sống của cộng đồng mình ở.  Tuy nhiên, cũng như bất kỳ loại vốn liếng nào, “vốn liếng xã hội” có thể bị sử dụng không đúng chỗ, và có thể gây phương hại cho cộng đồng (thí dụ tạo ra xung đột kỳ thị màu da, tôn giáo). Xã hội làng xã và đại gia đình của Việt Nam là nền tảng thuận lợi cho sự tạo lập và tăng trưởng “vốn liếng xã hội” này, nhưng trong mấy thập niên vừa qua cái nền tảng này đã bị phá vỡ đi nhiều lần qua các sự can thiệp tiêu cực có tích cách thù hận và tạo chia rẽ của chính quyền Cộng Sản. Một điều khá trớ trêu là khi rừng mơ chủ nghĩa quốc tế vô sản chưa bén rễ, thì họ đã đào xới tung tóe cái nền tảng này ngay từ thời kỳ cải cách ruộng đất ngoài Bắc. Và nghịch lý thay ngày nay khi cần đến cái nền tảng đó thì hạnh phúc cá nhân, và xã hội vô cảm đang được thực tế cổ xúy và đang bành trướng!

Lề lối, phong cách giao tiếp, ứng xử giữa các thành viên trong cùng tổ chức XHDS hay giữa các tổ chức XHDS với nhau, hoặc giữa chính quyền và XHDS dần dần hình thành một thứ văn hóa, được gọi là “văn hóa công dân” (civic culture).  Trong nhiều quốc gia, khi XHDS chưa hình thành, chính quyền trung ương cũng như địa phương thường mời các nhà chính trị lão thành, các thân hào nhân sĩ – có khi còn đích thân đến– để vấn kế. Ngày nay, các nhà lập pháp, hành pháp, các viên chức hành chánh địa phương thường tham khảo ý kiến của các tổ chức XHDS.  Trong thập niên vừa qua, một số tổ chức quốc tế, chẳng hạn Ngân Hàng Quốc Tế, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, trước khi chấp thuận cho vay mượn, hay hoãn giảm nợ cho các địa phương, còn ra điều kiện là các con nợ –tức Nhà Nước hay Chánh quyền địa phương hay cơ quan chủ quản dự án phải tham khảo ý kiến của các tổ chức XHDS liên hệ.

Một quốc gia có “vốn liếng xã hội” phong phú, có một nền “văn hóa công dân” cao, thì không cần phải đợi đến khi có giặc đến mới mở “Hội Nghị Diên Hồng”!  Một khi chưa bồi đắp được lòng tin, chưa quen lề lối sinh hoạt dân chủ, cũng như chưa quen sống trong cái “văn hóa công dân” thì những người tham dự có thể sẽ ngỡ ngàng, sẽ chỉ là những người bù nhìn và “nhất trí ” đi theo cái hướng mà người tổ chức chỉ ra. Xin mở dấu ngoặc. Ở đây, người viết nghĩ rằng đảng Cộng Sản Việt Nam không những không tin, mà còn sợ hãi một hội nghị Diên Hồng –một đề nghị của một số “Việt kiều yêu nước” hải ngoại. Bối cảnh lịch sử của Hội Nghị Diên Hồng đời nhà Trần là giặc Mông Cổ đang tràn qua biên giới trong khi vua quan nhà Trần cũng chưa rõ là các cựu thần nhà Lý và một bộ phận nhân dân còn tư tưởng “hoài Lý” hay không. Đảng Cộng Sản từ khi cầm quyền đến nay đã gây quá nhiều sai trái, cho nên họ sợ hãi một hội nghị Diên Hồng với đủ thành phần tham dự sẽ đưa đến hậu quả bất lợi, thậm chí nguy hiểm cho họ, vì bối cảnh đã đổi mới: nhân dân đã bớt sợ hãi, và mạng lưới thông tin xã hội càng ngày càng phát triển mạnh, trong khi đó Hà Nội đang nhìn qua nhìn lại để hòng kiếm đồng minh đối phó với phương Bắc.

Dân chủ không thể nhập cảng, vì dân chủ của nước xuất cảng được trước tiên sản xuất cho chính dân họ dùng.  Dân chủ cũng không thể trông cậy từ trên ban xuống, vì ban xuống dễ, thì lấy đi sẽ không khó.  Nhưng dân chủ có thể học hỏi được qua xã hội dân sự.  Bóp nghẹt, kiềm hãm, ức chế XHDS là phủ nhận tri thức và tâm hồn của công dân. Nếu bị phủ nhận, người công dân buộc phải trông cậy vào sự tranh đấu của mình vậy.  Họ tranh đấu để trước hết có được quyền hội họp, quyền tự do ngôn luận.  Nghĩa là bắt đầu cho “Chương 1”!  Một sự bắt đầu như vậy sẽ vô cùng tốn kém: tài sản, của cải, xương máu, đẩy quốc gia vô phước đó lùi xa thêm về phía sau, và về sau lịch sử lại chê trách, than thở cho những năm tháng đã mất.

     Trong những quốc gia không có truyền thống dân chủ, khó khăn lắm mới lên nắm quyền hành, thì không ai lại muốn từ bỏ quyền hành, nhất là khi chưa bị chống đối mạnh mẽ và nguy hiểm cho mạng sống của mình và gia đình.  Các nhà cầm quyền độc đoán trên thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia độc đảng, chẳng ai muốn tự buông quyền buông của.  Do đó họ luôn luôn sẵn sàng chủ trương tiêu diệt từ trong trứng nước mọi mầm móng đòi hỏi dân chủ. Những nhà hoạt động dân chủ, những nhóm bất đồng chính kiến, những người phản biện đều nhận thức rất rõ điều này.  Giữa thập niên 1940 ở Việt Nam, để huy động toàn dân đấu tranh giành độc lập trong tay người Pháp, Việt Minh hô hào: “Độc lập ai bán mà mua/ Ai cho mà nhận, ai thừa mà xin,” thì ngày nay “Dân chủ ai bán mà mua/ Ai cho mà nhận, ai thừa mà xin.” Những nhà tranh đấu của XHDS đã cho biết rõ lập trường của mình. Cuộc tranh đấu đã bắt đầu, và chắc chắn họ sẽ không bị lẻ loi như mấy năm trước đây.

        Như chúng ta thừa hiểu: Xưa nay có hai trường phái về cải cách chính trị.  Một trường phái cho rằng những cải cách chính trị phải xuất phát từ tinh thần tôn trọng tự do ẩn sâu trong tâm hồn của những nhà lãnh đạo, và những thay đổi về các định sẽ xuất hiện sau.  Trường phái kia không tin tưởng cái ẩn chứa trong chiều sâu ấy, và cho rằng ngoại cảnh mới có sức mạnh ảnh hưởng và thay đổi các định chế, buộc lãnh đạo không còn cách lựa chọn nào khác hơn là phải ra đi.  Giữa 2 trường phái này, có một quan điểm lạc quan. Mặc dù tiến hành một xã hội tư do dân chủ từ trên xuống dưới là khó, nhưng khó không có nghĩa là không thể thực hiện được.  Trong thời đại toàn cầu và với sự lan rộng của mạng thông tin xã hội, thế giới chúng ta không còn là “thế giới T.I.N.A.” (There Is No Alternatives, không có giải pháp).

        Hiện nay, trào lưu dân chủ với sự hồi sinh và phổ biến của xã hội dân sự cho thấy có thể tìm được một giải pháp trung dung cho các nước muốn có dân chủ mà không phải mất nhiều xương máu.  Đó là khi cả đôi bên, Nhà Nước và Xã Hội Dân Sự, đều không chủ trương một mất một còn.  Qua kinh nghiệm tương tác đôi bên sẽ cảm nhận và rút tỉa những bài học giá trị và bổ ích từ “sự thực chiến trường” (ground truth), chứ không phải là chỉ từ những hiểu biết qua các sách vở từ chương hay lý thuyết suông.  Nếu trong chiến tranh, “sự thực chiến trường” giúp cho người lính ngửi được mùi thuốc súng, nhận thức hiểm nguy sinh tử và hình thành tự tin và can đảm hơn, thì trong chính trị, “sự thực chiến trường” sẽ giúp đôi bên hiểu sức mạnh của nhau, giúp tương kính nhau và cùng nhau đối phó với kẻ thù chung, với nghèo đói, với bất công, với tham nhũng, với sự hủy hoại môi sinh vv.  hầu đưa đất nước mình đi lên, thậm chí còn có thể giúp ngăn chặn hay hạn chế khủng bố tại các quốc gia đã phát triển, như chính quyền các nước này trông cậy khi cung cấp ngoại viện.

         Tại Việt Nam, thực tế không cho phép người ta mong đợi giải pháp trung dung lý tưởng nói trên.  Một sự thực đáng mừng là xã hội dân sự đã manh nha, lớn dần và đang được sự ủng hộ của thế giới.  Tuy nhiên, khu vực xã hội dân sự tại Việt Nam phát triển tương đối chậm.  Lý do là vì Đảng và Nhà Nước không muốn nó có cơ hội phát triển, chỉ vì người Cộng Sản lo sợ rằng nếu xã hội dân sự phát triển, thì Đảng và Nhà Nước CS sẽ diệt vong. Trong tình huống đó, đấu tranh và xung đột giữa hai bên là điều khó tránh. Những người tiền phong trong phong trào xã hội dân sự, nếu sớm lôi cuốn được đông đảo quần chúng, được sự ủng hộ tích cực của người Việt hải ngoại, cũng như dư luận và sự giúp đỡ tận tình của thế giới, thì sẽ đem thắng lợi về phía mình, và đất nước sẽ có cơ hội vươn lên.  Đó là điều chúng ta mong đợi.

***

Để kết luận, người viết thấy có hai chủ trương khá rõ sau đây về XHDS: một đối với các quốc gia vốn đã có XHDS từ lâu, và một đối với các quốc gia mà XHDS còn non trẻ. Đối với các quốc gia mà XHDS vốn có chiều dày lịch sử, nhiều nhà nghiên cứu nhận thức hướng đi xuống của XHDS, cho nên cần phải có sự cứu vãn. Brian Connell lập lại nhận định của Gibbon: “Sau cùng, họ (người dân thành Athens, Hy Lạp Cổ) muốn an ninh, còn hơn là đã muốn tự do. Họ đã muốn đời sống thoải mái và họ đã mất hết –an ninh, thoải mái và tự do … Sau rốt, khi người dân thành Athens không muốn ban phát cho xã hội mà chỉ muốn xã hội ban phát cho mình, khi tự do mà họ mong muốn nhất là tự do khỏi trách nhiệm, thì khi đó thành Athenes không còn tự do nữa.” Connell khẩn thiết kêu gọi người dân Mỹ phải kịp thời củng cố và hoàn chỉnh XHDS, và có tinh thần trách nhiệm để còn vui hưởng dân chủ dài lâu.

Lời kêu gọi của Connell không những chỉ dành cho nước Mỹ mà còn hướng đến toàn thế giới.  Đối với các quốc gia mà XHDS chưa có chiều dày lịch sử, người viết nghĩ rằng vấn đề XHDS còn cấp thiết hơn.  Khi bàn về sự duyệt xét lại một bản thảo, nhà thơ Maggie Anderson viết: ”Năng lực duyệt xét là năng lực sáng tạo và thay đổi; mà năng lực sáng tạo và thay đổi này cũng là năng lực hủy diệt.” (The Poet’s Companion, Kim Addozino & Dorianne Laux, 1997).  Một thi sĩ có thể vứt bỏ đi bản thảo cũ, và viết lại một bài thơ với những hứng khởi mới –thường thì hay hơn. Nhiều quốc gia hiện nay –trong đó có Việt Nam — đang viết “Chương 2”, cũng có thể hủy bỏ hay tránh làm ra những cái xấu, sáng tạo những cái mới và thay đổi những cái hiện đang không còn hợp thời nữa. Tuy nhiên, các quốc gia đó chỉ có thể làm việc trọng đại này với sự có mặt càng ngày càng lan rộng, và sự đóng góp mới, tích cực và hữu hiệu của XHDS, bởi lẽ lãnh đạo đương thời với não trạng không còn bén nhạy nữa và thường thì chỉ biết quanh quẩn theo đường mòn mà đi –thậm chí nhiều lúc còn quay trở lại.  Chỉ vào lúc ấy, Nhà Nước và XHDS mới không ở trên một đấu trường, và có thể nói hai bên đang cùng trong một lớp học.

Lê Văn Bỉnh

Virginia, Tháng 12 Năm 2014

Một Số Tài Liệu Khác Đề Nghị Độc Giả Tham Khảo Thêm

  • Don E. Eberly, Editor, The Essential Civil Society Reader, Rowman & Littlefield 2000
  • Helmet Anheller, Civil Society: Measurement, Evalution, Policy, Routledge 2004
  • John A. Hall, Editor, Civil Society: Theory, History Comparison, Polity Press 1995
  • Jon Carson & Russel Fox, Editors The State of Nature in Comparative Political Thought, Lexington Books 2014
  • Jean Cohen & Andrew Arato, Civil Society and Political Theory, MIT Press 1995
  • Michael Edwards, Editor, The Oxford Handbook of Civil Society, Oxford 2013
  • Virginia Hodgkinson & Michael Foley, Editors, The Essential Society Reader, Press of New England 2003

Visits: 778