Việt Nam Trong Chiến Tranh Lạnh Mỹ – Trung

Nguyễn Bá Lộc

Chiến tranh lạnh hiện nay giữa Hoa kỳ và Trung cộng công khai bắt đầu từ “Chiến tranh mậu dịch” (Trade war) hồi tháng 7/2018. Rồi sự xung đột giữa hai bên lan rộng qua các lãnh vực khác và ảnh hưởng trên toàn cầu. Sự đối đầu càng ngày càng căng thẳng.

Vì ở trong vị trí và hoàn cảnh đặc biệt, Việt Nam bị ảnh hưởng và tác động mạnh bởi chiến tranh lạnh mới nầy.

I.TÓM LƯỢC CHIẾN TRANH LẠNH MỸ-TRUNG

1. Nguồn gốc Chiến tranh lạnh mới (New Cold War)

Định nghĩa Chiến tranh lạnh (Cold War)

Dựa theo tự điển và các nhà nghiên cứu, thì “Chiến tranh lạnh là cuộc chiến không bằng võ lực, giữa hai hay nhiều quốc gia,với mức độ rộng lớn và mục tiêu quan trọng, có ảnh hưởng nhiều đến thế giới”.

Chiến tranh lạnh cũ (Cold War I, CW1) (1945-1991) xảy ra sau đệ nhị thế chiến, giữa Hoa kỳ và Liên xô, nói rộng hơn là  giữa Khối Dân chủ Tự do và Khối Cộng sản.

Bản chất của CW1 là xung đột về chánh trị, nguyên tắc chủ nghĩa CS, đi kèm là kinh tế, và khoa học kỹ thuật.

Còn Chiến tranh lạnh hiện nay (New Cold War, CW2), xảy ra giữa Hoa kỳ và Trung cộng, căn bản là kinh tế, với yếu tố phụ là nguyên tắc của Dân chủ đối đầu với Chuyên chính.

Bối cảnh: Sự khác biệt và đối nghịch về hệ tư tưởng chánh trị và mô thức kinh tế. Tự do dân chủ và Chuyên chính vô sản đã được hình thành và lớn mạnh trước đệ nhị thế chiến. Sau khi liên kết chống và thanh toán được phát xit, hai khối quay lại chống nhau với mục tiêu phải triệt hạ, chớ không thể dung hòa. Hai phe cùng phát triển mạnh và đương đầu trên nhiều mặt trận khắp thế giới. Cuối cùng Liên sô sụp đổ (1991). Hoa kỳ coi như thắng. Nhưng không trọn vẹn, vì một mảng của khối CS, gồm Trung cộng, Việt nam, Cuba, Bắc hàn còn sống với một số biến dạng. Đó là mầm mống của chiến tranh lạnh mới Mỹ-Trung hiện nay.

Sự khác biệt giữa hai cuộc Chiến tranh lạnh.

Sự khác biệt trên 3 điểm về mục tiêu và sách lược:

Về chủ thuyết, Hoa kỳ vẫn dựa trên Dân chủ Tự do và Nhân quyền, nhưng Trung cộng có thay đổi phần nào khác Liên sô, Trung cộng nay là nước cộng sản biến thể, áp dụng theo phân nửa là kinh tế tự do, chánh quyền vẫn độc tài toàn trị.

Về mặt trận chiến đấu, nay phức tạp hơn chiến tranh lạnh cũ nhiều. Ngày nay TC sau khi mạnh về kinh tế, lợi dụng các nhà kinh doanh ngoại quốc của mọi quốc gia dưới sự hợp tác nào đó. TC còn thâm nhập vào một số cơ chế, công ty kỹ thuật cao của Hoa kỳ hay đồng minh, và một số cơ quan quốc tế.

Con đường tiến rất nhanh đó của TC gây sự thiệt hại lớn cho Hoa kỳ về kinh tế lẫn giá trị tinh thần.

Mối tương quan Mỹ-Trung trong 70 năm qua có thể tóm tắt: Chống đối, Thương lượng, Hòa hoãn, Hợp tác, Đương đầu và Hợp tác một số mặt. Với các mốc thời điểm :

1949 Chế độ CS thành lập ở Trung hoa. 1950 Mỹ TC đụng mạnh ở chiến tranh Triều tiên, 1972 Mỹ TC bắt tay. 1978 TC đổi mới kinh tế,1979 Mỹ TC thiết lập bang giao, 2000 Mỹ TC đạt Thỏa ước mậu dịch, 2008 TC là chủ nợ lớn nhứt của Hoa kỳ, 2010 TC là siêu cường kinh tế thứ nhì, 2011 Hoa kỳ chuyển trục qua Á châu, 2012 Hai bên có căng thẳng mậu dịch, 2015 Hoa kỳ cảnh cáo TC về Biển đông, 2018 Chiến tranh mậu dịch Mỹ Trung, 2018 PTT Pence: Mỹ cứng rắn với TC, Mỹ tăng cường độ chiến tranh mậu dịch, 2019, Mỹ cho TC lũng đoạn tiền tệ, 2019 TT Trump ban hành luật ủng hộ phe chống đối Hồng kông, 2020 Mỹ TC thỏa ước mậu dịch “Phase I”, 2020 căng thẳng về đại dịch, Ngoại trưởng Pompeo tuyên bố các cam kết với TC đều thất bại, 2021 Mỹ cho TC diệt chủng ở Tân cương, 2021 TT Biden giữ thuế quan do TT Trump đưa ra, 2021 Biden – Tập cận Bình họp cố tránh xung đột. Hai phái đoàn Mỹ TC lại họp thảo luận tìm một thỏa ước.Vấn đề còn yên đó tới nay.

2.Diễn biến chiến tranh lạnh mới (CW2)

Sau khi nghịch với Liên sô, TC làm thay đổi mạnh mẽ, lại quay bắt tay với Hoa kỳ (1972).

TC tìm con đường đi mới, về chánh trị và kinh tế. Sách lược mới là kinh tế trước đã, theo chủ trương của Đặng tiểu Bình khởi đầu từ 1978, với mô hình phối hợp hai nền kinh tế tự do và XHCN. TC mở rộng cửa ra thế giới, lúc đó phong trào toàn cầu hóa do Mỹ lãnh đạo lên rất cao. Trong hơn 40 năm, TC trở thành siêu cường kinh tế thứ hai thế giới. Lợi tức đầu người từ $155,2 (1978) lên $6991,9 (2015). Thế giới kinh ngạc, để tâm đến sự thành công của“con đường Trung quốc mới”

Mặt khác, trong quảng thời gian đó, Mỹ ỷ y, không hiểu thâm mưu của TC, lại vướn vào chiến tranh Trung đông,và khủng bố quốc tế, Mỹ gần như buông lỏng TC.

Vài con số kinh tế Hoa kỳ và TC năm 2019. (Nguồn World Bank)

GDP             Xuất cảng        GDP/đầu người

Mỹ      $21374 tỷ     $1646 tỷ           $65,165

TC      $14,343 “      $2479 “            $10,260

Cuộc chiến chánh thức vào tháng 7/2018, một khởi đầu dù trễ còn hơn không, TT Trump ra chiêu tăng thuế quan từ 10% lên 25% hàng TC nhập vào Hoa kỳ. Trận mở màn nầy có tên là “Chiến tranh mậu dich”(Trade war) (7/2018). Tiếp theo đó, các mặt trận khác. Tương quan Mỹ Trung càng căng thẳng, và lan rộng ra ảnh hưởng cả thế giới. Một “chiến tranh lạnh mới” bắt đầu, nay chưa có dấu hiệu chấm dứt hay đình chiến.

Mục tiêu của Hoa kỳ và Trung quốc.

TC có 3 mục tiêu:

Muốn đoạt ngôi vị thứ nhứt trên toàn cầu, hoặc ít nhứt bằng Mỹ tới năm 2049, thứ hai là chứng tỏ “mô hình chánh trị kinh tế mới” (XHCN trong thời đài mới)tốt hơn, thực tế hơn, thứ ba là trả mối hận thù xưa TQ bị các nước tư bản xâu xé.

Còn mục tiêu của Mỹ là chống đỡ TC, để bảo vệ địa vị số một trên thế giới, thứ hai là bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình, thứ ba là bảo vệ giá trị Dân chủ Tự do và Nhân quyền.

Nếu TC lên số một lãnh đạo thế giới thì sẽ có một trật tự mới, sẽ có tai họa lớn cho mọi quốc gia.

Do đó TC và Mỹ đã có những cuộc chạy đua và cạnh tranh:

Về kinh tế, đến 2016 TC hơn về xuất khẩu. Dù GDP TC thua.

Về khoa học kỹ thuật, dù còn thua Mỹ, TC tiến nhanh nhờ qua cách ăn cắp, buộc công ty FDI nộp bản kỹ thuật, và nỗ lực của chính TC:

– Về chiêu dụ các nước, tung tiền viện trợ, hợp tác đầu tư.

– Về quân sự,TC tăng nhịp độ nhanh, nhưng còn kém Mỹ.

– Về chánh trị và tuyên truyền, TC vận động mạnh mẽ các nước.

TC cho rằng mô hình “XHCN thời đại mới” tốt hơn. Tư bản đang lỗi thời và còn nhiều tệ hại. Mỹ và đồng minh thức tỉnh, thấy được khó khăn và mối nguy hiểm từ TC. Đa số dân chúng, và truyền thông Mỹ và nhiều nước Tây phương cũng hiểu TC nay là đối thủ chớ không phải là đối tác nữa.

Cái mối nguy trước mắt cho Mỹ là mậu dịch và đầu tư, nhập siêu hàng TC vào Mỹ tăng nhanh quá (trên dưới $500 tỷ/năm trong mấy năm gần đây), Mỹ yêu cầu TC giảm nhập siêu $100 tỷ/năm. Còn FDI Mỹ vào TC quá nhiều làm trong nước Mỹ bị thất nghiệp cao, kỹ nghệ trong nước xuống, vì không cạnh tranh nổi hàng TC giá quá rẽ. Mỹ đưa ra kế hoạch chiêu dụ các công ty hồi hương. Mặt khác xuất cảng giảm vì bị TC cạnh tranh hàng hóa trên thế giới, và nắm độc quyền nhiều chuổi cung ứng. TC nhập nội đầu tư cạnh tranh ngay tại Mỹ.

Về Khoa học & Kỹ thuật, Mỹ bị TC đánh cắp và xâm nhập vào các trung tâm nghiên cứu chiến lược, cũng như một số nhà nghiên cứu Mỹ cộng tác hay bán kết quả cho TC. Hoa kỳ phản công bằng cách bắt các nhà nghiên cứu bán tài liệu cho TC, cấm công ty quốc phòng Mỹ mua bộ phận điện tử TC, cấm một số công ty TC mua bán với Mỹ, vì an ninh quốc gia.

Về Bang giao quốc tế và an ninh, TC từ nhiều năm qua chiêu dụ kết hợp đối tác và đồng minh khắp năm châu bằng tiền bạc, viện trợ lớn, như đại kế hoạch Belt & Road. Mỹ và đồng minh đã nhận ra và phản công bằng sự củng cố khối Dân chủ (TT Biden có buổi họp hồi tháng 10/2021 với 100 quốc  gia), Mỹ và Âu châu lập Liên minh chận TC ở Á châu Thái bình dương, với Bộ tứ Mỹ, Nhựt, Ấn, Úc, và Bộ ba Mỹ, Anh, Úc, Mỹ tiếp cận o bế ASEAN, hứa sẽ viện trợ cho các nước vùng Á châu Thái bình dương, cam kết sát cánh với Nhựt, Nam hàn và Đài loan, đồng thời đoàn kết hơn nữa với Âu châu để chống TC. Diễn tiến đó theo các nhà nghiên cứu, là “chiến tranh lạnh mới”

II. TÁC ĐỘNG CHIẾN TRANH LẠNH MỸ TRUNG ẢNH HƯỞNG VIỆT NAM   

Chiến tranh lạnh Mỹ Trung hiên nay đưa đến nhiều hậu quả trên thế giới mà VN là một trong số các quốc gia bị tác động và chịu ảnh hưởng nhiều nhứt. Ở trong hoàn cảnh và vị thế có tầm quan trọng khá đặc biệt,VN có thể lại trở thành một nạn nhân, hay có thay đổi lớn nếu sự xung đột mạnh nữa.

Là một cuộc chiến có nguồn gốc là kinh tế, nên phần trình bày tóm lược dưới đây chánh yếu là về phương diện kinh tế.

1. Các lãnh vực bị tác động và ảnh hưởng

Chánh tri kinh tế xã hội VN không bình thường. Nay có tác động mạnh từ bên ngoài, tình hình khó khăn nhiều hơn nữa. Các lãnh vực chánh bị tác động và ảnh hưởng:

Về kinh tế, VN sống chánh yếu là dựa vào kinh tế đối ngoại, xuất cảng và đầu tư ngoại quốc. VN mở cửa rất rộng trong hội nhập toàn cầu, đã có 17 Hiệp ước mậu dịch và rất nhiều đối tác. Mỹ và TC là hai nước có tương quan kinh tế lớn nhứt với VN, nhứt là ngoại thương, VN còn là một trong những nơi thuận tiện cho các công ty ngoại quốc từ TC di dời, và VN có tiềm năng thay thế TC về một số chuổi cung ứng (supply chain) cho thế giới. Nhưng kinh tế VN dù có mức phát triển cao, nhưng vì không có công bằng kinh tế, công bằng xã hội, nền kinh tế đó dễ bể nát khi có biến cố.

Về Địa chánh trị, cuộc chiến Mỹ Trung xẩy ra trên toàn cầu, vì ảnh hưởng của hai siêu cường nầy rộng lớn trên cả thế giới. Nhưng chiến trường chánh yếu là Á châu Thái bình dương, vùng có tiềm năng dầu lửa lớn và hải lộ quốc tế quan trọng. Các nước Đông nam Á có sức phát triển mạnh và bền vững. VN là quốc gia có vị thế trọng yếu, là trung tâm vùng, là cửa ngỏ của TC ra Biển đông. Đối với Hoa kỳ và đồng minh cũng xem vùng nầy rất quan trọng. Mỹ và TC là hai nước có tương quan kinh tế lớn nhứt với VN, vì vậy có ảnh hưởng lớn với VN chẳng những về kinh tế mà còn về an ninh trong vùng.

Về chánh trị và bang giao quốc tế. VN vẫn còn là một nước XHCN, một nước độc tài chuyên chính. Bất công xã hội, tham nhũng, vi phạm trầm trọng ‎nhân quyền Dân quyền, là những vấn nạn có thể bị Mỹ và đồng minh cưỡng ép khi có xung đột mạnh với TC, nhứt là khi VN không giữ “vị thế đứng giữa” trong chánh sách “đu dây “. VN có thể bị kẹt cả hai bên.

“Thế tam giác” Mỹ-TC-VN chỉ tạm thời không vững chắc.

Với Mỹ, VN có lợi kinh tế nhiều,VN xuất siêu 40 tỷ/năm.  Nhưng với TC, VN bị quá nhiều cái kẹt, bị cưỡng bách từ chánh trị, lãnh thổ, lãnh hải tới ngoại thương và tiền đồn cho TC. Riêng ngoại thương, VN nhập siêu trung bình năm năm qua tới $35 tỷ mỹ kim/năm.

Ví dụ  Năm 2019, tình trạng xuất siêu của VN (triệu mỹ kim)

VN-Hoa kỳ          VN-TC              VN-Thế giới

Xuất siêu           Xuất siêu               Xuất siêu

$46,898,77        -$34,009,56          $10,371,37

(Nguồn: IMF, Trade statistic)

 

Về kinh tế đối ngoại, một thử thách lớn nữa mà VN cần phải sửa đổi cho đúng qui định của các Hiệp định mậu dịch quốc tế mà VN đã cam kết. Đó là VN không phải là nền kinh tế thị trường thực sự, khu quốc doanh lớn và có nhiều ưu tiên, tham nhũng, hạ tầng cơ sở kém, bộ máy chánh quyền không hiệu năng, không lương thiện… Hoa kỳ và Tây phương có thể bắt ép khi cần.

b/.Tác động và ảnh hưởng về bang giao quốc tế. Trên nguyên tắc VN bang giao với mọi nước, không có liên minh với nước nầy để chống nước khác. VN không chọn bên, tại Liên hiệp quốc VN có bề ngoài trung lập. Nhưng trên thực tế ai cũng biết VN là nước CS còn lại, chịu sự trói buộc của TC. VN thân thiện với Hoa kỳ và các nước Tự do dân chủ khác chỉ vì tiền, vì khoa học kỹ thuật, vì thế kẹt ở Đông nam Á. Cái thế đó rất dễ tác động của chiến tranh lạnh mới.

c/. Tác động và ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng

Dù Mỹ và TC có bước qua chiến tranh nóng, trong khoảng 10 năm nay, TC đã xây dựng nhiều căn cứ quân sự trên biển đông cũng như cá cuộc tập trận của hai bên, tạo một không khí căng thẳng hơn bao giờ hết. VN nằm ở trung tâm. Cả Mỹ và TC đều muốn kéo VN vào. Và hệ lụy sẽ không nhỏ nếu VN nghiên nhiều về một bên.

d/Tác động và ảnh hưởng về tâm l‎ý quần chúng.

Khó khăn và thử thách từ phía quần chúng. Khi VN được quốc tế hóa còn hơn là âm thầm CS kéo dài biết bao giờ. Kinh nghiệm sự giải thể tại nhiều nước có khi ở trong tình cảnh như thế.  Những mở rộng trong bang giao quốc tế, đưa tới nhiều cơ hội cho người dân hiểu rõ hơn về chuyên chính vô sản, về tự do và nhân quyền. Chiến tranh lạnh mới tác động đến dân có hiểu biết cho công cuộc tranh đấu chung.

2. VN ứng phó với chiến tranh lạnh Mỹ Trung

Trong chiến tranh lạnh lần nầy, cũng như lần trước, chỉ bị tác động, tức là chánh yếu là nhận chịu kết quả của hai siêu cường. Tuy nhiên VN phải có những cách ứng phó, thì có thể làm cho VN ít thiệt hại hơn và nhiều thuận lợi hơn trong tương lai trước mắt cũng như lâu dài. Ở hoàn cảnh của VN việc ứng phó quốc tế phải từ dân và từ chánh quyền. Có thể có những ứng phó trong thời gian trước mắt hay trong tương lai xa. Có thể ba thành phần cần ứng phó: Chánh quyền VN, quần chúng trong nước, và Hải ngoại, gồm người Việt hải ngoại và quốc tế.

Về phía chánh quyền VN

Chánh quyền VN có nhiều thử thách vì là chánh thể độc tài, lệ thuộc TC. Cho nên sự ứng phó của chính quyền có nhiều thử thách, nếu “bắt cá hai tay”, và quen thói dối trá, thì VN sẽ gặp nhiều khó khăn trong tương lai. Có ba điều chánh quyền phải đối phó và phải chuyển biến.

Thứ nhứt là “chánh sách đu dây”, VN phải chứng tỏ trên thực tế theo đuổi chánh sách “không chọn bên mà chọn công bằng” ‎”nếu bị TC ép mạnh, Mỹ cũng sẽ có áp lực VN về quan thuế, về tiền tệ, và đầu tư năng lượng Mỹ hứa (khoảng 10 tỷ), về nhân quyền. Trong trường hợp Mỹ cấm vận kinh tế TC, VN sẽ bị ảnh hưởng gián tiếp.

Thứ hai là một số yêu cầu của kinh tế đối ngoại. Kinh tế VN dựa vào Mỹ và đồng minh Mỹ lớn hơn nhiều dựa vào TC và Nga. VN phải cải thiện những điều đã cam kết trong các Hiệp định quốc tế về Công đoàn độc lập, về giảm quốc doanh, về sự minh bạch, và tuân thủ nghiêm chỉnh luật quốc tế.

Thứ ba là có sự công bằng kinh tế xã hội và lương thiện, tham nhũng trong kinh tế quốc nội VN để có tin tưởng ở dân và uy tín với quốc tế.

Về phía quần chúng trong nước   

Khi chánh quyền bị áp lực mạnh hơn từ chiến tranh lạnh thì chánh quyền CSVN sẽ gia tăng cưởng bức, đàn áp. Nhưng người dân nói chung các Hội đoàn dân sự nói riêng nên thấy đây là cơ hội mới. Một cuộc chơi mới theo luật quốc tế có qui định. Những mục tiêu tranh đấu ngay từ bây giờ cần đẩy mạnh như công đoàn độc lập, dân quyền công bằng kinh tế, sở hữu đất, bảo vệ tài nguyên quốc gia, bảo vệ lãnh hải…

Về phía bên ngoài VN

Đó là cộng đồng người Việt hải ngoại, và các Tổ chức hay cơ quan quốc tế. Nói chung cộng đồng quốc tế đang điều chỉnh lại, khôi phục lại con đường chung, công việc chung là bảo vệ Dân chủ Tự do và Nhân quyền. Vai trò của cộng đồng hải ngoại là làm gạch nối giữa cộng đồng thế giới với khối dân chúng trong nước . Về công việc nầy, tôi nghĩ tới viễn kiến của GS Nguyễn Ngọc Huy trong sách lược tranh đấu là thành lập “Ủy ban quốc tế yểm trợ VN tự do” cách dây hơn ba thập niên.

Dù cuộc chiến chuyển biến như thế nào, chưa biết được, nhưng vì quyền lợi kinh tế ràng buộc có khả năng đi tới một giải pháp thương lượng. Nhưng trong biến động lớn Mỹ Trung lại thêm việc Nga xâm lăng Ukraina mà TC ủng hộ Nga, làm xung đột gia tăng, thương thảo khó hơn, hậu quả là cộng đồng thế giới bị nhiều mất mát, ít hay nhiều, về vật chất lẫn tinh thần. Riêng VN, người Việt cần chuẩn bị cho thời cơ nầy, trong cái rũi có thể có cái may cho Dân tộc.

Nguyễn Bá Lộc

Cali, 31/07/2022 (Nhân ngày giỗ GS Nguyễn Ngọc Huy)

locba9999@yahoo.com

Hits: 25

Nhắc đến những người Hội An

Đỗ Hữu Long

Phố cổ Hội An (ảnh: Pixabay/Tri Le)

Những diễn tiến nghiệt ngã cuả lịch sử dân tộc từ giữa thế kỷ 20 cho đến nay đã đưa các thế hệ người Hội An phân tán đến những nơi xa lạ. Một số người không thể tiếp xúc với nhau trực diện, nhưng qua phương tiện truyền thông, sử sách hoặc một vài cơ hội hi hữu, họ cũng có dịp tưởng nhớ đến nhau với một số chi tiết liên hệ biểu lộ qua bài viết.

Phóng viên nhiếp nh chiến tranh Việt Nam Lê Minh Thái.

Phóng viên chiến trường Lê Minh Thái tại trận địa An Lộc 1972 (ảnh : AP Photo/Quynh Thai)

Theo bản tin AP ngày 24 tháng 10 năm 2014 cuả Julie Watson, Ông  Lê Minh Thái, một phóng viên nhiếp ảnh chiến tranh Việt Nam đã từ trần ngày 10/10/2014 tại một nhà dưỡng lão ở Encinitas, tiểu bang California- hưởng thọ 93 tuổi sau bảy năm lưu trú tại đây.

Theo lời kể cuả những người thân thuộc, ông Thái là trưởng nam cuả một gia đình thương nghiệp tại thành phố cổ Hội An, Việt Nam. Ông trở thành một nhân viên cuả giới truyền thông Sài gòn khi làm việc với Associated Press vào thập niên 1950 và sau đó cộng tác với tạp chí Life Time trong suốt cuộc chiến Việt Nam.

Ông cũng liên hệ chặt chẽ với Chính Quyền và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cũng như tận tình giúp đở các phóng viên ngoại quốc di chuyển khắp lảnh thổ miền Nam Việt Nam. Ông cũng là nhiếp ảnh viên đặc biệt cuả Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu và đã được Tổng Thống yêu cầu chụp những tấm hình chân dung chính thức. Ông cũng xông xáo săn hình trong những căng thẳng bùng nổ giữa Sài Gòn gồm những cuộc biểu tình cuả sư sải và sinh viên trong lúc chiến tranh leo thang.

Năm 1963 ông giúp tuần báo Time mở văn phòng tại Sài Gòn. Người Mỹ thường đến tiệm ảnh cuả ông ở Sài Gòn để chụp hình gởi về gia đình. Ông cũng mời quân nhân Mỹ đến nghỉ ngơi tại nhà hoặc đưa đi dạo phố.

Mở đầu sự nghiệp, ông cung cấp tin tức cho tuần báo Pháp Paris Match. Ông cũng có mặt tại chiến trường Điện Biên Phủ, và tiếp theo là phóng viên tại Geneve cung cấp tin tức thoả hiệp hoà bình chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Ông Thái và gia đình đi Mỹ ngày 23 tháng 4 năm 1975 sau nhiều tháng làm việc giúp đở nhân viên Time Life di tản. Ông định cư tại Los Angeles, tiếp tục làm việc cho báo Times đồng thời mở một tiệm chụp hình dành cho khách Việt Nam làm thủ tục cư trú. Ông chấm dứt làm việc với báo Time năm 1984 nhưng vẫn tiếp tục hành nghề chụp hình khi về hưu.

Vào tuổi thanh niên, ông Thái rời Việt Nam để theo học quân sự tại Học Viện Quân Sự Côn Minh (Kunming Military Academy) miền Nam Trung Hoa. Trong cuộc chiến Hoa-Nhật, Ông gia nhập hàng ngủ Trung Hoa Quốc Dân Đảng trong cương vị một sĩ quan tình báo có nhiệm vụ nhận diện những cãm tình viên thân Nhật Bản. Ông bị trúng một viên đạn bên cạnh sườn và mang trong người suốt đời. Ông chấm dứt liên lạc với Trung Hoa Dân Quốc khi Pháp tái lập kiễm soát Việt Nam sau Thế chiến II. Ông Thái làm giáo viên tại Hội An một thời gian và di chuyển sang Lào với vợ, mở trường học, làm nhiếp ảnh viên cho hoàng gia Lào truớc khi trở lại Việt Nam năm 1953.

Ông sống với vợ -bà Ying- sáu con và sáu người cháu tại Carlsbad, tiểu bang Cali.

Ông Thái hưởng thọ 93 tuổi, suy ra ông sinh năm 1921, như vậy trong khúc quanh lịch sử năm 1945, ông đang độ thanh xuân 24 tuổi. Tiểu sử cuả ông Thái làm người dân phố Hội nhớ đến nhạc sĩ tài hoa La Hối, tác giả bản nhạc bất hủ Xuân và Tuổi Trẻ.

Nhạc sĩ La Hối.

Nhạc Sĩ La Hối (nguồn ảnh: Wikipedia)

Nhạc sĩ La Hối là một thành viên trong tổ chức cuả cư dân Hội An gốc Hoa chống Nhật, bị hiến binh Nhật bắt tháng 5 năm 1945, tra khảo và bắn chết với mười đồng chí, chôn chung một huyệt mộ tại chân núi Phước Tường lúc 25 tuổi. Sau khi Nhật đầu hàng, di hài cuả nhạc sĩ và các tử sĩ được thanh thiếu niên Hoa kiều ở Hội An tổ chức nghi lễ trang trọng đưa về an táng tại nghiã trang đối diên với chuà Chúc Thánh.  Thời thiếu niên, chúng tôi có dịp nhìn ngắm hình hoạ chân dung nhạc sĩ La Hối và các liệt sĩ trưng bày trong sảnh đường cánh phải chuà Ngũ Bang đường Cường Để.

Như vậy có thể nghĩ rằng ông Lê Minh Thái là người cùng một đoàn thể với nhạc sĩ La Hối, nhưng đuợc cấp trên điều động đi học quân sự và tình báo tại Học Viên Quân Sự Côn Minh nên tránh thoát cuộc tàn sát cuả quân phiệt Nhật.

Việc theo học các trường quân sự tại Trung Hoa Dân Quốc vẫn là những cơ hội hiếm hoi dành cho một vài cá nhân thuộc những lực lượng cách mạng Việt Nam lưu vong tại Trung Hoa hoặc họat động tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Ông Thái được đưa đi từ Hội An đến thủ phủ Vân Nam, quả là một sự chiếu cố đăc biệt cuả Trung Hoa Quốc Dân Đảng đối với một gia đình uy tín và hữu công.

Cư dân thành phố Hội An từ thời Pháp thuộc đến năm 1954 có một sắc thái đặc biệt với đa số người gốc Minh Hương. Vào thời chúng tôi, bạn học người Minh Hương nhiều lắm, họ chỉ biết tiếng Việt và học chữ Việt, nhưng vào thế hệ qúi ông La Hối, Lê Minh Thái (1920) văn tự và ngôn ngữ chắc hẵn phải nghiêng về Hán văn, Pháp văn, Hoa ngữ, Pháp ngữ. Ngay như bản nhạc Xuân và Tuổi Trẻ, phần lời ca lúc ban đầu do nghệ sĩ Diệp Tuyền Hoa viết bằng chữ Hán. Năm 1946, khi nhà văn Thế Lữ đưa đoàn kịch nói Anh Vũ xuôi Nam, đến Hội An trình diễn, cảm khái cuộc đời cuả tác giả và giai điệu cuả bản nhạc nên xin phép soạn lời ca bằng tiếng Việt, lưu truyền đến ngày nay.

Từ những sự kiện kể trên, có vài người nghĩ rằng ông Lê Minh Thái mang một họ nào khác. Đọc chính sử và dã sử Trung Hoa, người ta hiếm thấy nhân vật họ Lê trong khi họ Lê rất phổ biến trong sách vở Việt Nam, phát tích từ những nơi sơn dã thuần Việt, cổ Việt như Ninh Bình, Lam Sơn. Trước Hiệp Định Geneve, Hội An có nhiều cửa hàng trưng bày đẹp mắt, nhưng muốn tìm mua những vật dụng kim khí như đinh, ốc, kềm, buá… phải ghé tiệm La Thiên Hoà. Cụ La Thiên Hoà cũng là một cội nguồn cuả một tôn tộc, con cháu nội ngoại đông đảo và thành đạt.

Hồi chánh viên hữu công La Thanh Đồng.

Anh La Thanh Đồng là trung úy bộ binh công sản Bắc Việt gốc người Hội An, Quảng Nam. Theo tài liệu The Chieu Hoi Program of Viet Nam cuả SGM Herbert A. Friedman, anh Đồng hồi chánh ngày 20 tháng Giêng năm 1968 với thủy quân lục chiến Mỹ tại căn cứ Khe Sanh.

Trận chiến Khe Sanh khai hoả ngày 21 tháng Giêng năm 1968, truớc tổng công kích Tết Mậu Thân chín ngày, đựợc nhiều tài liệu và nhiều tác giả nhắc đến với đầy đủ chi tiết.

Một chiến dịch oanh tạc khổng lồ bằng không quân yễm trợ cho thủy quân lục chiến cố thủ Khe sanh. Kể đến giữa tháng Tư, hơn 100.000 tấn bom -tương đương với sức tàn phá cuả năm quả bom nguyên tử rơi xuống Hiroshima- do phi cơ của không quân, hải quân, thủy quân lục chiến ném xuống xung quanh căn cứ. Tính ra, mỗi ngày có 1.300 tấn bom được xử dụng hay là 5 tấn cho mỗi đầu người cộng quân Bắc Việt với tổng số ước lượng khoảng 20.000 cán binh tham chiến. Ngoài ra, 158.000 đạn đại pháo cũng được bắn vào những khu đồi núi trong khu vực, bình quân mỗi cán binh cộng sản nhận lảnh 8 quả đạn.

Âm thanh cuả trận đánh Khe Sanh vang dội đến Toà Bạch Ốc, các đô thị lớn cuả Mỹ và khắp nơi trên thế giới. Tổng Thống Johnson ra lệnh phải giữ Khe Sanh bằng mọi giá. Tuớng Westmoreland cũng nhắc đến vũ khí nguyên tử (Nguyên văn: In late January, General Westmoreland had warned that if the situation near the DMZ and at Khe Sanh worsened drastically, nuclear or chemical weapons might have to be used)

Hồi chánh viên La Thanh Đồng cung cấp kế hoạch hành quân tổng quát cuả cộng quân Bắc Việt và tiến trình cuả trận đánh. Anh trình bày rõ mưu toan cộng quân tiến chiếm Đồi 861 và Đồi 881S để mở đầu cuộc tấn công chính thức nhắm vào trận điạ Khe Sanh. Trong cuộc giáp chiến, cộng quân sẽ đuợc yễm trợ bằng pháo binh hạng nặng đã được che chắn kỹ lưỡng trong dảy núi Co Roc thuộc lãnh thổ Lào. Kể từ khi Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến Việt Nam, Khe Sanh là nỗ lực quan trọng nhất do tướng Giáp chỉ huy. Chiến thắng cuả thủy quân lục chiến Mỹ tại Khe Sanh có thể là phần đóng góp tin tức từ người hồi chánh qúi báu nầy.  (Nguyên văn: The Marine’s victory at Khe Sanh can be attributed in part to the information gained from this valuable Chiêu Hồi).

Sau đó, anh La Thanh Đồng được Bộ Chiêu Hồi tuyển dụng làm đại đội trưởng võ trang tuyên truyền, trú đóng tại trung tâm chiêu hồi Cần Thơ. Anh Đồng là một nguồn tin sống vô giá, cũng là ân nhân cuả người Mỹ vì vậy thỉnh thoảng vẫn có những người Mỹ đến thăm viếng, phối kiểm tin tức, tặng quà.

Vốn là người Quảng Nam, nhỏ con, chơn chất, sinh hoạt và làm việc giữa những đồng đội hồi chánh viên thuộc các đơn vị cộng sản điạ phương miền đồng bằng sông Cữu, anh Đồng cảm thấy khó khăn, cô đơn, anh ngỏ ý muốn được thuyên chuyển về trung ương hoặc một điạ phương thích hợp. Một viên chức hành chánh cuả Bộ Chiêu Hồi phụ trách Quân Khu IV ghi nhận nguyện vọng cuả anh và tìm cơ hội gíup đở. Tuy nhiên sự thay đổi nhiệm sở đến Quân Khu II, Nha Trang đã xảy ra và lời hứa với người đồng hương không thực hiện được vẫn là mối ám ảnh khó quên.

Sự rút quân và cắt viện trợ cuả Hoa Kỳ kéo theo sự sụp đổ cuả Việt Nam Cộng Hoà tạo ra nổi thất vọng, đau đớn khôn nguôi đối với quân dân cán chính Miền Nam. Riêng đối với các hồi chánh viên đã tích cực đóng góp tin tức, tham gia các cuộc hành quân tiểu trừ cộng sản, cảm thấy tuyệt vọng và phẫn uất cùng cực vì họ là những đối tượng bị Mafia cộng sản xem là phản đảng và bị trả thù tàn bạo nhất.

           ******

Hội An, một thành phố đa văn hoá gồm các màu sắc Việt, Hoa, Nhật (Chuà Cầu), Pháp (nhà thờ Công Giáo). Cho đến 1955, người Việt gốc Hoa giữ ưu thế về sở hữu bất động sản và các hoạt động thương mại. Tiêp theo, khi chính quyền Việt Nam Cộng Hoà được thiết lập vững vàng với Quốc Hội và Hiến Pháp, cuộc sống tại các đô thị phát triển nhanh chóng, lôi cuốn đông đảo cư dân các quận xa, gần đến sinh cơ lập nghiệp, trong khi môt số thanh thiếu niên gốc rễ Hội An, Đà Nẵng có dịp hướng vào Sàigòn và các tỉnh, thị miền Nam. Tuy đua chen trong khung cảnh mới lạ, năng động và hấp dẫn, một số người vẫn giữ những quyến luyến, những lưu niệm từ khi mới lớn đến lúc ra đi.

Nhắc lại Hội An với những cá nhân đặc biệt là tâm trạng “hoài hương” cuả một người luống tuổi chưa có dịp trở lại thăm bà con, mồ mã, bạn bè, “cảnh cũ người xưa” cuả quê hương xứ Quảng kể từ 1990, khi chuẩn bị tham gia chương trình H.O. tị nạn cộng sản.

Đỗ Hữu Long

 

Hits: 30

Từ “Black April: The Fall Of South Vietnam 1973-1975” Đến: “Drawn Swords In A Distant Land: South Vietnam Shattered Dreams”

Nguyễn Quang Dũng

George J. Veith và hai tập sách nghiên cứu về Việt Nam

Ông George J. Veith không phải là một người xa lạ với cộng đồng người Việt Quốc Gia vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn mà trái lại là một người bạn rất thân với nhiều người Việt trong vùng. Nhiều năm về trước, tại trụ sở Hội Người Việt Cao Niên, nhiều người chúng ta có dịp gặp Veith trong buổi Ra Mắt Sách bản dịch “Black April”( “Tháng Tư Đen”) và có lẽ nhớ đến Veith là tác giả của cuốn sách nổi tiếng này về những năm chiến đấu cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa cho đến ngày Sài Gòn thất thủ, 30/4/1975.

Nhưng Veith không ngừng ở “Black April.” Trong cuốn sách mới nhất của ông, “Drawn Swords in a Distant Land: South Vietnam’s Shattered Dreams” do Encounter Books xuất bản năm 2021, ông dẫn người đọc đi sâu hơn, xa hơn trong hành trình nghiên cứu phức tạp và rộng lớn hơn về sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam hay về một giấc mơ, hay nói đúng hơn, về một hoài bão xây dựng một miền Nam Việt Nam dân chủ, độc lập và tự cường cuối cùng đã bị vỡ vụn.

Phải nói hai cuốn sách nói trên của Veith đều là những cuốn sách “nặng ký”, cả lượng lẫn phẩm.
Cả hai cuốn sách đều dày trên 600 trang, chữ nhỏ, bìa cứng. Bài viết này sẽ cố gắng giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách mới của Veith, Drawn Swords in a Distant Land.

1. Tựa đề của cuốn sách là một chọn lựa chữ nghĩa “kỳ lạ” của Veith.
Không đơn giản và trực tiếp như “Black April”, “Drawn Swords in a Distant Land” làm độc giả người Việt liên tưởng ngay đến một cuộc “đấu gươm” hay “kiếm đã tuốt ra khỏi vỏ” và cuộc đấu kiếm đã khởi động ở một vùng đất xa xôi, Việt Nam.

Nhưng thực ra không phải vậy.
Veith có cách đặt tựa đề cho mỗi chương sách rất lôi cuốn. Người đọc có cảm tưởng như đang theo chân một phóng viên chiến trường (như trong “Black April” ) tường thuật những trận chiến ác liệt hay theo dõi một phóng viên thời sự phân tích những cuộc chiến phức tạp đầy dẫy những toan tính, đấu đá trên đấu trường chính trị. Và trong Drawn Swords in a Distant Land , chỉ có một chương, là chương chót, có nhắc đến chữ “Sword”: Chương 24, trang 535, với tựa đề là “I Will Draw Out My Sword”.

Ở cuối chương 24, những dòng chót trong phần kết luận của cuốn sách, Veith trích dẫn câu Kinh Thánh ẩn dụ số phận của dân tộc miền Nam Việt Nam: “I will turn my face against you so that you will be defeated by your enemies…I will scatter you among the nations and will draw out my sword and pursue you. 82”
Tìm cái “ghi chú” số (82) ở trang 618 thì chỉ là mấy chữ: “Leviticus 26:17-38” (Lê-vi-ký 26:17-38).

Dưới đây là bản tiếng Việt sách Lê-vi-ký, đoạn 26, dòng 17 đến 38:

(Lê-vi-ký 26:17Ta sẽ nổi giận cùng các ngươi; các ngươi sẽ bị quân thù nghịch đánh đập; kẻ nào ghét các ngươi sẽ lấn lướt các ngươi, và các ngươi sẽ chạy trốn không ai đuổi theo. 18 Nếu đến đỗi vậy mà các ngươi không khứng nghe ta, ta sẽ vì cớ tội phạm, thêm gấp bảy lần đặng sửa phạt các ngươi, 19 và ta sẽ dẹp sự kiêu ngạo về năng lực các ngươi. Ta sẽ khiến trời các ngươi cứng như sắt và đất trơ như đồng; 20 năng lực mình hao mòn vô ích, đất không sanh sản huê lợi, cây cối không kết bông trái. 21 Nếu các ngươi phản đối cùng ta, và không muốn nghe ta, thì ta sẽ tùy theo tội phạm giáng tai vạ trên các ngươi gấp bảy lần nữa. 22 Ta sẽ sai những thú đồng đến tha con cái các ngươi đi, ăn hại súc vật, diệt số người ra ít; và đường nẻo các ngươi sẽ vắng tanh. 23 Dẫu đến những việc ấy mà các ngươi cứ không phục sự sửa phạt ta, cứ phản đối cùng ta, 24 thì ta đây cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi, và vì cớ tội lỗi, sẽ giáng tai vạ cho các ngươi gấp bảy lần nữa. 25 Ta sẽ khiến gươm giáo đến trên các ngươi đặng báo thù sự giao ước ta; khi các ngươi hội hiệp trong những thành mình, ta sẽ giáng dịch hạch đến giữa các ngươi, và nộp các ngươi vào tay thù nghịch. 26 Khi ta dẫn sự đói kém đến, mười người nữ sẽ nướng bánh của các ngươi trong một lò, cân bánh trao lại cho các ngươi; các ngươi sẽ ăn mà không no. 27 Dẫu đến nỗi vậy, mà các ngươi cứ không khứng nghe ta, còn phản đối cùng ta, 28 thì ta cũng sẽ nghịch lại cùng các ngươi cách giận dữ, và vì cớ tội lỗi các ngươi, sẽ sửa phạt gấp bảy lần nữa. 29 Các ngươi sẽ ăn thịt con trai con gái mình; 30 ta sẽ hủy diệt những nơi cao các ngươi, phá đổ những hình mặt trời, và để thây các ngươi chồng trên thây của hình tượng mình, tâm hồn ta sẽ ghê gớm các ngươi. 31 Ta sẽ làm cho thành các ngươi ra vắng vẻ, các nơi thánh quạnh hiu, và ta chẳng còn hưởng mùi thơm về của lễ các ngươi nữa. 32 Ta sẽ làm xứ ra đồi bại, đến đỗi kẻ thù nghịch ở tại đó cũng lấy làm lạ. 33 Ta sẽ tản lạc các ngươi trong các dân và rút gươm ra đuổi theo sau các ngươi: xứ các ngươi sẽ hoang vu, thành sẽ vắng vẻ. 34 Trọn trong lúc đất bỏ hoang vu, và các ngươi ở trong đất của kẻ thù nghịch, khi đó đất sẽ được an nghỉ hưởng những năm sa-bát. 35 Trọn lúc đất bỏ hoang vu sẽ được an nghỉ; vì lúc các ngươi còn ở đất đó, nó không được an nghỉ trong những năm sa-bát của các ngươi. 36 Còn ai trong các ngươi sống sót lại, ta sẽ làm cho họ nhát gan trong xứ của thù nghịch mình; tiếng lá khua sẽ làm cho họ chạy trốn, khác nào chạy trốn trước lưỡi gươm, té ngã mà không ai đuổi theo. 37 Người nầy vấp ngã trên người kia như trước ngọn gươm, vốn chẳng ai rượt đuổi theo họ; các ngươi không thể chịu nổi trước mặt quân thù nghịch mình. 38 Các ngươi sẽ bị chết mất giữa các dân, đất kẻ thù nghịch sẽ nuốt các ngươi.

Nguồn: https://vietchristian.com/kinhthanh/tim.asp?btt/2/26:0-27:0 )

Rất lạ lùng với ẩn dụ từ đoạn kinh Lê-vi-ký trong Thánh Kinh mà Veith dùng để so sánh với số phận nghiệt ngã của dân tộc miền Nam Việt Nam sau 30-4-1975: Người dân Việt chúng ta, phân tán, lưu vong khắp nơi trên thế giới, giống như dân Do Thái, nhận lãnh hình phạt của Đức Chúa Trời từ những tội lỗi mà chúng ta đã làm do cuộc sống chạy theo những sa đọa tội lỗi, vật chất, không thờ phượng và tuân phục Luật Chúa.

Rất lạ lùng, vì nếu có chăng trong ý nghĩ của nhiều người Việt, chịu ảnh hưởng nặng văn hóa Khổng giáo và Phật giáo, thì số phận của hàng triệu người Việt lưu vong sau 30-4 là cộng nghiệp từ hệ nghiệp-quả của việc xóa bỏ và đồng hóa dân tộc Chàm trên bước đường Nam Tiến, mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam của cha ông chúng ta.

2. Veith dành hơn 6 năm trời để thu thập, nghiên cứu tài liệu; tiếp xúc, phỏng vấn nhiều nhân vật đã từng tham gia các vị trí quan trọng trong chính phủ VNCH; và nhất là đặt trọng tâm cho công trình nghiên cứu của ông để theo dõi và tìm hiểu về tiến trình khai sanh của Đệ Nhị Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam và về một vị tổng thống bị bỏ quên bên bờ lịch sử vì đã thua trận chiến cuối cùng với kẻ địch: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Rất hiếm các sách báo tiếng Anh hay tiếng Việt nghiên cứu nghiêm túc về Đệ Nhị Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của TT Nguyễn Văn Thiệu. Lấy ví dụ, tập sách “Voices from the Second Republic of South Vietnam (1967-1975)” (Tiếng Nói từ Đệ Nhị Cộng Hòa Nam Việt Nam 1967-1975) do Sử gia K.W. Taylor, Trung tâm Xuất bản Đông Nam Á thuộc Đại học Cornell, chủ biên, thì chỉ là một thu thập một số bài viết từ 10 tác giả VNCH đã từng tham chính và giữ vị trí quan trọng trong chính phủ Nam Việt Nam thời Đệ Nhị Cộng Hòa.

Veith trình bày công trình nghiên cứu lịch sử về miền Nam Việt Nam của ông một cách có hệ thống và xuyên suốt dẫn đi từ thời Gia Long thống nhất Việt Nam, thời Pháp thuộc, giai đoạn phân chia đất nước 1945-1954, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, và rốt ráo đặt hết trọng tâm cuốn sách cho Đệ Nhị Cộng Hòa và TT Nguyễn Văn Thiệu. Veith chọn một con đường riêng không ai làm trước đây khi chọn TT Nguyễn Văn Thiệu là nhân vật lịch sử trọng điểm cho công trình nghiên cứu sử của ông, trong lúc TT Nguyễn Văn Thiệu thường bị lãng quên, hay tệ hơn, bị đổ tội hay nhắc tới trong các sách báo nghiên cứu như một TT độc tài, bất xứng, không có khả năng lãnh đạo và dẫn tới hậu quả tất nhiên là sự sụp đổ của miền Nam.

Lịch sử thường thuộc về Phe Thắng Cuộc. Các tài liệu, văn bản, nhân chứng của Phe Thua Cuộc sẽ đi vào lãng quên hay mất mát theo thời gian. Công trình nghiên cứu của Veith trong Drawn Swords in a Distant Land do vậy sẽ là tài liệu rất quan trọng (nhất là cho người Việt ở nước ngoài) ghi nhận lại những nỗ lực của miền Nam Việt Nam trong việc xây dựng một thể chế dân chủ, pháp quyền, và kinh tế thị trường dựa trên quyền tư hữu trong thời chiến tranh.

3. Trọng tâm cuốn sách Drawn Swords in a Distant Land là sự nghiệp chính trị của TT Thiệu và nỗ lực của ông trong việc xây dựng Đệ Nhị Cộng Hòa, một chính thể cộng hòa dân chủ, pháp quyền với một nền kinh tế tư hữu. TT Thiệu đã phải hoàn thành điều này trong khi chiến đấu quyết liệt chống lại kẻ thù cộng sản nằm vùng và xâm nhập từ miền Bắc. Veith là một nhà nghiên cứu sử hiếm hoi đặt mình vào vị trí và góc nhìn của Nam Việt Nam, điều này làm giảm bớt vai trò của các góc nhìn “kiểm soát và thống trị” của chính phủ Hoa Kỳ đối với sinh hoạt chính trị Nam VN và cho phép độc giả nhìn nhận chính quyền Nam VN như một thực thể chính trị độc lập và sinh động, đối phó với các tình huống thay đổi hàng ngày trước mặt.
Veith cho rằng vai trò của TT Thiệu đã bị đánh giá một cách không công bằng. Nhiều thành tích và thành quả chính trị, kinh tế của ông đã bị lãng quên. TT Thiệu thực hiện cải cách ruộng đất, xây dựng vững mạnh guồng máy chính quyền trung ương và địa phương, giám sát một số cuộc bầu cử, và hàn gắn lại một miền Nam VN sống thường xuyên và liên tục trong xung đột và rạn nứt. TT Thiệu phải vượt qua tất cả những khó khăn trong việc xây dựng đất nước trong khi hàng ngày phải lãnh đạo quân đội VNCH bảo vệ sự toàn vẹn và an ninh lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Bức chân dung đầy thiện cảm của Veith về TT Thiệu cho thấy hình ảnh một cá nhân kiên cường, một người đã biến đổi từ một vị tướng quân đội khiêm tốn thành một chính trị gia đầy khả năng và mưu lược để đứng vững trước nhiều tình huống của thời cuộc.

Veith mô tả TT Thiệu như một hình mẫu của khả năng quản lý, nhưng đồng thời cũng không thể giám sát một chính phủ đang gặp khó khăn bởi tham nhũng và bê bối mà ông không thể kiểm soát. Thêm vào đó, TT Thiệu không bao giờ có thể thống nhất các nhóm xung đột giữa những người theo chủ nghĩa quốc gia của miền Nam Việt Nam.

Những vấn đề này là đặc tính của tất cả các nền dân chủ non trẻ, và mặc dù có sự bất mãn giữa người dân miền Nam Việt Nam với chính phủ của TT Thiệu, chính thể Đệ Nhị Cộng Hòa nhất định vẫn tốt đẹp hơn nếu so với chính thể độc tài đảng trị của cộng sản miền Bắc. Nhưng cuối cùng, TT Thiệu đã không thể vừa xây dựng đất nước vừa chống lại kẻ thù sau khi mất đi sự ủng hộ của người Mỹ.

4. Tạm kết: Đối với nhiều độc giả người Việt, chúng ta có thể tìm thấy lại mình ở trong một giai đoạn lịch sử nào đó dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Nếu đời sống mỗi người chúng ta tạo thành một mảnh của bộ tranh ráp hình thì Veith là người đã cặm cụi nhiều năm trời để góp nhặt, tìm hiểu quan sát và lắp ráp hàng trăm ngàn mảnh nhỏ của đời sống người dân và chính quyền miền Nam Việt Nam. Sau cùng, Veith cũng đã hoàn thành được việc “lắp ráp” một bức tranh lớn của Đệ Nhị Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Điều quan trọng Veith muốn trình bày với độc giả là bức tranh này có hình dáng đặc thù và sắc thái riêng của nó. Nhất định đây là một công trình thực hiện đầy tham vọng của Veith đáng được đánh giá cao và là thách thức đối với nhiều sách báo và nghiên cứu cho rằng miền Nam Việt Nam là một con rối thối nát của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Và ở lúc này, bây giờ, 47 năm ngày quốc hận 30-4, xin cảm ơn ông, George J Veith.

Vì lẽ, cuối cùng ở đây chúng ta thực sự có một người bạn Hoa Kỳ, rất tài giỏi, am hiểu tình hình đất nước Việt Nam và đứng cùng chung một chiến tuyến của những người Việt Quốc Gia yêu tự do, và nhất là đã giúp chúng ta nói lên được những nỗ lực để xây dựng một miền Nam dân chủ, cộng hòa pháp trị, song song với những nỗ lực phát triển kinh tế trong thời chiến dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Cho dù hoài bão hay giấc mơ này đã thất bại và tan vỡ vào tháng tư đen 1975, điều đó cũng không làm chúng ta, những người Việt Quốc Gia lưu vong, mất hy vọng vào một thay đổi cho Việt Nam tương lai.

Nguyễn Quang Dũng
Mùa Quốc Hận thứ 47

Hits: 93

Từ Ukraine đến Đông Á : “Gió Đông thổi bạt Gió Tây” ?

Cao Tuấn

Source: Nations Online Project.

Source: Nations Online Project.

 

Thế giới ngày mai sẽ được định hình chủ yếu bởi chính sách của các đại cường hôm nay. Các nước khác thường bị cuốn theo. Các nước nhỏ, yếu, thiếu khôn ngoan có thể chịu hậu quả tai hại. Việt Nam là một bài học lịch sử. Trường hợp Ukraine hiện thời nên là một dấu hỏi.

Ba nước “nặng ký” nhất trong chính trị quốc tế hiện tại là Nga – đại cường, Mỹ – siêu cường, Tầu – cũng siêu cường. Thế chân vạc. Cả ba nước luôn trong tình trạng cạnh tranh và canh chừng nhau. Bề trong thường không giống bề ngoài. 

Địa chính trị, không phải Ý thức hệ, là lý do chính của sự cạnh tranh .

Mâu thuẫn Cộng Sản-Tư Bản không thực sự là vấn đề vì kinh tế của cả 3 nước Mỹ, Nga, Tầu đều đang vận hành theo các nguyên tắc của chủ nghĩa Tư Bản và đều hội nhập vào kinh tế thế giới, khác hẳn thời kỳ chiến tranh lạnh. Mặc dù Tầu trên danh nghĩa vẫn giữ cái vỏ Cộng Sản.

Mâu thuẫn Dân Chủ-Độc Tài, nếu có, cũng chỉ là thứ yếu vì Dân Chủ kiểu Mỹ đang trong khủng hoảng về thực chất, với gần một nửa dân số mất lòng tin – một cách hữu lý hay không – vào nền dân chủ của chính họ trong khi độc tài kiểu Nga hay độc tài kiểu Tầu đã kém hẳn phần “toàn trị” so với độc tài của Stalin, độc tài của Mao trước kia. Bức màn tre hay bức màn sắt đã thuộc về quá khứ nhất là với cuộc cách mạng truyền thông đại chúng hiện nay.

Mặt khác, Mỹ vẫn có đồng minh độc tài, vi phạm nhân quyền liên tục như Saudi Arabia trong khi Tầu, Nga hiện thời không tỏ dấu hiệu muốn xuất cảng “mô thức cách mạng phi dân chủ” của họ sang các nước khác. Mà có muốn “xuất cảng” cũng không ai muốn “mua” các sản phẩm tư tưởng không còn gì hấp dẫn, đại loại “nửa trăng, nửa đèn”, như “kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa”, “mèo trắng mèo đen không thành vấn đề miễn mèo bắt chuột” hay “độc tài sáng suốt” (!), v.v.

Lý do chính hay nguyên nhân chính của tranh chấp Nga-Mỹ-Tầu là địa chính trị (geopolitics), là quyền lực, quyền lợi quốc gia lồng trong quyền lực, quyền lợi của lãnh tụ. Không khác với những trường hợp va chạm, đụng độ giữa các cường quốc trong Thế chiến 1, Thế chiến 2. Không khác các cuộc chiến tranh trước nữa như chiến tranh giữa Pháp và các nước Âu Châu thời Napoleon (1803-15), chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha (1898) chiến tranh Nga-Nhật (1904- 05) hay hàng chục cuộc chiến tranh khác giữa các cường quốc đã được ghi nhận trong lịch sử. Nên nói thêm, trong các cuộc chiến tranh hùng hay tranh bá đó, phần thắng thuộc về những nước có nền kinh tế vững chắc, có lãnh đạo chính trị hữu hiệu và có sách lược chiến tranh khôn khéo.

Nga sa lầy nhưng Mỹ khó… rút chân

Chiến tranh Nga-Ukraine đã bước qua tuần lễ thứ 4, với triển vọng mở rộng thành cuộc xung đột Nga-NATO, cốt lõi là xung đột Nga-Mỹ – 2 quốc gia đang sở hữu 80% hay 90% vũ khí hạch tâm của toàn thế giới. Nếu xung đột leo thang từ chiến tranh quy ước đến chiến tranh nguyên tử bấm nút thì số vũ khí hạch tâm này không những đủ để tiêu diệt cả Nga lẫn Mỹ mà còn đủ để tiêu diệt luôn cả nhân loại. 

Chắc chắn không có chính quyền nào muốn điều này nhưng một khi đã bị cuốn vào “vòng xoáy tác động-phản ứng-tác động-phản ứng” thì không ai có thể bảo đảm nó sẽ không xẩy ra, dù người đó là Joe Biden của Mỹ hay Vladimir Putin của Nga.

Tuy nhiên, hãy giả sử xung đột Nga-Ukraine, Nga-NATO, hay Nga-Mỹ, tiếp tục leo thang dưới mọi hình thức ngoại trừ chiến tranh nguyên tử. 

Source: FRONTLINE/WORLD

Một cuộc chiến như thế có thể kéo dài vài tháng hay vài năm mà không có thắng bại rõ rệt vì không bên nào dám dồn đối thủ vào đường cùng tuyệt vọng khiến đối thủ phải dùng đến vũ khí hạch tâm để địch, ta cùng chết, thay vì chịu chết một mình.

Hậu quả : Nga sa lầy trên chiến trường Âu Châu nhưng Mỹ cũng sa lầy luôn bất kể quân đội Nga và quân đội Mỹ có trực tiếp giao chiến hay không.

Nga yếu đi. Mỹ cũng yếu đi. 

Chiến tranh càng kéo dài, càng bất lợi cho cả hai.

Nga càng bị phong tỏa, cấm vận, càng bị sa lầy, càng phải xin Tầu giúp đỡ, càng phải lệ thuộc Tầu và tất nhiên bị Tầu bắt chẹt, lợi dụng, sử dụng cho mục đích của Tầu, kể cả tìm cách tiếp cận kho vũ khí hạt nhân của Nga một cách có lợi cho Tầu. Đại Nga sẽ bị Đại Hán nuốt dần. Như con gấu ốm đói làm mồi cho con trăn anaconda khổng lồ 10 lần lớn hơn.

Mỹ càng bị trói tay, trói chân ở chiến trường Âu Châu càng bị Tầu “cướp thời cơ” trên toàn cầu và đặc biệt ở miền Đông Á.

Một chống hai hay hai chống một ?

Đã đến lúc các chính trị gia và chiến lược gia của nước Mỹ phải nhìn xa hơn là cuộc chiến đang tiếp diễn ở Ukraine và không quên những điểm căn bản. 

Nếu Nga là một đe dọa đối với Mỹ thì Tầu là một đe dọa lớn hơn và nghiêm trọng hơn rất nhiều.

Nga tranh một chỗ đứng ở Âu Châu, đối lập với Mỹ, nhưng Nga không thể có tham vọng trục xuất Mỹ khỏi lục địa này. Nga cũng không thể tranh địa vị đệ nhất siêu cường của Mỹ trên toàn thế giới. Không phải vì Nga không muốn mà vì “lực bất tòng tâm”. Quy mô kinh tế của Nga như đã nói chỉ bằng 10% của Tầu và chừng 7% của Mỹ ! Muốn vượt Mỹ, Nga cần thêm 50 năm hay 100 trăm năm, hoặc ngày ấy không bao giờ tới vì Nga, dù có kho vũ khí hạt nhân ngang với Mỹ, là cường quốc đang đi xuống.

Ngược lại, Tầu là cường quốc đang đi lên. Tầu có tham vọng, có quyết tâm, có khả năng, có kế hoạch, có sách lược. Tất cả nhằm trục xuất Mỹ ra khỏi vùng Đông Á là bước thứ nhất, tiến lên thay thế Mỹ làm đệ nhất siêu cường trên toàn thế giới là bước thứ hai. Hai bước có thể rất gần nhau. Vì nếu Mỹ bị bắt buộc triệt thoái sự hiện diện quân sự khỏi vùng Đông Á, bỏ mặc Đài Loan, Nhật, Nam Hàn, các nước Đông Nam Á cho số phận thì thế lực còn lại của Mỹ cũng suy sụp nhanh chóng trên toàn cầu do “hiệu ứng Domino”. “Gió Đông” sẽ  thổi bạt “gió Tây” – thực hiện lời tiên đoán ngạo mạn của lãnh tụ đảng cộng sản Tầu Mao Trạch Đông. Nên ngờ vực rằng nước Tầu của Tập Cận Bình đang chuẩn bị nước rút để tới đích trong vòng một thập niên hay sớm hơn.

Nếu Mỹ cảm thấy còn đủ mạnh, thì cứ nên gom cả hai đối thủ Nga, Tầu mà thanh toán một lần cho tiện. Hoặc “đánh gục” Nga ở Âu Châu trước rồi quay sang Á Châu “hạ thủ” Tầu. Không cần phân biệt đối thủ chính, đối thủ phụ. 

Nếu Mỹ tự biết không còn đủ mạnh thì nên tìm cách phân chia Nga-Tầu, làm mọi cách để Nga, Tầu không hợp sức hay không thể hợp sức chống Mỹ. Nga đứng trung lập, đối với Mỹ, vẫn tốt hơn Nga ngả về phía Tầu hay trở thành đàn em của Tầu.

Còn tốt hơn gấp bội nữa, nếu Mỹ với Nga đổi thù thành bạn, rồi từ bạn thành đồng minh để cùng làm “gió Tây thổi ngược lại gió Đông” nghĩa là cùng chặn không cho Tầu vươn lên nữa. 

Một thế thăng bằng chiến lược đồng nghĩa với hòa bình

Lẽ dĩ nhiên muốn thành công, Mỹ, ở thế mạnh hơn, phải tỏ thiện chí với Nga, phải đi bước trước. Mỹ và NATO tất nhiên phải nhượng bộ một số đòi hỏi của Nga. Nhượng bộ đến mức có thể nhượng bộ được. Chẳng hạn không mở rộng NATO thêm nữa, nhưng cũng sẽ không làm NATO yếu đi, vẫn duy trì được an ninh, thịnh vượng của toàn Âu Châu. Cùng Nga chung sống ổn định, hòa bình bất kể khác biệt thể chế…

Một khi đã cảm thấy được Mỹ, NATO, EU “chấp nhận” vào đại gia đình Âu Châu thì Nga sẽ nhận chân rằng Mỹ làm đệ nhất siêu cường thế giới nếu không tốt hơn thì cũng đỡ xấu hơn, đỡ nguy hiểm hơn là Tầu thay thế Mỹ làm đệ nhất siêu cường. Không cần thuyết phục, Putin phải biết từ lâu : Nga cách Mỹ đại dương mênh mông, ân oán cũ đều có thể bỏ qua, nhưng Tầu sát bên, chung biên giới rất dài. Cả 2 dân tộc Nga, Tầu đều có… máu bành trướng mà Tầu thì đang lúc hùng mạnh. Nợ nần, ân oán địa lý, lịch sử sẽ phải giải quyết… Nga không những sẽ phải trả lại mấy triệu cây số vuông lãnh thổ đã cưỡng đoạt của Tầu trong các thế kỷ trước, phải từ bỏ các địa điểm chiến lược, các bán đảo và hải đảo trên Thái Bình Dương mà có thể còn mất thêm cả vùng Tây Bá Lợi Á mênh mông, rất nhiều tài nguyên nhưng chính Nga không đủ nhân lực bảo vệ.

Nếu Nga ngả về Mỹ, Tầu lập tức phải lo mặt Bắc. 

Lo vũ khí hạch tâm của Nga bao trùm cả nước Tầu mà không cần đến hỏa tiễn liên lục địa. Hỏa tiễn tầm trung của Nga đủ để uy hiếp Trường Xuân, Thẩm Dương, Đại Liên, Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Thành Đô, Trùng Khánh…

Lo hàng triệu quân Nga hờm sẵn biên giới. 

Tầu sẽ phải đổi thế trận. 

Phải phân chia lực lượng đối phó. 

Phía Bắc đối phó với sức mạnh của Nga, phía Đông đối phó sức mạnh của Mỹ – một sức mạnh được tăng cường sau khi Mỹ và NATO không còn phải vướng vào cuộc chiến tiêu hao với Nga ở Âu Châu. 

Đông Á có thể kịp thời chuyển NGUY thành AN. Đài Loan, Biển Đông có thể được bảo vệ tốt hơn. 

Một thế thăng bằng chiến lược mới rất có lợi cho Mỹ và đặt nước Tầu của Tập Cận Bình vào thế phải chịu bó tay.

Nước Tầu của Tập Cận Bình phải chịu bó tay cũng đồng nghĩa với hòa bình, ổn định ở Đông Bắc Á, Đông Nam Á và trên toàn thế giới !

Cao Tuấn

(19/03/2022)

Hits: 238

Nhìn Người Lại Thấy…

Thơ Trần Văn Lương

Dạo:

Nhìn người anh dũng chống Nga,

Nhìn quê mình lại xót xa trăm phần.

 

Nhìn Người Lại Thấy…

 

    Xóa biên giới, lính Nga tràn ngập,

    Chiến tranh đà sầm sập tới nơi.

        Hỏa châu, đạn pháo đầy trời,

Tưởng chừng bão tố ngoài khơi ập vào.

 

    Quân giặc tiến ào ào như thác,

    Mạng người so cỏ rác nào hơn,        

        Đạn gào, bom thét từng cơn,

Đau thương vỡ đất, oán hờn tung mây.

 

    Chuỗi tàn phá đêm ngày tiếp nối,

    Trời Ukraine lửa khói mịt mù,

        Từng khu cháy lại từng khu,

Người dân vô tội, đạn thù chẳng dung.

 

    Tổng thống với lính cùng cam khổ,

    Nơi tuyến đầu bom nổ đạn bay,

        Bảo rằng nếu số chẳng may,

Cũng mừng sẽ được táng ngay quê nhà.

 

    Dân chúng phải bôn ba lánh nạn,

    Mong cuối đường di tản gặp may.

        Giặc thù pháo kích liền tay,

Khắt khe định mệnh, đắng cay cơ trời.

 

    Trạm truyển mộ, người người tiếp nối,

    Tình nguyện cùng đánh đuổi xâm lăng,

        Nhìn nhau chẳng nói chẳng năng,

Mắt rưng rưng mắt, lòng hăng hái lòng.

 

    Thầm biết rõ giặc đông gấp bội,

    Mình phải còn chống chọi nhiều nơi,

        Chỉ mong làm hết sức người,

 Thắng thua phó mặc cho Trời lo toan.

 

    Người dân sống bình an ngoài nước,

    Cũng ghi danh để được trở về,

        Góp bàn tay giữ gìn quê,

Khổ đau, sống chết chẳng hề để tâm.

 

    Toàn dân tộc âm thầm chịu đựng,

    Quyết hy sinh giữ vững cơ đồ,

        Cho dù quân ít thế cô,

Cho dù có thể không mồ che thây.

 

    Giặc tàn ác thẳng tay oanh tạc,

    Xác người dân rải rác xa gần,

        Nơi ăn chốn ở mất dần,

Trẻ già lớn bé nương thân chốn nào?

 

    Nhưng bạo lực không sao diệt được

    Những tấm lòng yêu nước nơi đây,

        Vững tin chẳng chóng thì chầy,

Bọn xâm lăng sẽ bó tay tan hàng. 

 ***

    Việt nam lại vô vàn khác biệt,

    Bạo quyền đà bán hết non sông,

       Cắt từng mảnh đất cha ông,

Từ rừng đến biển cúc cung dâng Tàu.

 

    Nhìn quê cũ, càng đau đớn dạ,

    Càng vật vờ buồn bã xót xa.

        Dân đông hơn hẳn người ta,

Sao không chống giặc lại ra cõng vào?

 

    Lũ thái thú quyền cao trâng tráo,

    Trước toàn dân, dám bảo công khai,

        Rằng mình chém giết lâu nay,

Chính là thí mạng đánh thay Nga Tàu.

 

    Ai cũng biết vì đâu dân Việt

    Đánh cá thường bị giết liên miên,

        Nhưng mà bọn Vẹm đảo điên,

Bảo do “tàu lạ”, chính quyền nào hay.

 

    Lòng yêu nước ngày nay đã chết,

    Dân bây giờ dẹp hết đấu tranh,

        Chỉ cần thắng một trận banh,

Quê hương mất hoặc tan tành, chẳng sao!

  ***

    Nhân loại ở nơi nào cũng thế,

    Khác nhau vì thể chế mà thôi,

        Nước người hào khí sục sôi,

Nước mình hí hởn làm tôi giặc Tàu.

 

    Nhỡ con cháu ngày sau cắc cớ

    Hỏi quê mình nay ở nơi nao,

        Bản đồ mới vội nhìn vào,

Quê xưa nào thấy, nghẹn ngào lặng thinh.

 

   Trần Văn Lương

    Cali, 3/2022

Hits: 80

Cuộc tranh hùng giữa các đại cường và các vấn đề chiến lược

Cao Tuấn

Thế giới có ít nhất 3 điểm nóng có thể bùng lên thành bão lửa : Ukraine, Bắc Hàn và Đài Loan. Lửa đã bắt đầu cháy ở Ukraine, hai chỗ kia âm ỉ nhưng có thể bùng phát bất cứ lúc nào. Cả 3 nơi này đều liên quan đến sự tranh chấp quyền lực và quyền lợi của một vài cường quốc. Thế giới sẽ đi về đâu ?

thegioi1

Thế giới có ít nhất 3 điểm nóng có thể bùng lên thành bão lửa : Ukraine, Bắc Hàn và Đài Loan.

Tranh bá hay tranh hùng? Tay đôi hay tay ba?

Thế giới hiện có trên dưới 10 đại cường gồm cả 2 Siêu Cường (tiếng Anh gọi là Superpowers) vượt xa các nước khác về sức mạnh kinh tế, quân sự, ảnh hưởng chính trị. Mỹ số 1, Tầu số 2. Số 1 là số 1 nhưng không có nghĩa là làm bá chủ thế giới. Khi Donald Trump của nước Mỹ phải đi vạn dậm để cầu hòa với Kim Jong-un của Bắc Hàn thì Mỹ rõ ràng không phải là bá chủ – có quyền lực ra lệnh bắt thiên hạ phải phục tùng.

Mà không phải riêng Bắc Hàn có hỏa tiễn gắn đầu đạn hạt nhân nên dám thách thức Mỹ, ít nhất trên dưới 10 quốc gia trên thế giới ngày nay cũng có khả năng gây chiến tranh nguyên tử như Bắc Hàn, nếu muốn. Mưu đồ bá chủ thế giới trong điều kiện hiện tại gần như là chuyện là bất khả.

Cuộc tranh chấp, tranh đua Mỹ – Tầu, vì thế, không phải là “tranh bá”, mà là “tranh hùng” – tranh nhau làm đệ nhất siêu cường.

Tầu muốn thay Mỹ làm đệ nhất siêu cường và Mỹ tất nhiên muốn giữ nguyên trạng, tìm cách chống lại.

Mỹ và Tầu có thể hoán đổi vị trí số 1 và số 2 trong khoảng một thập niên và nếu việc này xẩy ra thì chủ yếu do Mỹ mệt mỏi vì chuyện nội bộ nên mất khả năng và ý chí trong khi Tầu đã chuẩn bị từ lâu một cách rất có kế hoạch, bài bản cho cái cơ hội “ngàn năm một thuở” – Làm số 1 đối với 1.400 triệu người Tầu nói chung và Tập Cận Bình nói riêng đồng nghĩa với “rất nhiều quyền lợi” và “tột đỉnh vinh quang”. Đã gần tới đích, lẽ nào chịu bỏ cuộc ?

Nga có kho vũ khí hạt nhân ngang ngửa Mỹ, có diện tích lớn nhất thế giới nhưng Nga không được coi là siêu cường số 3 dù Nga rất muốn như vậy. Lý do chính : kinh tế Nga yếu, mức phát triển thấp. Tính đến 2020 theo Wikipedia, Nga có dân số 144 triệu, tổng sản lượng GDP 1.483 tỉ đô la so với Tầu có dân số 1.402 triệu, GDP 14.720 tỉ đô la. Nga đại khái chỉ còn bằng 1/10 Tầu theo 2 thước đo quan trọng này.

Tình thế đã hoàn toàn đảo ngược nếu so sánh với hơn 70 năm trước – cuối năm 1949, khi Mao Trạch Đông, vốn rất kiêu ngạo, đã phải nhẫn nhục chầu chực ở Moscova suốt 2 tháng để xin Stalin viện trợ xây dựng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa mới thành lập. Muốn thị uy với với Mao là một lý do nhưng lý do chính có lẽ là Stalin đã nghĩ đến một ngày Tầu trở nên quá mạnh. Cái ngày ấy thực sự đã đến.

Nga, bây giờ, chỉ có thể ngồi cùng chiếu đại cường với Anh, Pháp, Nhật, Đức, Ấn Độ đặc biệt hơn một chút là cùng chứ không thể đòi “qui chế siêu cường” ngang với Tầu và Mỹ.

Dĩ nhiên nước Nga của Putin bất mãn vì cảm thấy bị coi thường, lại càng bực bội vì thêm nỗi luyến tiếc hào quang siêu cường đế quốc sô viết cũ.

Nước Nga của Putin cũng phải lo ngại cả tình hình cả 2 đầu Đông, Tây. Putin không thể tiếp tục làm Tổng thống nếu không giải quyết được vấn đề an ninh chiến lược cho nước Nga.

Phía Đông, nước Tầu càng ngày càng mạnh thêm, Nga không còn mong gì phát triển theo hướng đó. Giữ được nguyên trạng là may nhưng nhiều phần là sẽ không giữ nổi. Hòa hoãn, thân hữu Nga – Tầu chỉ là tạm thời và bề ngoài. Vì cần tập trung đối đầu, tranh đua nước rút với Mỹ, Tầu làm ngơ chưa “hỏi tội” Nga nhưng một ngày nào đó, có thể rất gần, sẽ tính sổ nợ, những món nợ lịch sử, địa lý – cả vốn lẫn lời – với Nga.

Tầu đã thâu hồi được tất cả các nhượng địa, tô giới, lãnh thổ mất vào tay ngoại nhân ngoại trừ những phần đất mất vào tay đế quốc Nga hay đế quốc Sô Viết trong các thế kỷ trước .

Hải cảng Vladivostok quan trọng nhất của Nga trên Thái Bình Dương trước kia là hải cảng Hải Sâm Uy của Tầu.

Một triệu rưỡi cây số vuông đất Ngoại Mông (rộng gần bằng 3 lần nước Pháp) Nga đã “cướp đoạt” của Tầu để làm thành nước Cộng Hòa Mông Cổ (the Republic of Mongolia), một quốc gia vệ tinh của Nga, một căn cứ lớn của Nga án ngữ cả mặt Bắc nước Tầu.

Biên giới lịch sử sóng gió dài mấy ngàn cây số giữa hai dân tộc Nga – Tầu nhất thiết sẽ phải vẽ lại…

Nước Tầu lúc nhúc người lại cũng… “cần” tài nguyên quặng mỏ, khí đốt, các nguồn nước của vùng Tây Bá Lợi Á. Nếu Tầu có dòm ngó hay thèm thuồng phần đất này của Nga thì cũng chẳng khác Nga đã từng dòm ngó, thèm thuồng (và tranh nhau với Nhật trước đây) vùng đất Mãn Châu của Tầu. Chỉ là lịch sử lập lại theo chiều hướng khác do tương quan sức mạnh thay đổi giữa các dân tộc sống cạnh nhau. Dân tộc nào mà không muốn “không gian sinh tồn” tốt cho mình nhất ?

Trong khi “mặt Đông” vẫn còn yên tĩnh” thì “mặt Tây” không được như vậy. Liên Xô sụp đổ kéo theo sự sụp đổ của tổ chức liên minh quân sự WARSAW. Các nước Đông Âu lần lượt thoát cũi, sổ lồng. Xung đột ý thức hệ Cộng Sản-Tư Bản đã chấm dứt ở Âu Châu nhưng liên minh quân sự NATO, lập ra cốt để chống Liên Xô, đối lực của WARSAW, đã không giải tán. Ngược lại còn tiếp tục mở rộng cửa thâu nhận các nước vốn là thành viên cũ của khối Cộng Sản Đông Âu thêm cả các nước mới ly khai khỏi Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Sô Viết như trường hợp 3 nước Estonia, Latvia, Lithuania, nâng tổng số từ mười mấy thành viên lên tới 30 quốc gia – mặc cho Nga ngăn cản.

Nga không thể không cảm thấy bị chèn ép, bị ngăn chặn, bị cô lập hóa, bị bao vây bởi các lực lượng và căn cứ quân sự của NATO áp sát biên giới. Hiển nhiên vì các lý do địa-chính-trị (geo-politics), những ám ảnh lịch sử về các cuộc chiến tranh tranh giành lãnh thổ, quyền lợi, ảnh hưởng, những xung đột vì chủng tộc, tôn giáo hay ý thức hệ ở lục địa này trong mấy thế kỷ vừa qua, kể cả 2 cuộc thế chiến , các nước Âu Châu, nhất là các nước lớn, vẫn xem nước Nga là một đe doạ, một đối thủ tiềm năng, cần bị kiềm chế và làm cho yếu hơn nữa.

Điều này cũng dễ hiểu vì dù cho GDP của Nga còn kém Đức, kém Anh, kém Pháp, kém cả Ý, dù cho dân số 144 triệu của Nga ngày nay chưa bằng nửa dân số Liên Xô cũ, Nga vẫn là gã khổng lồ ở Âu Châu, lãnh thổ rộng lớn gấp mấy lần lãnh thổ của 48 quốc gia Âu Châu gộp lại, sức mạnh quân sự và vũ khí hạt nhân, thừa hưởng từ Liên Xô, hoàn toàn đủ sức khống chế toàn Âu Châu – nếu thiếu vắng sự hiện diện trọng yếu của nước Mỹ như là một thành viên trụ cột của NATO

Sự việc Nga xâm lăng Ukraine đang diễn ra, khá đột ngột nhưng không nên ngạc nhiên. Ukraine đang vận động để trở nên thành viên của EU và cả NATO. Nga cảm thấy thương tổn và bị đe doạ. Ukraine quan trọng đặc biệt với nước Nga.

Một vài sự kiện có ý nghĩa :

Trong 15 xứ cộng hòa (tiểu bang) hợp thành Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Sô Viết có chiều dài lịch sử 70 năm (1922-1991), Ukraine đã luôn luôn là cộng hòa trọng yếu thứ hai, chỉ sau cộng hòa Nga.

Trong số 8 lãnh tụ của đảng cộng sản Liên Xô thay phiên nhau cầm quyền có tới 3 nhân vật gốc gác từ Ukraine là Khrushchev, Brezhnev và Chernenko.

Trận Kiev 1, năm 1941, Liên Xô mất Kiev vào tay Đức Quốc Xã sau khi chịu thiệt hại hơn 600 ngàn quân, 44 sư đoàn. Trận Kiev 2, năm 1943, Liên Xô lấy lại Kiev với giá hơn 100 ngàn quân tử trận. Kiev 1 và 2 đều được xếp vào loại các trận chiến lớn nhất trong quân sử thế giới.

Trong tổng số 42 triệu dân Ukranians ngày nay có 8 triệu người là gốc Nga, khoảng 40% dân Ukranians sử dụng tiếng Nga trong gia đình

Ngao cò tranh nhau ngư ông đắc lợi

Sau khi Liên Xô tan vỡ, Ukraine trở thành một quốc gia độc lập, một thành viên của Liên Hiệp Quốc. Trắng trợn xâm lăng Ukraine là một việc sai trái, bất hợp pháp, đáng bị lên án và phải bị lên án.

Ukraine cũng không dễ nuốt. Xe tăng Nga có thể tràn ngập cả nước Ukraine. Chính quyền bù nhìn thân Nga có thể được dựng lên ở thủ đô Kiev. Người Ukraine vẫn tiếp tục kháng cự với sự yểm trợ vũ khí, tiếp liệu của các nước Âu Châu và Mỹ. Triển vọng là chiến tranh kéo dài – du kích và phản du kích. Nga sẽ phải đối diện với nguy cơ bị sa lầy và xuất huyết ở Ukraine như Liên Xô từng trải nghiệm ở Afghanistan – trước cả Mỹ và giống như Mỹ.

Tuy nhiên đừng chờ đợi Putin – lãnh tụ gian hùng không đối thủ, khống chế chính trường nước Nga hơn 2 thập niên – sẽ chấp nhận thất bại, ra lệnh rút quân và bị lật đổ.

Nên chờ đợi Putin mở rộng chiến tranh ngoài biên giới Ukraine, đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, xâm lăng các nước chưa phải nhưng đang chuẩn bị gia nhập NATO như Georgia, Bosnia.

Nên chờ đợi quân Nga sẽ tập trung ở biên giới 3 nước Estonia, Latvia, Lithuania và có thể đe dọa tấn công cả Poland, Romania, Hungary, Czech Republic, Slovakia… đang là thành viên của NATO.

Nên chờ đợi Putin cố ý gây ra một đại khủng hoảng ở Âu Châu và cả thế giới, tạo không khí chiến tranh ảm đạm, lo lắng, bao trùm khiến kinh tế đình trệ, thị trường chứng khoán lao dốc…

Tất nhiên, Putin không muốn tự sát bằng chiến tranh nguyên tử nhưng nếu Kim Jong-un của Bắc Hàn, với kho vũ khí hạt nhân nhỏ bằng 1% hay 2% của Nga còn làm thế giới hoảng loạn, buộc Tổng thống Mỹ phải hạ mình ngồi thương thuyết tay đôi thì tại sao Putin lại không thể ?

Vậy thực sự nước Nga của Putin muốn gì ? Câu trả lời là :

– Muốn thương thuyết trong thế mạnh.

– Muốn NATO chấm dứt chính sách be bờ, bao vây, cấm vận và các biện pháp bất thân thiện khác đối với Nga.

– Muốn được tôn trọng và được chấp nhận là Nga cũng cần có một vùng ảnh hưởng riêng hoặc ít nhất một vòng đai an ninh.

Nếu sự thực đúng hoặc gần đúng như thế, thì đến lượt Tổng thống Joe Biden của nước Mỹ phải tự đặt câu hỏi và tự trả lời :

– Đối thủ chính của Mỹ trên thế giới hiện nay là Tầu hay Nga ?

– Nga có mạnh như Liên Xô và Putin có mạnh như Stalin không ?

– Nga và Mỹ có còn là kẻ thù Ý Thức Hệ phải tiêu diệt nhau không ? Có quyền lợi xung khắc đến nỗi không thể làm bạn với nhau không ?

– Mỹ có cần quá thận trọng và khe khắt với Nga như các nước Âu Châu không ?

– Ngay cả NATO chấp nhận nhượng bộ những đòi hỏi của Putin thì Putin có cơ may nào tái lập đế quốc Sô Viết khi mà các nước Đông Âu đã sợ và chán cái chủ nghĩa cộng sản độc tài toàn trị tới tận cổ không ?

– Nếu Mỹ phải dồn sức đối phó Nga ở Âu Châu thì còn bao nhiêu sức để đối phó Tầu ở vùng Đông Á ? Nếu Mỹ, Nga làm ngao, cò tranh nhau thì có phải Tầu là ngư ông hưởng lợi không ?

– Nếu Tầu dùng kế “Đông hòa Tôn Quyền, Bắc cự Tào Tháo” để rồi “gió Đông thổi át gió Tây”, tại sao Mỹ không làm y như vậy, liên kết với Nga, (cùng gió Tây với nhau) mà thổi ngược lại ?

– Thay vì mở cửa NATO thu nhận Ukraine làm thành viên, tại sao không khuyến khích Ukraine thực hiện chính sách độc lập và trung lập thân hữu với tất cả các bên như trường hợp Finland, Austria hay Switzerland ? Trung lập mà có hòa bình chẳng hơn vào NATO mà chịu chiến tranh hay sao ?

Cao Tuấn

(05/03/2022)

Hits: 218

Cọp Nam Bộ

Phạm Thành Châu

            Báo Xuân tiếng Việt có “Truyền thống” là năm “cầm tinh” con vật nào thì có một bài nghiên cứu về con vật đó. Ở hải ngoại, tôi thường viết cho các báo Xuân về các con vật của năm. Khi có nhiều báo xin bài thì phải có nhiều bài khác nhau, tuy chỉ nói về một con vật duy nhất của năm đó, nên rất mất công truy tìm tài liệu. Hiện nay (2022) đa số Báo Giấy “Sống qua ngày, chờ qua đời” vì người ta có Internet, mở ra là biết ngay tin tức đang xảy ra trên thế giới. Vì thế, báo chí chẳng còn bao nhiêu, việc viết cho báo cũng đã đơn giản. Nhưng dù sao cũng phải viết cẩn thận!

            Trước khi vào bài “Nghiên cứu” về con Cọp, có một chuyện không xưa lắm, cách nay gần 70 năm, có liên quan đến “Con cọp”. Đó là Phong trào Cải Cách Ruộng Đất của Việt Minh cộng sản năm 1953 – 1956. Chuyện kể rằng: Trong thời kháng chiến chống Pháp, bà Nguyễn thị Năm, còn gọi là bà Cát Hanh Long, là chủ đồn điền ở Thái Nguyên, giàu có, từng ủng hộ Việt Minh 20. 000 đồng bạc Đông Dương (tương đương 700 lượng vàng) cùng với 100 lượng vàng, nuôi cả trung đoàn Việt Minh, nuôi “ăn dầm nằm dề” trong nhà, các “đồng chí” chủ chốt: Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, Nguyễng chí Thanh… Vậy mà trong Cải Cách Ruộng Đất, bà Nguyễn thị Năm là người đầu tiên trong số 172.008 nạn nhân bị giết chết. Trong hồi ký “Làm người là khó”, Đoàn duy Thành (phó thủ tướng 1982 – 1990) kể . Khi chuẩn bị đưa bà Nguyễn thị Năm ra đấu tố, Hồ chí Minh nói “Chẳng lẽ mở đầu Cải Cách Ruộng Đất lại bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?” Cán bộ thừa hành báo cáo là có hỏi cố vấn Trung quốc và được bảo rằng “Hổ đực hay hổ cái đều ăn thịt người cả!” Thế là bà Nguyễn thị Năm “được” xử tử và “Bác” đổ tội cho con hổ!

            Đảng Cộng Sản có biệt tài là giết dân mình. Cộng sản Nga giết dân Nga, Cộng Tàu giết dân Tàu, Cộng sản Việt Nam giết dân Việt, Cộng sản Combuchia giết dân Miên. Chưa đến 100 năm mà Cộng sản trên thế giới đã giết hơn 100 triệu người.

            Trở lại chuyện Con Hổ.

 Hổ là chữ Hán, cọp là chữ Nôm. Xin được dùng chữ “Cọp” trong bài cho dễ đọc.

            Ông Ba Mươi, ông hùm, ông kễnh là tên gọi con cọp nhưng vì quá sợ “ngài” (sợ như sợ cọp) nên người ta nói tránh ra như vậy. Cũng có tích về tên gọi “ông ba mươi” rằng, ngày xưa, miền Trung và miền Nam rất nhiều cọp, chúng thường vào xóm bắt gia súc, hoặc rình vồ người đi trong rừng, vì thế quan trên treo giải thưởng, ai giết được cọp thì được ba mươi quan tiền nhưng cũng đánh ba mươi hèo (tượng trưng) để hồn “ngài cọp” không còn giận kẻ đã giết mình. Cũng có giả thiết rằng. Thời “Gia Long tẩu quốc”, bị quân Tây Sơn đuổi bắt, chạy vô rừng trốn, không có gì ăn, binh tướng tưởng chừng chết đói, may sao có con hổ, thỉnh thoảng tha đến một con vật săn được như nai, chồn, heo… Nhờ vậy mà Gia Long và binh tướng mới sống qua ngày để tìm đường thoát khỏi vòng vây. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long ra lệnh, nơi nào có cọp thì phải làm miếu thờ, ai giết được cọp được thưởng nhưng cũng bị đánh ba mươi hèo để lấy lòng vong linh “Ông Cọp”.

            Khoảng thế kỷ 17, 18 từ miền trung Việt Nam trở vào đều là rừng rậm hoang vu, thú rừng đầy dẫy, người Việt đi khai phá bị thú dữ như cọp beo, rắn rết sát hại rất nhiều. Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có ghi: “Giữa ngày tết năm 1771, cọp từ rừng Sác, phía Cần Giuộc, từng bầy kéo về chợ Tân Kiểng, trên đường vào Chợ Lớn, làm dân chúng kinh hoàng…” Nghĩa là đồng bào ở quận tư, quận bảy bây giờ đứng bên nầy nhìn qua bên kia sông thấy cọp đi ngờ ngờ, hỏi sao không sợ! Nghe nói trò chơi “Bầu Cua Cá Cọp” do người Tàu phổ biến. Trên miếng giấy vẽ hình các con thú bầu, cua, cá, cọp… để người chơi đặt tiền. Không ai dám đặt tiền vào hình con cọp, sợ thất lễ với “ngài”, nên người ta bỏ hình con cọp mà thay vào bằng hình con nai. Đình miếu nào cũng có bình phong vẽ hoặc đắp nổi (phù điêu) hình cọp để thờ “ngài”, và họ tin rằng, cọp thật đến, thấy “chúa sơn lâm” trên bình phong là biết “đất đã có chủ”. Cọp đánh dấu lãnh thổ mình bằng nước tiểu. Muốn giành lãnh thổ (vùng săn mồi) cọp phải tấn công đối phương. Trước khi xông vào phải nhe nanh múa vuốt, gầm gừ ra oai, nhưng đối phương (trên bình phong) vẫn bình tỉnh, không hoảng sợ, mà (tấn công) phóng vào bình phong thì là đập đầu vô đá, vậy là cọp thật rút lui. Ở chân núi, lối vào rừng, ngày xưa người ta lập “miếu ông cọp” để dân sơn tràng (đi rừng) vào thắp nhang, xin phép sơn thần thổ địa và ông cọp vào núi tìm mật ong, đốn cây, săn bắn, tìm trầm. Đôi khi người ta để ở đấy một con thú nhỏ để ông cọp đến ăn no thì chỉ tìm chỗ ngủ, không bắt người. Ở Ấn Độ, vùng Băng Gan (Bengal), nổi tiếng về cọp dữ. Người dân vào rừng thường mang mặt nạ về phía sau đầu, nhìn tưởng người đi thụt lùi. Họ tin rằng, cọp chỉ vồ từ đằng sau con mồi nên thấy mặt người, cọp theo mãi, vẫn thấy con mồi nhìn mình nên bỏ đi. Người thượng cao nguyên Việt Nam vẫn có tục vác chà gạt trên vai, mũi nhọn hướng về phía sau, cọp biết nếu vồ con mồi sẽ bị đầu nhọn chà gạt đâm nên không dám tấn công. Cọp săn mồi bằng cách bò thật sát đến từ phía sau con mồi. Khi khoảng cách còn độ năm mét, cọp chạy đến thật nhanh và phóng lên lưng con mồi, cắn vào gáy, ôm ghịt con mồi, chờ đến khi con mồi vùng vẫy và đuối sức ngã xuống mới cắn vào cổ họng cho con mồi nghẹt thở chết. Cọp ăn no, tìm chỗ ngủ, không đi đâu nữa.

            Châu Phi không có cọp mà chỉ có sư tử và beo (báo). Châu Á cũng có sư tử, nhưng là “sư tử Hà Đông” để chỉ các bà (người) vợ dữ dằn hay ăn hiếp chồng, ghen tương bậy bạ.

            Vào các thế kỷ trước, có đến hàng trăm nghìn cọp Châu Á. Hiện nay chỉ còn khoảng năm nghìn (5000) cọp mà đến ba nghìn (3000) đang cư trú trong các sở thú. Việt Nam ta hiện còn khoảng ba trăm (300) cọp, kể cả cọp được người nuôi. Cọp ở rừng thọ độ ba mươi tuổi, cọp nuôi, sống được hai mươi lăm năm. Cọp trưởng thành nặng nhất độ ba trăm kí lô. Dân số cọp giảm vì môi trường sinh sống bị thâu hẹp (phá rừng trồng trọt, xây cất), nguy hại nhất là bị người ta săn bắn để bán cho mấy chú ba Tàu lấy xương nấu cao. Một con cọp lớn cho mười lăm kí xương, theo thời giá cách đây mười năm, (2012) bán được hai chục nghìn đô la Mỹ. Một bộ da cọp bán được mười lăm nghìn đô la. Hiện nay giá cao gấp đôi. Cao hổ cốt không phải nấu toàn bằng xương cọp mà thêm vào xương khỉ, xương nai, xương dê núi (sơn dương) cho đủ bộ gọi là “quân thần tá sứ”. Khi có được một miếng cao hổ cốt thì ra tiệm thuốc bắc bổ một thang (thiên niên kiện, địa tiên… chủ tiệm thuốc rất rành chuyện nầy) đem về ngâm rượu. Chờ thuốc ngấm, tối, trước khi đi ngủ, làm một ly nhỏ (xây chừng), sáng hôm sau khỏe người, không còn đau lưng, nhức xương nữa. Người đau yếu thì cho độ mười gam cao hổ cốt vào bụng gà ác (gà ri, gà da đen) hay bồ câu non, chưng cách thủy. Khi gà rục, đem ra ăn. Người bịnh nặng không ăn được thì uống nước cũng rất “bổ dương?!”.

            Báo Hà Nội đăng tin, ngày 17 tháng 10 năm 2021 vừa rồi, công an chận bắt một xe taxi chở hai con cọp đông lạnh. Một con nặng 90 kí lô, con kia 40 kí lô. Người bị bắt khai đã mua cọp ở Thanh Hóa, định đem vào Hà Nội bán. Báo Tuổi Trẻ cho biết, một kí lô xương cọp có thể bán với giá 50 triệu đồng (hơn 2.000 USD). Một lạng ta cao hổ cốt có giá từ 20 đến 25 triệu đồng, tương đương với vàng! Săn được một con cọp, đem bán, đủ sức xây nhà lầu.

            Hiệu quả của cao hổ cốt thì không chắc lắm, nhưng thời xưa, bên Tàu, chỉ hoàng đế, các đại thần, đại gia mới đủ tư cách (có tiền) dùng cao hổ cốt. Có thể đó là một thứ Viagra thời nay vậy thôi. Uống vô thì hăng hái chuyện nam nữ, nhưng sau đó “hết xíu oách”. Mấy ông hoàng đế Tàu chết sớm (thường ở tuổi bốn mươi), vì tam cung lục viện có đến mấy nghìn người đẹp, đêm nào cũng “lâm hạnh” (làm chuyện đó) vài ba em, chưa đủ vòng thì “hoàng đế băng hà!”. Nhiều ông vua “tiếc của trời”, chết rồi còn bắt phải chôn sống cung nữ theo với ông ta, để ngài ngự xuống âm phủ còn có người đẹp mà “lâm hạnh” tiếp.

            Vì xương cọp ngày càng hiếm nên người ta nấu cao khỉ, nai, dê giả là cao hổ cốt. Có người nấu xương sư tử (cao sư cốt?) cũng đắc giá lắm vì bảo rằng sư tử mạnh hơn cọp. Báo đăng, có một ông Việt Nam qua Châu Phi mua xương sư tử nấu “Cao sư cốt”. Không rõ ông ta kinh doanh ngành nầy được bao lâu, nhưng có lần vì tích trữ xương trong nhà thối quá, bay mùi qua hàng xóm, vậy là cảnh sát đến. Ngoài một mớ xương sư tử hôi thối cảnh sát còn tìm thấy rất nhiều sừng tê giác và đô la.

            Người miền Nam sinh con trai đầu lòng không gọi là con cả mà gọi thứ hai (thằng hai, anh hai, chú hai…) vì kiêng chức vụ hương cả trong làng. Lại có chuyện kể rằng. Ở làng Châu Bình, tỉnh Bến Tre, lúc làng vừa thành lập, những người được bầu làm hương cả đều bị cọp vồ. Dân làng bèn cử cọp chúa trong vùng làm hương cả. Một buổi lễ được tổ chức ngoài bìa làng. Một tờ cử (nhiệm vụ lịnh) được viết trên giấy hồng điều, bỏ vô ống tre. Một đầu heo làm lễ vật. Chức sắc trong làng cùng dân chúng tề tựu ở đó, long trọng mời cọp chúa làm “đại hương cả”. Đêm đó, cọp đến ăn đầu heo và tha tờ cử (làm đại hương cả) đi. Năm sau, chức sắc và dân làng lại tổ chức lễ tấn phong (renew) chức đại hương cả cho cọp chúa. Cũng đầu heo và tờ cử mới đặt ở đấy. Tối đến, cọp ra ăn đầu heo, bỏ tờ cử năm ngoái (đã tha đi), cắp tờ cử mới đi. Cứ thế. Thời xưa, người Việt vào miền Nam khai hoang, thú dữ đầy rừng, phải chống trả, đề phòng để tự vệ. từ đó phát sinh những chuyện truyền khẩu trong dân gian. Người ta còn tin rằng, người nào bị cọp ăn thịt thì hồn không siêu thoát mà phải theo hầu con cọp đó (gọi là hổ trành). Hổ trành thường xúi thân nhân ra nộp mạng cho cọp để thế chỗ cho hồn cũ đi đầu thai kiếp khác. Trong tác phẩm “Thần Hổ” của tác giả Tchya (Đái Đức Tuấn?) có kể chuyện hổ trành, lúc nhỏ, tôi đọc, vừa sợ vừa thích.

            Dân miền Nam thường nói “Coi hát cọp”, là coi hát không phải mua vé vào cửa. Có sự tích như sau. Thời trước, dân mình đi khai phá miền nam rất gian khổ. Đất còn đầy phèn, trồng cây gì cũng chết, lại thêm cọp, cá sấu, rắn rết dẫy đầy “U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường. Dưới sông cá lội, trên rừng cọp đua”. Đời sống khó khăn vất vả, bịnh hoạn không thuốc men “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội như bánh canh”, cả đời chỉ lo miếng ăn, chẳng biết thành thị là gì, giải trí là gì! Đến thời thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, dân chúng vùng lên chống ngoại xâm. Những người yêu nước chống Pháp (làm quốc sự) bị truy nã, thường trốn về vùng U Minh, Cà Mau sống lẫn lộn với dân chúng. Họ họp nhau lập gánh hát bội, đi thuyền lang thang, nơi nầy hát vài hôm, nơi khác năm bảy hôm để đồng bào xem. Ai hảo tâm thì cho ít gạo, cá, sống qua ngày chứ không bán vé vô cửa. Để khỏi bị “hùm tha, sấu gắp”, dân làng dựng sân khấu giữa sông, theo kiểu nhà sàn, cột bằng cừ tràm, lợp lá dừa nước. Xung quanh lại đóng cừ như hàng rào dưới nước để sấu không thể vào rình mồi được. Người xem bơi thuyền đến, ngồi trên thuyền xem hát cho an toàn. Vậy mà trên bờ, cọp tụ lại cả bầy, cùng nằm xem hát bội với bà con. Khi gánh hát dọn đi, thỉnh thoảng qua đấy, người ta vẫn còn thấy lũ cọp nằm cú rũ, như chờ gánh hát quay lại, diễn cho chúng xem. Như vậy “coi hát cọp” để chỉ người chuyên coi hát chui, không mua vé.

            Sau đây là chuyện “Cọp Côn Đảo”. Thời Pháp thuộc, tù Côn Đảo vượt ngục nhiều quá. Thực dân Pháp mới nẩy ra sáng kiến, chở ba con cọp ra Côn Đảo, tập họp tù, cho xem để tù sợ không dám trốn trại, rồi thả cọp vào rừng (trên đảo), để cọp bắt thú rừng, rắn rết, chuột bọ và tù (vượt ngục) để ăn. Bọn chủ ngục không biết rằng, khi tù vào làm trong rừng (đốn củi, đục đá cho trại) thấy “con gì cục cựa, trừ con bù lon” là bắt ăn sạch, vì đói quá. Tù đi làm chẳng dại gì đi lẻ tẻ để bị “cọp chụp” (vồ). Thế nên cọp chẳng có gì bỏ bụng, đói meo, đi không nổi, thấy người là lủi chỗ khác. Tù thấy cọp cũng bỏ chạy, nhưng sau, biết cọp đói nên vây lại, đập chết ăn thịt. Thịt được hai con thì cai tù biết, bèn cắt một người tù, mỗi ngày gánh cơm ra bờ biển, đổ ra đấy cho cọp đến ăn. Nhưng ăn cơm thiếu “chất đạm”, chẳng bổ béo gì, nên cọp tự “cải thiện” bằng cách mò cua, bắt ốc sống qua ngày. Không ngờ một hôm, cọp gặp một con ốc tai tượng (loại ốc dính vào đá) rất lớn đang há miệng chờ mồi (tảo). Cọp thấy thịt ốc ngon quá, bèn thò chân moi thịt ốc. Ốc đóng nắp lại, cọp kẹt chân trong đó. Loại ốc nầy, vỏ kết cứng vô đá, cọp rút chân ra không được. Thủy triều lên, cọp chết ngộp.

            Để chấm dứt bài nầy, tôi xin kể vài chuyện về cọp. Ở Mỹ có ông da đen, không phải dân Châu Phi mà lai Căm Bu Chia. Anh ta là vô địch đánh góp (golf). Ở đâu treo giải đánh góp là anh ta đến thi đấu và bợ tiền thưởng với cúp về. Hiện nay anh ta là triệu phú. Nhà chất đầy cúp đánh góp. Anh ta tên Tiger Woods (Rừng Hổ? Hổ Rừng?). Việt Nam ta, xưa kia cũng có ông Lê Như Hổ, nổi tiếng ăn nhiều và đánh giặc giỏi. Cụ Hoàng Hoa Thám, lãnh tụ kháng chiến chống Pháp được mệnh danh là Hùm Yên Thế.

            Người mình thường tin vào số mệnh, nên mới có chuyện kể rằng. Một cậu được thầy bói phán rằng, ngày đó, tháng đó sẽ bị chết vì cọp. Cậu ta sợ lắm, không đi sở thú, biết ai tên Hổ, tên Cọp thì tránh xa. Còn vài hôm là hết “hạn tai ương”, cậu ta mừng lắm, đến nhà bạn chơi, thấy trên tường có treo bức tranh con cọp, bèn đập tay vào mặt cọp và nói “Mầy chẳng làm gì được tao!” không ngờ trên bức tranh, bà chủ nhà may vá gì đó, tiện tay, gắn cây kim may lên bức tranh, cậu ta đập ta vào cây kim. Hôm sau, bị nhiễm trùng phong đòn gánh, chết.

            Hiện nay, người ta chỉ xem tranh mới biết con cọp ra sao chứ ít khi thấy tận mắt con cọp thực, vậy mà cũng có người chết vì bị cọp vồ. Vừa rồi, báo đăng, có hai công nhân trồng cây bên chuồng thú Đại Nam, tỉnh Bình Dương, một con cọp sổng chuồng vồ chết một ông, ông kia nhanh chân nhảy xuống nước thoát chết.

            Thêm vài chuyện vui về cọp. Một ông rất sợ vợ và bà vợ rất dữ. Bữa nọ, nhân vợ đi đâu đó, bèn mời bạn bè đến nhà nhậu chơi. Rượu vào lời ra, ông ta phét lác “Các ông sợ vợ chứ tôi tôi thì không. Vợ tôi hỗn hào là tôi trị trắng máu. Tôi dữ như cọp, vợ tôi sợ tôi lắm. Tôi gầm lên là vợ tôi xanh mặt” Không ngờ bà vợ về, đứng sau lưng, mấy ông bạn nhậu ra dấu, ông ta quay nhìn, thấy vợ thì run cầm cập. Bà vợ nhẹ nhàng hỏi “Ông là con cọp. Dữ lắm hả? Tôi sợ ông khiếp vía hả?” Ông ta nhanh trí đáp “Dạ phải. Tôi là con cọp, nhưng bà là Võ Tòng” (chuyện Tàu, có Võ Tòng, tay không đánh chết cọp).

            Một ông thất nghiệp, vào sở thú xin việc. Ông giám đốc nói “Sở thú tôi có con giả nhân, làm trò hay lắm. Nhờ nó mà khách đến xem rất đông. Chẳng may, nó vừa chết, chúng tôi lột da để dành. Anh có thể mang lốt con dã nhân đó, vào chuồng làm trò cho khách xem được không? Tôi trả lương gấp đôi công nhân ở đây”            Anh ta đồng ý, mang lốt giả nhân vào chuồng làm trò, thiên hạ không biết, vỗ tay hoan hô ầm ỷ. Hứng chí, anh ta nhảy nhót, đánh đu đủ trò. Không ngờ đánh đu cách nào lại văng qua chuồng cọp (hổ), nằm một đống. Con cọp gầm gừ, nhe nanh, múa vuốt xông đến, há miệng cắn con giả nhân (giả). Anh chàng làm giả nhân than một câu “Than ôi, Số ta chết vì miệng cọp!” và nhắm mắt chờ chết. Con cọp ghé sát tai anh ta thì thầm “Anh mới vào làm đây phải không? Tôi làm cọp ở đây hơn nửa năm rồi”.

            Chuyện cọp đến đây là hết. Sang năm tôi sẽ kể chuyện mèo (năm Mão) cho quí vị nghe.

Phạm Thành Châu

Hits: 93

Luận Về Tâm Lý Chính Trị

Trần Xuân Thời

Người ta thường nói đến tâm lý quần chúng, tâm lý xã hội, nhưng ít nghe ai nói đến “tâm lý chính trị”. Thật ra tâm lý chính trị thường được thể hiện qua “diễn đàn chính trị” nghĩa là tư tưởng lên khuôn cho hành động theo nhiều chủ trương, đường lối khác nhau, gọi chung là lập trường chính trị… Hành động nào cũng thường nhắm thực hiện một chủ đích, một sứ mệnh. Từ quan niệm tồn cổ, những gì do quá khứ tạo nên và lưu truyền lại cho hậu thế đều tốt đẹp, đều đáng quý, đáng học hỏi và đáng được xem là khuôn vàng thước ngọc, “Xưa Bày Nay Làm” hoặc hiện tại đáng yêu, đáng mến, đáng duy trì không cần phải thay đổi, đến quan niệm cải cách, phá hoại truyền thống, khuynh đảo trật tự xã hội đương thời để thay thế bằng cơ cấu tổ chức và trật tự mới, con người đã đi từ quan niệm cực hữu (reactionary–rightist) đến quan niệm cực tả (radical–leftist).

Trong quần chúng có những người đắn đo kỹ lưỡng trước khi chấp nhận một lập trường vĩnh viễn, cũng có người thay đổi lập trường tùy hoàn cảnh. Dù trong hoàn cảnh nào, lập trường chính trị cá nhân hay tập thể thường được thể hiện qua bốn ý niệm chính:

  1. Cực tả/Cách mạng (Radical extremist/Revolutionary);
  2. Cấp tiến (Liberal/Progressive);
  3. Bảo thủ (Conservative);
  4. Cực hữu/Phản cách mạng (Far right/Reactionary).

Các “nhãn hiệu” này thường được đề cập trên sách báo hiện hành, nhất là tại các nước dân chủ, trong đó người công dân có quyền tự do ngôn luận và có quyền gán bất cứ “nhãn hiệu” nào cho người đối lập trong phạm vi tự do tư tưởng theo luật định.

1. Cực tả/Radical extremist

Chúng ta thường gọi người theo chủ thuyết cộng sản là “bọn phá hoại” (radical). Người cộng sản gọi là cách mạng (revolutionary). Vì cộng sản chủ trương tiêu diệt tư bản chủ nghĩa, đả phá hệ thống xã hội đương thời tận gốc rễ. Nói khác đi kẻ chống đối phải bị thủ tiêu. Ngôi nhà cũ thì phải bị triệt hạ, đập nát để xây ngôi nhà mới, không cần tu bổ hay sửa chữa. Thay đổi tận gốc rễ như chính sách cải cách điền địa của nhà nước cộng sản. Cộng sản không những chỉ tịch thu ruộng đất mà còn đấu tố, sát hại các địa chủ nhằm khủng bố và triệt tiêu đầu óc tiểu tư sản như đã áp dụng ở các nước cộng sản “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”.

Đa số những người theo Cộng sản hoặc vì hận thù, hoặc vì nhẹ dạ, nóng lòng thay đổi, nghe theo lời hứa hẹn hão huyền, những lời hứa hẹn không mất tiền mua của các “Đỉnh cao trí tuệ CS”. CS không hề có chủ tâm thực hiện điều họ hứa hẹn, như triết gia chính trị Edmund Burke đã nhận xét “Hypocrisy can afford to be magnificient in its promises; for never intending to go beyond promises, it cost nothing”. Những người mù quáng mơ ước thiên đường cộng sản, ngày nay đã dần dần vỡ mộng. Thực tế chứng minh các lãnh tự CS Đông Âu, Trung Cộng hay Việt Nam đều lợi dụng giới vô sản, bần cố nông để giành quyền lực với danh nghĩa giả tạo, hứa hẹn hão huyền sẽ mang lại “Độc lập–Tự do–Hạnh phúc”. Sau khi cướp được chính quyền, các đảng vỉên CS trở thành tư bản đỏ, triệu phú, tỷ phú, nhà cao cửa rộng, áo xiêm buộc trói lấy nhau, nắm giữ các đặc quyền đặc lợi.

Thực sự, không hề có tự do, hạnh phúc thực sự trong một xã hội mà chính quyền không tôn trọng luân thường đạo lý. “Liberty does not exist in the absence of morality”. Không có luân lý, đạo đức thì không thể có tự do. Người đời gọi chủ nghĩa cộng sản vô thần hay chủ nghĩa Tam Vô:

(1) Vô gia đình: CS xoá bỏ đơn vị căn bản của cơ cấu xã hội là gia đình, khuyến khích con cái đấu tố cha mẹ, triệt tiêu liên hệ thân tộc;

(2) Vô Tổ quốc: Cộng sản chủ trương xóa bỏ biên giới quốc tổ để hòa mình vào thế giới vô sản đại đồng. Hồ Chí Minh chủ trương chiến đấu cho đến người Việt cuối cùng, vì đảng CSVN không chiến đấu cho sự sinh tồn giống tộc Việt Nam mà đem xương máu dân Việt chiến đấu cho chủ nghĩa CS, cho quan thầy Nga Sô, Trung cộng;

(3) Vô Tôn giáo vì CS chủ trương tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc lòng người.

Tôn giáo hướng thượng con người. Giúp con người tạo cho mình một lý tưởng để sống vượt lên trên loài cầm thú vì loài thú chỉ sống theo bản năng, duy vật, không có lý tưởng cao cả. Con người biết sống, hành thiện đời này để hưởng phước đời sau. Đó là chủ đích của đời người mà nhân loại hướng đến qua sự chấp nhận và thi hành tín điều do các tôn giáo truyền dạy. Hay nói khác đi, người không thể xứng danh là con người trọn vẹn nếu không có lý tưởng cao cả. Tổng Thống Hoa Kỳ Calvin Coolidge (1872–1933) đã nhận xét, chỉ khi nào con người có tín ngưỡng mới có thể sống đời sống trưởng thành “It is only when men begin to worship that they begin to grow”.

Cộng sản duy vật quan niệm con người chỉ là sản phẩm thiên nhiên (product of natural selection) như các lãnh giới khoáng vật, thực vật hay muôn thú khác. Đảng viên CS được đào luyện, nuôi ảo tưởng tự cho mình thuộc giai cấp đỉnh cao trí tuệ, nhưng thực sự đa số thiếu trình độ hiểu biết về thực chất của chủ nghĩa CS. Nhận xét này được thể hiện phần nào qua lời chứng được ghi nhận trong vụ án:

Flemming v. Nestor 363.U.S. 603 (1960). Nestor, an alien, became eligible for Social Security payments in 1955. In July 1956 he was deported for having been a member of the Communist Party from 1933 to 1939. Section 202(n) of the Social Security Act provided for the termination of Social Security payments when an alien is deported for being a member of the Communist Party. “Ephram (Fedya) Nestor, a Bulgarian–born immigrant to the United States, was ‘an unusual person,’ according to his second wife Barbara. She met him in 1933 when he was selling vegetables from his car and remembers not really liking him. ‘He stayed too long,’ he ‘talked too much,’ and worst of all to this devoted radical, he ‘passionately espoused the cause of Communism [but] he didn’t know too much about it.’ Interviewed when she was ninety, sharp–witted Barbara Nestor still recalled how Fedya embarrassed her at a Marxist study group with his ‘foolish’ statements and obvious lack of knowledge about Marx or communism. His family agreed he was ‘not much of a Communist’ when he joined the local party in 1936 and could not be trusted with the simplest duties. Nonetheless, the federal government deported Fedya in 1956 for his brief Communist Party (CP) membership.”

Trước khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời năm 1848. Thủ lãnh của tôn giáo lớn nhất hoàn vũ, Đức Giáo Hoàng Piô Thứ 9 (Pope Pius IX), năm 1846 đã cảnh giác thế giới về hiểm hoạ của chủ nghĩa cộng sản:

“The unspeakable doctrine of Communism, as it is called, a doctrine most opposed to the very natural law. For if this doctrine were accepted, the complete destruction of everyone’s laws, government, property, and even of human society itself would follow.” (Thông Điệp Qui Pluribus.16, ngày 9/11/1846). (Cái học thuyết nguy hại mà người ta gọi là chủ nghĩa Cộng Sản từ bản chất trái với luật thiên nhiên (Thiên luật), mỗi khi được chấp nhận, tà thuyết đó sẽ tiêu diệt hết nhân quyền, mọi định chế công quyền hợp pháp, quyền tư hữu và chính xã hội loài người.)

Nhiều quốc gia đã xoá bỏ chủ nghĩa CS. Nhiều người đã ly khai đảng CS, mặc dù trước đây họ đã hết sức hăng hái mang nhãn hiệu cách mạng, hãnh diện là đồ đệ của đệ nhất, đệ nhị hoặc đệ tam Cộng Sản Quốc Tế. Chủ nghĩa CS đã tạo nên những kẻ sát nhân như Stalin đã tàn sát hơn 20 triệu người, Mao Trạch Đông giết trên 70 triệu người, Hồ Chí Minh, cũng như Pol Pot được liệt kê vào danh sách của những kẻ diệt chủng nổi tiếng nhất trên thế giới. (Mao: The Unknown Story, Jung Chang).

Tại Hoa Kỳ, môn phái cực tả quá khích đã phát triển từ cuộc suy sụp về kinh tế năm 1929. Họ chủ trương tái tạo xã hội Hoa Kỳ mới, dựa trên căn bản lý thuyết của Karl Marx. Họ hỗ trợ tích cực các phong trào công nhân thợ thuyền với khẩu hiệu “Not Black, not white Power but Worker’s Power”, như là phương tiện gián tiếp để cộng sản hóa Hoa Kỳ… Môn phái cực tả chủ trương canh tân các chương trình xã hội, tôn giáo và xã hội Hoa Kỳ theo quan điểm của Chủ nghĩa Cộng Sản.
Hiện nay có hai nhóm cực tả: Nhóm thứ nhất chủ trương cải cách xã hội bằng phương tiện cách mạng bạo động và sắt máu. Nhóm thứ hai chủ trương cải tổ ôn hoà bằng cách lợi dụng quyền đầu phiếu. Các nhóm này lôi cuốn một số người nhẹ dạ, nhưng không đủ khả năng lôi cuốn quần chúng và chính quyền. Những người này thường không liên kết với đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ. Những người Mỹ theo đường lối này thường áp dụng chính sách mị dân. Chủ trương tự do cá nhân phải có tính cách tuyệt đối nhằm dụ hoặc quần chúng. Họ chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện, nghĩa là dùng bất cứ phương tiện tốt, xấu gì cũng được miễn là đạt được kết quả mong muốn. Họ tuyệt đối tin tưởng vào chương trình cải cách Chủ nghĩa CS là thể chế hoàn mỹ, không có chủ nghĩa nào có thể thay thế…

Các tổ chức tà phái của Hoa Kỳ đã từng hoạt động như Communist Party – USA, W.F.B Dubois Club of America, Progressive Labor Party, Socialist Labor Party, Socialist Worker Party, Young Socialist Alliance, Spartacist League, Guardian, Worker League, World Socialist Party of USA, Ramparts, Monthly Review… Mỗi tổ chức đều ấn hành tạp chí để phổ biến chủ trương đường lối cho hội viên và quần chúng. Cũng nên lưu ý là ngược lại danh từ Radical ngày nay còn được dùng để mệnh danh những phần từ chủ trương đả phá chế độ cộng sản tại Nga và các nước Cộng Sản Trung Âu hay những phần tử quá khích như Radical Islam….

2. Cấp tiến/Liberal:

Chủ trương thay đổi với mức độ ôn hoà thường được gọi là cải cách (reformer/liberal). Những người cấp tiến sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi nhưng không có tính cách đả phá, hủy hoại chế độ hay hệ thống đương thời. Tu bổ, sửa chữa lại ngôi nhà đang cư ngụ hơn là áp dụng phương thức phá hoại như cộng sản đã và đang áp dụng. Cộng sản chủ trương đốt nhà để cho nhân dân sống cảnh màn trời chiếu đất, nghĩa là chịu hy sinh cực khổ trong hiện tại, trong lúc xây cất lại ngôi nhà mới nhưng không biết bao giờ ngôi nhà mới hoàn thành.

Những người chủ trương thay đổi cải cách thường chấp nhận chủ thuyết của đảng Dân Chủ hoặc cấp tiến, đều có khuynh hướng cải cách xã hội, và thường được quần chúng Mỹ liệt vào loại thiên tả ôn hoà (leftist) vì đảng CS được tự do hoạt động tại Mỹ dưới nhiều hình thức, kể cả hình thức đoàn thể xã hội và lợi dụng các quyền tự do để bành trướng. Danh từ “Liberal” phát xuất từ thế kỷ thứ 19 do tiếng Tây Ban Nha, tên của một chính đảng ở quốc gia này. Đảng viên Liberal tin tưởng vào khả năng của công dân biết sử dụng quyền hành của mình một cách xứng đáng. Trong cuộc tranh cử Tổng Thống năm 1988, ứng cử viên TT Bush đã nhận xét ứng cử viên TT Dukakis là “Liberal”. Dù danh hiệu này rất thông dụng, nhưng hiện nay vẫn chưa được xem là ý niệm tốt trong tâm lý quần chúng vì có tính cách thiên tả và các phương pháp cải cách của tả phái.

3. Bảo thủ/Conservative

Khác với hai chủ trương nêu trên (radical và liberal) có tính cách khuynh tả (leftist), theo quan niệm hiện hành của đa số công dân Hoa Kỳ. Những người chủ trương bảo thủ (conservative) ôn hoà bằng lòng với hiện tại. Họ cho rằng hiện tại vẫn tốt đẹp, không cần phải thay đổi. Những người này thường chủ trương hỗ trợ đảng Cộng Hòa. Danh từ Bảo thủ nghĩa là bảo tồn, như bảo tồn truyền thống, thuần phong mỹ tục và định chế chính quyền dân chủ đã được hình thành qua kinh nghiệm chung của nhân loại. Môn phái bảo thủ cũng chống lại chủ trương tự do quá trớn hay tự do phóng nhậm, vì tự do cũng cần phải được giới hạn để mọi người có cơ hội hưởng tự do đồng đều. “The extreme liberty as we all know, in every point, is destructive to both virtue and enjoyment” (Edmund Burke).

Sở dĩ đảng Cộng Hòa giành được thắng lợi trong các cuộc tranh cử Tổng thống ba nhiệm kỳ liên tiếp trong 12 năm (1981–1993), một phần cũng nhờ dân chúng nhìn thấy tình trạng xã hội đương thời không cần thay đổi nên đã dồn phiếu cho đảng Cộng Hòa thay vì bầu cho Dân Chủ. Đa số những người trung niên, giới trí thức và lão niên chấp nhận khuynh hướng bảo thủ. Khuynh hướng này đang là những làn sóng ngầm ảnh hưởng đến tâm lý quần chúng hiện nay khiến cho những đề nghị cải cách táo bạo không có cơ hội phát triển. Tuy nhiên những cải cách táo bạo vẫn được các ứng cử viên Clinton, Sander quảng bá trong cuộc tranh cử năm 2016 và Ứng cử Viên Trump đã đắc cử với chủ trương “Make America Great Again”. Nền chính trị Hoa Kỳ phức tạp nên khó tiên đoán đảng nào sẽ đắc cử trong các nhiệm kỳ sắp đến.

4. Cực hữu/Reactionary

Lớp người bảo thủ cực hữu (reactionary/far right) là những người vẫn thích thay đổi, nhưng thích tồn cổ hơn. Những gì do tiền nhân để lại đều đáng quý trọng, đáng được học hỏi, đáng bảo tồn, đúng với câu “xưa bày nay làm”, và thích trở lại những ngày vàng son của thời đại vua Nghiêu, vua Thuấn. Những người này đương nhiên không chấp nhận thái độ cách mạng, phá hoại truyền thống của cộng sản nên đã gây trở ngại cho sự bành trướng của cộng sản. Cộng sản gọi những người quốc gia chống cộng thuộc khuynh hướng cực hữu là thành phần “phản động” (right wing extremist/Reactionary).

Tại Hoa Kỳ hiện nay có một số tổ chức chủ trương cực hữu như John Birch Society, 20th Century Reformation Hour, Life Line, Christian Crusade, Manion Forum, Christian Anti–Communist Crusade, Liberty Lobby, Conservative Society of America, Church League of America, Harding College’s National Education Program, Richard Cotten, Christian Freedom Foundation, v.v. những người di dân từ các nước Đông Âu bị Hồng quân Nga chiếm đóng sau đệ nhị thế chiến hoạt động mạnh trong các tổ chức cực hữu.

Mỗi cơ quan đều có tạp chí để phổ biến đường lối trong quần chúng. Chủ trương quốc gia cực hữu nhất quyết không công nhận cộng sản dưới bất cứ hình thức nào, đã đang là thành trì chống cộng hăng hái nhất hiện nay. Tâm lý chính trị tại Miền Nam VN trước 1975 cũng vậy, không chấp nhận CS dưới bất cứ hình thức nào nên đã trục xuất ra Bắc một số điệp viên CS len lỏi vào chính quyền Miền Nam. Trong lịch sử xây dựng nền dân chủ tại Nhã Điển (Athens), thủ đô của Hy lạp, năm 461 trước Công Nguyên, Pericles cũng đã dùng biện pháp an trí (ostracism) các phần tử chống đối ra khỏi thành Athens một thời hạn tối đa 10 năm. Nền dân chủ tại Nhã Điển thời bấy giờ là nền dân chủ trực trị như hình thức Hội Nghị Diên Hồng, người dân trực tiếp tham gia bàn luận kế sách về thuế khóa, hòa hay chiến…

Tâm lý chung của những người bảo thủ cho rằng không phải người nào cũng đáng tin cậy, cho nên phải “chọn mặt gởi vàng”. Họ không hẳn tin tưởng vào khả năng của công dân có thể quyết định sáng suốt, nên họ chủ trương cần có chính quyền. Họ chủ trương quốc gia cần được giai cấp ưu tú (enlightened group) lãnh đạo. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 cũng do các vị khai quốc công thần ưu tú soạn thảo. Quốc hội Hoa Kỳ cũng gồm hai viện. Thượng Viện thể hiện giá trị truyền thống, tôn trọng kho tàng văn hiến, khôn ngoan đã được tích lũy qua hàng trăm năm lịch sử.

Trong bài diễn văn lịch sử đọc tại Gettysburg, Pennsylvania năm 1863, Tổng Thống Abraham Lincoln đã tái xác nhận Hoa Kỳ sẽ được tái sinh trong Ơn Thánh Chúa là quốc gia tự do của dân, bởi dân, để phục vụ nhân dân và sẽ không biến mất trên thế gian này: “This nation, under God, shall have a new birth of freedom –– and that government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the earth.” (Abraham Lincoln, November 19, 1863)

Trong thời gian chiến tranh lạnh sau thế chiến thứ hai, giữa hai khối Tự do và Cộng sản, Mao Trạch Đông đã từng khích lệ các lãnh tụ CS Nga Xô tấn công tiêu diệt Hoa Kỳ. Năm 1963 dưới thời TT Kennedy, Nga Xô đã đem hoả tiễn thiết trí tại Cuba, chỉ cách Hoa kỳ 90 miles. Hoa kỳ phản ứng mạnh mẽ, một mặt phong tỏa vịnh Cuba, mặt khác ra lệnh chuẩn bị tấn công, nếu Nga Sô không tháo gỡ các dàn hoả tiễn. Nga Sô sợ Thượng Đế bảo vệ Hoa Kỳ qua lời “Sấm” của Tổng Thống Lincoln “Hoa Kỳ sẽ không biến mất trên thế gian này” bèn lui binh vô điều kiện!

Xã hội Hoa Kỳ đã và đang được thay đổi bằng những cải cách tiệm tiến, tuy chậm nhưng chắc, cũng nhờ những anh tài thực sự nỗ lực làm việc vì quốc gia dân tộc. Thay đổi nhanh chóng theo kiểu cách mạng cộng sản, thiếu suy tư và thiếu điều nghiên kỹ lưỡng đã đưa đẩy các nước cộng sản đến bờ vực thẳm, thảm khốc về cả hai phương diện kinh tế lẫn chính trị.

Những người cực hữu chống Cộng Sản mãnh liệt tại Hoa Kỳ cũng như các nước tự do trên thế giới, nhiều khi “dùng gậy ông để đập lưng ông”, nghĩa là “dĩ độc trị độc”. Họ dùng ngay phương pháp cộng sản để trị cộng sản. Họ là những người lớn tiếng cảnh giác quần chúng về hiểm hoạ cộng sản trước và sau khi bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Cộng Sản ra đời. Trong suốt 100 năm từ khi cuộc cách mạng Cộng Sản năm 1917 xảy ra tại Nga sô, những người chống cộng cực hữu chấp nhận thái độ bất cộng đái thiên với cộng sản, đa số không vì tư lợi cá nhân mà chỉ vì quốc gia dân tộc. Họ sẵn sàng chống đối những gì sinh lợi cho cộng sản, kể cả vấn đề bang giao, viện trợ cho thế giới cộng sản. Nhờ đó vào cuối thập niên 1980, Cộng Sản Nga Sô và Đông Âu sụp đổ. Từ sau đệ nhị thế chiến, khối Cộng sản Nga sô Đông Âu và Trung hoa vẫn mua ngũ cốc của Hoa Kỳ vì nền kinh tế của Nga Sô và Trung hoa trì trệ không đủ thực phẩm bán cho quần chúng. Hoa Kỳ thường dùng kinh tế làm đòn bẩy để thăng tiến nhân quyền đối các quốc gia cộng sản hoặc chuyên chế, như Tu Chính Án Jackson–Vanik mà chúng ta thường nhắc đến trong thập niên 1975–85 để tranh đấu cho vấn đề di dân, đoàn tụ gia đình, phóng thích tù nhân chính trị từ các nước CS Đông Âu hay Á Châu, VN đến Hoa Kỳ. (19 US. Code S.2432 Freedom of emigration in East–West trade).

Những người cực hữu cũng rất quan tâm về sự suy đồi của nền luân lý và giá trị cổ truyền. Họ rất trung thành với giá trị luân lý của đảng Cộng Hoà. Họ thường chống đối những chương trình, kể hoạch mà họ nghĩ là do cộng sản quốc tế hỗ trợ, các tệ đoan như tham những, hối lộ trong công quyền, trong nền tư pháp của Hoa Kỳ và các cơ quan cảnh sát. Họ chủ trương chính quyền có nhiệm vụ giáo huấn quần chúng để tránh sự lợi dụng của cộng sản và các phần tử phá hoại. Đặc biệt những người cực hữu hỗ trợ chế độ tự do kinh doanh và tư bản chủ nghĩa và chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa do nhóm cực tả chủ trương.

Đặc nét của chính quyền dân chủ là tự do kinh doanh và tự do cạnh tranh. Tâm lý kinh tế chính trị này thể hiện rõ rệt nhất trong các cuộc bầu cử. Cử tri sẽ luận xét về chủ trương và đường lối của ứng cử viên về phương diện kinh tế nhiều hơn về các phương diện khác. Sự kiện này cũng hiển hiện ngay trong các nước cộng sản, vì tình trạng kinh tế suy sụp, quần chúng nghi ngờ khả năng quản trị của giới lãnh đạo, hô hào đòi tự do kinh doanh, tự do dân chủ. Vì thế, bây giờ các nước Đông Âu kể cả Nga Sô không còn noi gương xã hội chủ nghĩa, mà ngược lại các nước này noi gương các nước tư bản để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của quần chúng. Marx, Lenin, Stalin không còn là thần tượng mà là tội đồ của các dân tộc Đông Âu. Do đó chúng ta có thể nói, bất cứ hình thức chính quyền nào mang lại cho quần chúng hạnh phúc, no cơm ấm áo với các quyền tự do căn bản theo Thiên luật đều được dân chúng hỗ trợ. Tự do dân chủ là môi trường thuận lợi nhất cho vấn đề phát triển về mọi phương diện nhân sinh.

5. Sứ mệnh bảo vệ chính nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền

Hoa Kỳ là một quốc gia mẫu mực thực thi chế độ bảo vệ tự do dân chủ, nhờ đó trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thế giới. Cơ quan FBI quản lý an ninh quốc nội kiểm soát chặt chẽ mọi hành vi phá rối trị an của CS Quốc tế. CIA quản lý an ninh quốc tế hoạt động rất hữu hiệu khiến cho Cộng Sản Quốc Tế, dù đã chiếm gần một nửa thế giới, từ sau thế chiến thứ hai, nhưng vẫn thất bại trong mưu toan khuynh đảo thành trì của Thế Giới Tự Do cho đến khi khối CS Nga và Đông Âu sụp đổ vào cuối thập niên 1980.

Trong suốt 100 năm sau ngày ban hành bản Tuyên Ngôn Cộng sản Quốc Tế (1848–1948), phong trào CSQT đã bành trướng qua các liên minh (Communist Comintern): Phong trào Đệ nhất (1864–1876), Đệ nhị (1889–1918), Đệ tam (1919–1943) và Đệ tứ Quốc Tế (1938–1953) nhằm lật đổ chính quyền tư bản, lấy giải thoát giai cấp vô sản làm cứu cánh và kỳ vọng đạo binh vô sản thế giới kết hợp để tiêu diệt tư bản vì lịch sử thế giới là lịch sử của giai cấp đấu tranh, biểu tượng là cuộc cách mạng vô sản tháng 10/1917 lật đổ triều đại Nga Hoàng Tsar Nicholas II… Tại Trung hoa, Mao Trạch Đông đã thôn tính Trung hoa lục địa năm 1949 và Tưởng Giới Thạch phải di tản chiến thuật ra đảo Đài Loan.

Trước sự bành trướng nhanh chóng của chủ nghĩa CS quốc tế, Hoa Kỳ đã gia tăng guồng máy an ninh quốc nội và tình báo quốc ngoại, ban hành và tu chính nhiều đạo luật ngăn ngừa phá rối trị an. Từ năm 1798, Hoa Kỳ đã ban hành luật Alien and Sedition Act ngăn ngừa và trừng trị cuồng ngôn nhằm làm mất uy tín chính quyền địa phương và trung ương… Năm 1917, Hoa Kỳ ban hành luật Espionage Act, đồng thời với cuộc cách mạng vô sản tại Nga sô.

Năm 1901, Tổng thống William McKingley bị các phần tử chủ trương vô chính phủ ám sát. Vị Tổng Thống thứ 25 của Hoa Kỳ, đã để lại các nhận xét bất hủ: “In the time of darkest defeat, victory may be nearest… That’s all a man can hope for during his lifetime – to set an example – and when he is dead – to be an inspiration for history”.

Tiểu bang New York ban hành luật ngăn ngừa tội phạm ám sát vì lý do chính trị và âm mưu lật đổ chính phủ… Năm 1919 Schenck, đảng viên CS, đã bị kết án chiếu luật Espionage Act 1917 vì sách động thanh niên phản đối chiến tranh và cản trở vấn đề tuyển mộ binh sĩ. Năm 1919 tại Ohio, Debs, một thủ lãnh CS, đã đọc diễn văn trước 1,200 khán giả nhằm sách động chống chiến tranh, xúi dục thanh niên bất tuân lệnh nhập ngũ, đã bị kết án trên 10 năm. Năm 1927 tại California, Whitney, đảng viên CS, bị kết án vi phạm luật Criminal Syndicalism Act, tổ chức phá hoại, dùng bạo lực làm phương tiện lật đổ chính quyền hợp pháp…. Năm 1951, chiếu luật Smith Act, 11 lãnh tụ CS đã bị kết án vì chủ trương bạo hành, lật đổ chính phủ…

Tại nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, Quốc hội đã ban hành luật trừng trị các hành động phá rối trị an, lật đổ chính phủ. Các luật lệ cấp Liên bang cũng như cấp Tiểu bang hiện nay vẫn còn có hiệu lực áp dụng đối với các hành vi phá rối trị an, lợi dụng tự do ngôn luận tuyên truyền xuyên tạc, sách động quần chúng tạo nguy cơ cho nền an ninh quốc nội.

Chúng tôi xin đơn cử một thí dụ về luật tiểu bang đối với chủ nghĩa cộng sản, nhân viết về vụ William Joiner Center thuộc Trường Đại Học Massachusetts tại Boston, tiểu bang Massachusetts, thuê hai cán bộ CSVN tham gia vào công tác viết về lịch sử người Việt tỵ nạn hải ngoại. Trong suốt hai năm từ tháng 1/2000 đến tháng 3/2002, Cộng đồng người Việt hải ngoại đã nỗ lực tranh luận với Đại học Mass tại Boston hầu điều chỉnh hành động vi phạm luật lệ của Đại học Mass.

Luật của tiểu bang Massachusetts, định nghĩa các tổ chức khuynh đảo là những tổ chức có mục đích chung nhằm lật đổ chính quyền hợp pháp bằng phương pháp bạo động hay các phương thức bất hợp pháp khác. Đảng cộng sản là đảng có mục đích khuynh đảo, do đó đảng cộng sản là đảng không được luật Massachusetts công nhận. Tổng trưởng Tư pháp có nhiệm vụ điều tra và truy tố các tổ chức khuynh đảo. Đảng viên các tổ chức khuynh đảo thường bị truy tố về tội hình sự, không được ứng cử vào các chức vụ công cử, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tại các cơ quan công quyền, không được tuyển dụng vào các cơ sở giáo dục công lập và tư thục, và bị cấm hành nghề trong một số ngành dịch vụ, không được nhập tịch, v.v.

Luật Massachusetts, Chương 264,

Điều 16 ấn định: “… Subversive organizations… mean any form of association… whether incorporated or otherwise for the common purpose of advocating, advising, counseling or inciting the overthrow by force or violence or by any unlawful means, of the government of the Commonwealth or of the United States.”

Điều 16 A: “The Communist Party is hereby declared to be a subversive organization.”

Điều 17: “A subversive organization is hereby declared to be unlawful.”

Điều 18: “The attorney general shall bring an action… against any organization which has reasonable cause to believe is a subversive organization.”

Điều 19: “Any person who becomes or remains a member of any organization knowing to be a subversive organization shall be punished by imprisonment in the state prison for not more than three years….”

Điều 20: “No person who has been convicted of a violation of the provisions… of section nineteen… shall be eligible to… employment… in any public or private institution… The attorney shall have jurisdiction in equity to restrain and enjoin any such person from performing such duties.”

Mặc dù hiện nay Hoa Kỳ giao thương với các nước cộng sản vì lý do kinh tế, thương mại, an ninh toàn cầu; vì lý do nhân đạo để nâng cao sinh hoạt của các lĩnh vực nhân sinh, và để bảo vệ nền văn minh nhân bản dựa trên các quyền thiên nhiên (natural rights civilization) hay nhân quyền do Tạo hóa ban cho nhân loại mà không ai được quyền xâm phạm. Tuy vậy các chính quyền độc tài vẫn đối nghịch với thế giới tự do, chứ không có nghĩa bang giao tức là xóa bỏ lằn ranh Quốc, Cộng.

Quan niệm về các quyền bất khả xâm phạm do Tạo hóa ban cho nhân loại là quan niệm phát xuất từ dân gian. Hầu hết nhân loại hướng về đấng Tạo Hoá. Từ ngàn xưa các bộ tộc, quốc gia đều quan niệm tộc trưởng các bộ lạc hay vua chúa các quốc gia là Thiên Tử, trung gian giữa Trời và loài người, thừa mệnh Trời trị vì thiên hạ. Quan niệm này bàng bạc trong lịch sử và văn hóa nhân loại từ cổ đến thế kỷ 20. Tại Á Châu, Tần Thủy Hoàng lên ngôi năm 13 tuổi, đến năm 22 tuổi mới được thực thụ tấn phong vào chức vụ Hoàng Đế năm 238 trước Công nguyên. Các vua qua các triều đại tại Trung Hoa đều được tấn phong theo quan niệm Vua là Thiên Tử, thay mệnh Trời trị vì thiên hạ cho đến đời vua cuối cùng của Triều đại Mãn Thanh vào đầu thế kỷ thứ 20.

Bên phương trời Tây, các Đức Giáo Hoàng La Mã, đại diện cho Thần quyền, là Giáo hội Công Giáo, thường tấn phong các vị Hoàng Đế như Giáo Hoàng Lê–ô thứ III năm 800 sau Công nguyên đã tấn phong Hoàng Đế Charlemagne. “Thần quyền và thế quyền như linh hồn và thể xác không thể tách rời nhau.”

Khổng giáo quan niệm “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. “Dân là nước, vua là thuyền. Nước có thể lật đổ thuyền”. Nhưng Khổng học cũng quan niệm “Trung thành bất sự nhị quân”. CS Tàu đã lợi dụng chủ trương “Trung Thành” này để khuyến dụ dân chúng trung thành với Đảng CS. Ngày nay Trung Cộng lập các Viện Khổng Tử tại một số quốc gia trên thế giới để bành trướng văn hoá Tàu. Nhưng tiếc thay, các Viện Khổng Tử cũng là cơ quan tình báo. Sự lạm dụng này đã khiến cho một số cơ quan truyền bá văn hoá của Trung Cộng bị các quốc gia đóng cửa.

Chủ nghĩa CS vô thần không công nhận các quyền bất khả xâm phạm và nổi tiếng trên thế giới là chủ nghĩa vi phạm nhân quyền. Vì CS vô thần, không tin con người có đời sau, nên không có tín ngưỡng. CS chủ trương con người là sinh vật kinh tế, không có linh hồn, nên cũng sống theo bản năng như các cầm thú khác. Ngược lại, các quốc gia tự do quan niệm mọi người sinh ra được hưởng quyền bình đẳng và những quyền thiên nhiên (natural rights) bất khả xâm phạm được Tạo hóa ban cho nhân loại.

Một trong những đặc điểm của Văn Minh Tây Phương là chủ trương quảng bá và trọng nhân quyền, tôn trọng nhân phẩm, nhân vị của con người. Mọi người được bình đẳng, được tạo dựng theo hình ảnh của Tạo hoá. Con người có:

(1) trí tuệ (intellect) để thu nhận kiến thức, tinh luyện suy luận và phát triển sáng tạo;

(2) lý trí (reason) để suy xét, phân biệt phải trái, thiện ác;

(3) ý chí (will) để quyết tâm thực hiện điều mình mong ước hay lý tưởng của mình và

(4) tự do (freedom) để hành động theo lương tri.

Do đó, con người “Nhân linh ư vạn vật” cao trọng hơn các loài thọ sinh khác.

Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại Ba Đình, Hà Nội, ông HCM cũng lập lại những câu văn trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776, mở đầu với câu:

“Hỡi đồng bào cả nước. Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”

CSVN muốn dụ hoặc đồng bào và đánh lừa dư luận thế giới tự do, vì nếu chúng ta xét qua thực chất hoạt động của đảng CSVN từ năm 1945 đến nay, chúng ta thấy rõ CSVN chỉ hứa suông mà không bao giờ có thành ý thực hiện những điều hứa hẹn. Lời hứa không mất tiền mua. Edmund Burke rất hữu lý khi nhận xét về những hứa hẹn hão huyền của các chính quyền độc tài: “Hypocrisy can afford to be magnificent in its promises; for never intending to go beyond promises, it cost nothing”.

Về phương diện tri thức, nghiên cứu về quyền thiên nhiên do Tạo Hoá ban cho nhân loại thuộc phạm trù Thần học (Theology). Các ý niệm về nhân phẩm, nhân quyền, các quyền bất khả xâm phạm được hiểu qua đức tin (Faith seeking understanding: If you do not believe, you will not understand) hơn là qua suy lý. CS Vô Thần không tin vào đấng Tạo Hóa tạo ra vũ trụ và nhân loại, nên chưa trưởng thành để am hiểu các ý niệm về quyền tự do Tạo Hoá ban cho nhân loại. Những quyền này Tạo Hoá ban cho mọi người, nhưng Tạo Hóa cũng ban cho con người tự do để chọn sự lành, lánh sự dữ hay ngược lại.

Ngoài ra, vì trí tuệ con người có khả năng hữu hạn nên ngoài cuộc sống trần tục, có những điều mà giác quan chúng ta không thu nhận được nên chúng ta cần phải có lòng tin tưởng để được Thiên khải. Cố Tổng Thống Hoa Kỳ Calvin Coolidge đã nhận định: Chỉ khi nào con người có tín ngưỡng mới mong được trưởng thành. “It is only when men begin to worship that they begin to grow” – “Có cầu mới được, có xin mới cho, có gõ mới mở”.

Quan niệm về quyền bất khả xâm phạm thiên nhiên do Tạo hóa ban cho nhân loại đã và đang ảnh hưởng đến tâm lý chính trị, tư duy và hành động, của nhân dân hữu thần trên thế giới và các triết thuyết chính trị của các quốc gia dân chủ Tây phương. Bảo vệ Tự do, dân chủ, nhân quyền là căn bản, là nền móng, là những hạt giống cưu mang mầm mống của các cuộc cách mạng tại Mỹ (1776), tại Pháp (1789) trong thế kỷ thứ 18 và ý niệm giải phóng nô lệ phát xuất từ Anh Quốc năm 1833 và sau đó được khai triển tại Mỹ gây nên cuộc nội chiến 1861–1865 trong thế kỷ thứ 19.

Tư tưởng lên khuôn cho hành động. Vấn đề thực thi sứ mệnh bảo vệ quyền tự do thiên nhiên (Natural Rights Liberty) do Tạo Hóa ban cho nhân loại đã và đang là nguyên động lực điều hướng chính sách đối nội, đối ngoại của Hoa Kỳ.

Đối nội, một trong những nguyên nhân chính của cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ (1861–1865) là để bảo vệ nhân quyền, giải phóng chế độ nô lệ, vì chế độ nô lệ không phù hợp với Thiên lý, phản bội lý tưởng tự do. “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong”. Hoa Kỳ đã trả một giá rất đắt, đã hy sinh 618,000 nhân mạng trong cuộc nội chiến Nam–Bắc phân tranh và cả sinh mạng của vị Tổng Thống Cộng hoà khả kính Abraham Lincoln, người quyết tâm giải phóng chế độ nô lệ để cải tiến xã hội.

Đối ngoại, Hoa kỳ đã tham chiến chống Đức Quốc Xã và Phát-xít Nhật trong đệ nhị thế chiến (1939–1945) tại hai mặt trận Âu, Á. Hoa Kỳ đã hy sinh hơn 500,000 quân sĩ. Giả sử Hoa Kỳ không tham chiến thì Âu Châu, Phi Châu đã bị Đức Quốc Xã xâm lăng. Á Châu và ngay cả Úc Châu cũng bị Phát-xít Nhật chiếm đóng thì vận mệnh của các dân tộc liên hệ tang thương như thế nào!

Nếu không có Hoa kỳ đánh bại Nhật Bản thì Trung hoa chẳng những đã hy sinh 14 triệu người mà còn phải hy sinh nhiều sinh mạng hơn nữa và nhất là Âu Châu, Á Châu, Phi Châu, cả Úc Châu cũng không biết bao giờ mới thoát khỏi ách độc tài đảng trị của Đức và Nhật. Trong cuộc chiến chống sự bành trướng của CS Quốc Tế tại Việt Nam, Hoa Kỳ cũng hy sinh 58,000 nhân mạng trong số đó có 7 vị tướng lãnh.

Tất cả hy sinh mà Hoa Kỳ gánh chịu, không phải để xâm lăng, chiếm đất, giành dân, mà đã thể hiện ý chí bất khuất trong chủ trương “bảo vệ chính nghĩa tự do” cho nhân loại chống kẻ xâm lăng. Đúng với triết lý nhân sinh của một quốc gia quyết tâm ra tay nghĩa hiệp:

“Nếu người tốt không ra tay nghĩa hiệp thì kẻ gian tà chiến thắng –Evil triumphs if good men do nothing.” (Edmund Burke) Và người hành động dưới ngọn cờ chính nghĩa chứ không phải xâm lăng qua chiêu bài giải phóng để áp đặt chế độ độc tài đảng trị, xoá bỏ biên giới quốc gia mà tổ tiên đã hy sinh xương máu gầy dựng qua hàng ngàn năm lịch sử từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau.

Hơn 125,000 quân nhân anh dũng, binh sĩ và tướng lãnh Hoa Kỳ, đã “sống gởi nạc, thác gởi xương” tại các nghĩa trang Âu, Á, nơi mà họ đã hy sinh để giành lại chủ quyền cho các quốc gia lâm chiến như Anh, Pháp, Phi và các nước khác tại Âu châu, Á châu… Hàng năm, đến ngày kỷ niệm Đệ Nhị Thế Chiến, dân chúng các quốc gia này đã đem vòng hoa ra tảo mộ, tri ân các chiến sĩ Hoa kỳ đã hy sinh mạng sống để giải phóng dân tộc họ. Đó là bằng chứng hy sinh vì Chính nghĩa, vì lý tưởng tự do mà thế giới CS không bao giờ có.

Ngoài vấn đề hy sinh nhân mạng, nhân dân Hoa Kỳ, sau thế chiến đã viện trợ hằng ngàn triệu Mỹ Kim để tái thiết Âu Châu và Nhật Bản. Hoa kỳ đã lột xác Nhật Bản từ chế độ quân trị, kiêu binh lạc hậu sang chế độ tự do dân chủ, bằng cách cung cấp thực phẩm, kỹ thuật, nhân tài vật lực để tái thiết quốc gia Nhật về mọi khía cạnh nhân sinh văn hoá, giáo dục, kinh tế, xã hội, chính trị. Nhờ thế, Nhật Bản đã trỗi dậy nhanh chóng sau cơn binh biến và ngày nay đã trở thành một quốc gia hùng mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến Tây phương. Nhật Bản tuy bại trận, nhưng luôn biết ơn Hoa Kỳ, đã từng vinh danh Tướng MacArthur vào danh sách phong thần, một trong 12 ân nhân của dân tộc Nhật.

Tại Việt Nam, năm 1975. Cộng Sản Bắc Việt đã vi phạm Hoà Ước Ba Lê và xâm lăng miền Nam Việt Nam nên Hoa Kỳ không viện trợ tái thiết. Cộng sản Bắc Việt, quá lạc hậu và dã man, đã trả thù Miền Nam bằng cách bắt giam hằng triệu dân, quân, cán, chính Miền Nam. Hàng chục ngàn người đã chết trong ngục tù CS vì bị tra tấn, đói khát và bệnh tật do chế độ lao tù bất nhân của chế độ CS. Hơn nửa triệu người đã chết thảm trên biển cả hay vùi thây bên góc rừng, xó núi, trên đường vượt thoát tìm tự do. Cuộc chiến do CS Miền Bắc phát động đã gây nên cuộc chiến tương tàn làm cho 5 triệu người Việt vô tội bị vong mạng.

6. Tâm lý cử tri

Ngoài các chủ trương thượng dẫn thể hiện qua tâm lý quần chúng, ảnh hưởng trầm trọng đến kết quả các cuộc tranh cử cấp tiểu bang và liên bang, thái độ chính trị của cử tri còn thể hiện hai loại khuynh hướng về chính trị và kinh tế:

(1) Khuynh hướng thứ nhất là bầu cho người tại vị (incumbency–oriented) và chọn ứng cử viên theo chính sách quốc gia (policy–oriented),

(2) Khuynh hướng thứ hai là chọn ứng cử viên theo kinh nghiệm kinh tế cá nhân của cử tri (personal experiences) và lượng định tình trạng kinh tế quốc gia (national assessment).

Cử tri thường dồn phiếu cho ứng cử viên đương nhiệm hoặc ứng cử viên cùng đảng với vị tiền nhiệm, nếu tình trạng kinh tế khả quan. Năm 1981, cử tri Hoa Kỳ đã bầu Tổng thống Reagan (1981–1988) và sau đó bầu cho Tổng thống Bush (1989–1993) thể hiện nền kinh tế khả quan dưới thời Cộng Hoà so với nền kinh tế suy sụp lạm phát phi mã dưới thời Carter (1976–1980) nên TT Carter đã thất cử khi ra tranh cử nhiệm kỳ hai.

Trong nền kinh tế Hoa Kỳ, nên lưu ý đến hai vấn đề quan trọng: thất nghiệp (unemployment) và lạm phát hay sinh hoạt đắt đỏ (inflation). Hai hiện tượng kinh tế này có tính cách nghịch vị: Thất nghiệp tăng thì lạm phát giảm. Thời Tổng thống Carter (1977–1981) lạm phát quá cao, (mortgage interest rate để mua nhà từ 12–18%). Cử tri chú trọng vào chính sách hơn là đảng phái hoặc cá nhân khiến cho Carter thất cử. Cử tri không bầu cho Carter đương nhiệm mà bầu cho Reagan. Từ năm 1981 đến 1993, đảng Dân Chủ không thể giành lại ngôi vị Tổng thống vì đảng Cộng Hoà có nhiều bí quyết chế ngự được nạn lạm phát và giảm tỷ số thất nghiệp. Thường nạn thất nghiệp dưới thời Cộng Hoà cao hơn dưới thời Dân Chủ, do đó những người sợ nạn thất nghiệp, hay lo lắng về tình trạng kinh tế cá nhân thường dồn phiếu cho ứng cử viên đảng Dân Chủ. Hai vấn đề này đều thuộc về kinh tế đại tượng (macro econ.). Đảng nào quân bình được cán cân thất nghiệp và lạm phát sẽ có nhiều cơ hội gặt hái được kết quả tốt đẹp trong các cuộc bầu cử. Sau cuộc bầu năm 2016, TT Trump đắc cử, nền kinh tế khởi sắc, nạn thất nghiệp giảm, kinh tế phồn thịnh.

Kinh nghiệm của cử tri về kinh tế cá nhân (personal experiences) và tình trạng kinh tế quốc gia (national assessment) cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành quyết định của cử tri. Nếu tình trạng gia đình khả quan, cử tri sẽ tiếp tục bầu cho Tổng thống, Thống đốc đương nhiệm hoặc cùng đảng. Sự kiện này có thể suy luận từ tình trạng kinh tế và kết quả các cuộc bầu cử cấp tiểu bang và liên bang. Chính cá nhân cử tri mới hiểu rõ tình trạng hạnh phúc hay đau khổ của mình vì sự thăng trầm của nền kinh tế, đúng như nhận xét của kinh tế gia Adam Smith: “Every man feels his own pleasures and his own pains more sensibly than those of other people.”

Lại nữa trong bất cứ nhiệm kỳ nào của Dân Chủ hay Cộng Hoà đều có người thất nghiệp. Những người thất nghiệp có thể có hai thái độ: bầu cho tổng thống đương nhiệm nếu nhận thấy tình trạng quốc gia khả quan và không cần luận về tình trạng thất nghiệp cá nhân. Cũng có thể họ bầu cho ứng cử viên mới để mong tình trạng cá nhân hầu có thể thay đổi. Vấn đề này thuộc tâm lý cá nhân nghĩ đến quốc gia dân tộc hay đặt nặng quyền lợi cá nhân, do đó cùng một hoàn cảnh có thể hai người có hai thái độ khác nhau.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ (2001–2008), đa số dân chúng Mỹ nghĩ rằng tình trạng kinh tế khả quan, đời sống gia đình thoải mái nên bầu cho ứng cử viên Cộng Hoà George Bush về cả hai phương diện kinh nghiệm kinh tế cá nhân và tình trạng kinh tế quốc gia. “When the nation’s economy is doing well, the voters would tend to vote for the incumbents, while those who believed it had been worsened would tend to vote for the challengers.”

Nhưng sau cuộc chiến kéo dài ở Trung Đông nhằm tiêu diệt khủng bố đã đánh vào thành trì tư bản của thế giới từ năm 2001. Tình trạng kinh tế gặp khó khăn nên dân chúng muốn có sự thay đổi. Ông Obama, nhờ chủ trương “Change” đã được bầu làm Tổng Thống được 2 nhiệm kỳ (2008–2016).

Tuy nhiên, khi gần hết hai nhiệm kỳ của Obama, xem ra dân chúng không thấy được sự thay đổi như Đảng Dân Chủ đã hứa hẹn. Ngân sách quốc gia thâm hụt đến 18 trillion hay 18,000 tỷ ($18,000,000,000,000). Tình hình an ninh quốc nội lại bị khủng bố đe dọa, thất bại về chính sách đối nội và đối ngoại.

Năm 2008, khi TNS Obama nhậm chức Tổng Thống, đảng Dân Chủ chiếm đa số cả Thượng viện lẫn Hạ Viện Hoa Kỳ. Sau 4 năm trị vì, dân chúng bất mãn, đảng Dân chủ mất một số lớn ghế Thống Đốc và mất luôn quyền kiểm soát Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ và lưỡng viện quốc hội tại nhiều tiểu bang.

Dự định phân phối người lớn và trẻ em vượt biên bất hợp pháp từ Nam Mỹ, hoặc di dân từ Trung Đông đến các tiểu bang, không nghĩ đến lý do an ninh và gánh nặng an sinh xã hội. Sự kiện này đã gây phẫn nộ trong quần chúng và hơn 30 vị Thống Đốc đã phản đối TT Obama về vấn đề di dân và nhiều vấn đề nhiêu khê khác.

Sở dĩ cuộc vận động tranh cử Tổng Thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2016–2020 đã có nhiều ứng cử viên đảng Cộng Hòa ra tranh cử vì các đảng viên Cộng Hoà thấy đây là cơ hội tốt để thắng cử. Trong lúc đó đảng Dân Chủ chỉ có 4 ứng cử viên, nhiều người không tham gia tranh cử vì thấy cơ hội thắng cử của đảng Dân chủ không cao. Thêm vào đó, chính trị Hoa Kỳ thường thay đổi đảng cầm quyền quốc gia cứ 8 năm một lần.

Tuy nhiên kết quả thăm dò dư luận thường thay đổi có khi tùy theo một số biến cố không thấy trước được như nạn khủng bố ở Pháp, hay ở San Bernardino, CA năm 2015, đã nâng cao điểm tín nhiệm cho một số ứng cử viên quan tâm đến chủ trương mạnh mẽ về vấn đề chống khủng bố, chống di dân mà các chính khách nhà nghề thường giữ thái độ dè dặt sợ bị phản ứng không dám lên tiếng. Nói khác đi một con bướm bay ở Âu châu có thể tạo nên làn gió mạnh ở Mỹ châu hoặc ngược lại. “Butterfly effect: This effect grants the power to cause a hurricane in China to a butterfly flapping its wings in New Mexico. It may take a very long time, but the connection is real. If the butterfly had not flapped its wings at just the right point in space/time, the hurricane would not have happened. “

Trong các xã hội độc tài đảng trị chỉ có một khuynh hướng chính trị độc tôn. Trong các quốc gia tự do dân chủ, công dân được hưởng quyền tự do thiêng liêng do Thượng Đế (natural law) ban cho mà không ai có quyền xâm phạm.

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ: “All men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness”. Mọi người sinh ra đều được bình đẳng, thụ hưởng những quyền bất khả xâm phạm do Thượng Đế ban cho, như quyền được sinh sống, quyền tự do và quyền tìm kiếm hạnh phúc…

Nền chính trị tại Hoa kỳ rất phức tạp, luôn luôn có những làn sóng ngầm xung đột giữa các quan niệm khác nhau, về vấn đề chọn ưu tiên trong khi thực hiện quốc sách.

(1) Ý niệm phổ quát cổ truyền được công chúng nhắc đến là ý nguyện của các bậc khai quốc công thần đã thể hiện qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 và Hiến Pháp năm 1787 chủ trương giành ưu tiên để bảo vệ quyền tự do thiên nhiên của con người do Thượng Đế ban cho “Natural Rights liberty”. Từ khuynh hướng căn bản này, một số ý niệm khác được khai triển.

(2) Ý niệm thứ hai là dành ưu tiên đề bảo quản quyền tự trị địa phương hay tiểu bang “Classical Communitarian Liberty”. Ý niệm này bênh vực quyền quản trị địa phương, tăng quyền tiểu bang và hạn chế quyền liên bang. Các tiểu bang đều có hai Thượng Nghị Sĩ và cứ khoảng trên dưới 500,000 dân được bầu một dân biểu trong Quốc hội Liên bang. Mỗi tiểu bang có quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

(3) Khuynh hướng thứ ba là ưu tiên để bảo vệ tự trị kinh tế cá nhân “Economic Autonomy Liberty”.

(4) Khuynh hướng thứ tư là dành ưu tiên bảo vệ công bằng xã hội “Social Justice Liberty” và

(5) Thứ năm là dành ưu tiên bảo vệ quyền tự do cá nhân “Personal Autonomy Liberty”, trong đó có vấn đề phá thai mà cuộc tranh luận khéo daì cho đến ngày nay. Nhân kỷ niệm 48 năm án lệ Roe v. Wade (1973-2021). Chúng ta thử xem qua lập trường đôi bên:

“The Biden Administration made the announcement in a press statement put out by the White House. “The Biden-Harris Administration is committed to codifying Roe v. Wade and appointing judges that respect foundational precedents like Roe,” reads the statement. “In the past four years, reproductive health, including the right to choose, has been under relentless and extreme attack,” it continues. “We are deeply committed to making sure everyone has access to care—including reproductive health care—regardless of income, race, zip code, health insurance status, or immigration status.” Roe v. Wade was the 1973 Supreme Court 7-2 decision ruling that the Constitution of the United States protects a pregnant woman’s liberty to choose to have an abortion without excessive government restriction. It struck down many U.S. federal and state abortion laws.

Meanwhile, Sen. Rand Paul (R-Ky.) said, “Today marks the grim 48th anniversary of Roe v. Wade. Since this ruling in 1973 over 62 million innocent lives have been lost due to abortion. Every single life matter including the unborn. We must protect the sanctity of life & prevent taxpayer dollars from funding abortions.”

Rep. Debbie Lesko (R-Ariz.) echoed Paul’s criticism. “Today is the tragic anniversary of Roe v. Wade,” Lesko wrote. “I am proud to be a pro-life woman in Congress and fight for the right to life for every unborn baby. Every life is a gift from God, and I will continue to defend the sanctity of life at every stage.”

Những người làm chính trị có thể, không ít thì nhiều, am hiểu tâm lý chính trị. Nhưng không hẳn người hiểu tâm lý chính trị lại làm chính trị. Trường hợp này, nghiên cứu để hiểu biết chính trị hơn là áp dụng kiến thức vào sinh hoạt chính trị một cách tích cực qua chính đảng. Hoặc nói cách khác đi không có “khiếu” hoặc không thích làm chính trị.

Làm chính trị cần sự dấn thân, can đảm, bền chí, nhẫn nhục… có khi hy sinh cả cuộc đời, không vì tư lợi mà vì quốc gia dân tộc. Tuy vậy, số người hy sinh vì quốc gia dân tộc thường ít, và khi hành động cần người hợp tác. Người hợp tác có thể vì danh lợi, thừa gió bẻ măng, tạo nên nạn bè phái, oán cừu, làm cho người có tâm huyết thân bại danh liệt.

Người có tâm huyết làm chính trị chỉ vì muốn thực hiện một sứ mệnh cao cả, không nề gian khổ, nếm mật nằm gai, noi gương Việt Vương Câu Tiễn, quyết chí xây dựng quốc gia dân tộc, như lời thơ diễn tả của Đằng Phương:

“Họ là những anh hùng không tên tuổi,
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông,
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh,
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước.”

Chung quy, con người thường hành động theo tư tưởng của mình. Tư tưởng thu nhận từ xã hội, học đường, bạn bè… kết tinh thành trạng thái tâm lý, gọi chung là tâm lý quần chúng.

Muốn thu phục nhân tâm, trước hết phải am hiểu tâm lý quần chúng. Muốn am hiểu quần chúng phải có tâm hồn khoáng đạt, cởi mở để có thể tiếp nhận ý kiến từ nhiều quan điểm thuận cũng như nghịch, để rồi tinh luyện, biến hoá, tương kế tựu kế, hầu thực hiện sứ mệnh cao cả của mình.

Dầu sinh hoạt chính trị dưới hình thức nào đi nữa thì bốn lập trường nêu trên từ cách mạng tả phái đến phản cách mạng hữu phái, vẫn là đặc tính chung của phạm trù tâm lý chính trị.

Trong bất cứ xã hội nào, thường một thiểu số chấp nhận một thái độ, một lập trường và dùng lập trường đó như kim chỉ nam hướng dẫn hành động. Từ đó một thiểu số tranh đấu cho lý tưởng của họ, nếu thắng thế, họ sẽ trở thành cấp lãnh đạo. Lãnh đạo vì dân vì nước là phước của quốc gia. Lãnh đạo vì xôi thịt là quốc nạn.

Thế thì không nên hờ hững với chính trị. Một mặt sinh hoạt chính trị “nhằm sửa trị sự việc cho chính trực”. Mặt khác nếu mình không tỏ rõ lập trường, tà đạo lên nắm quyền thì chính mình sẽ là nạn nhân của thời cuộc. “Evil triumphs when good men do nothing” (Edmund Burke). Nhận xét này là kim chỉ nam hướng dẫn hành động của đống bào quốc nội yêu chuộng tự do và quý vi đồng hương hải ngoại trong công tác kiện toàn cơ cấu tổ chức các đoàn thể ái hữu, tôn giáo, cộng đồng địa phương, tiểu bang, liên bang, quốc tế để xây dựng đời sống mới hầu hỗ trợ cho đại nghiệp cứu quốc chóng được viên thành.

Nhờ tự do tư tưởng mà các nước dân chủ đã tiến xa trên bước đường xây dựng quốc gia dân tộc, ý thức chính trị của quần chúng cao. “Ý dân là ý trời- vox populi vox dei”, không phải thể hiện bằng cách mạng, bằng đảo chánh, gây chiến tranh, cướp chính quyền mà bằng phương thức ôn hoà, nhân bản qua phương thức văn minh: Bầu cử tự do, thực thi quyền dân tộc tự quyết.

Bầu Cử Tự Do thật sự hiện hữu mỗi khi cơ quan tổ chức bấu cử, cử tri, ứng cử viên dựa trên động cơ đạo đức cao thượng” Một lòng vì dân, vì nước” qua quá trình (1) nghiên cứu, kiện toàn, tìm hiểu tường tận kỹ thuật, luât lệ tổ chức, điều kiện cử tri, ứng cử viên, chiếu theo nhu cầu của môi trường dân sinh, phát triển xã hội (cách vật trí tri); (2) tham gia bầu cử với tư cách cử tri, ứng viên hay nhân viên phòng phiều với tấm chân tình nhằm mục đích phung sự xã hội, “thương vì đức, hạ vì dân” (thành tâm); (3) Khi sự thành tâm đã an định thì không dùng phương pháp lương lẹo, gian trá, thay trắng đổi đen, (chánh ý); (4) Người được vinh danh là người có phẫm hạnh, là người luôn xét mình, tự sửa sai để hoàn thiện trong lời nói và việc làm (tu thân); (5) chọn người đại diện một cách công minh, chính trực thể hiện sự liêm chính, là hành vi nêu gương tốt cho con, cháu, trong công tác giáo dục, xây nền tảng gia đình (tề gia) (6) các cuộc bấu cử tự do được điều hành một cách chính trực gia tăng giá trị của tập thể, lòng tín nhiệm của đồng bào, sự thoã mãn của ứng cử viên, trong công tác xây dựng nhân quần xã hội (trị quốc); một khi mọi người, mọi nhà, mọi quốc gia tuân giữ đaọ đức truyền thống thì công đồng quốc tế đươc thái bình thịnh trị, (bình thiên hạ).

Nếu vai trò của các đoàn thể, cộng đồng, chính đảng, chính phủ là để hoằng dương chủ trương, đường lối chính trị để mời gọi sự hợp tác của quần chúng trong công cuộc xây dựng tự do, dân chủ và thịnh vượng cho quốc gia, dân tộc, thì công dân phải sáng suốt tự chọn lấy lập trường cho chính mình vậy.

Trần Xuân Thời

Hits: 118

Hãy Đếm Năm Tháng Mình

Đỗ Quang Tỏa (CH8)

 

Tại buổi Họp Mặt QGHC Miền Đông nhân dịp Lễ Tạ Ơn tại nhà Anh Chị Dũng-Tụ, tôi được Mục Sư  Trần Nhựt Thăng gởi tặng quyển sách MS vừa xuất bản “Hãy Đếm Năm Tháng Mình”. Thoạt đầu, tôi nghĩ đây có lẽ cũng là một cuốn sách truyền giảng Lời Chúa, như những cuốn sách hay tạp chí đã được Trung Tâm Truyền  Giáo Việt Nam xuất bản. Nhưng chỉ sau vài trang đầu, độc giả sẽ bị lôi cuốn vào những mẫu chuyện, không những có tính chất  tâm linh mà còn chứa đựng những tâm tình, kinh nghiệm sống mà tác giả đã trải qua trong suốt hơn 70 măm.

Trong chương mở đầu, tác giả đã nhắc đến câu chuyện của hai ông Charles Colson, Phụ Tá đặc biệt cho Tổng Thống Nixon từ năm 1969 và ông Tom Phillips, Chủ Tịch đại công ty Raytheon, Hai người là bạn rất thân với nhau và cả hai cũng đã thành công đến tột đỉnh của danh vọng và của cải vật chất. Nếu cuộc đời vẫn phẳng lặng trôi qua, thì con người sẽ được hạnh phúc biết bao? Nhưng những gì đã xảy đến với hai ông đã làm thay đổi hẳn cuộc đời họ và giúp họ “giã từ hư ảo”.  Phảng  phất trong câu chuyện này, người đọc cũng có thể thấy tác giả đã hé lộ  cho thấy tại sao Ông lại chọn  con đường làm Mục Sư để phục vụ Chúa khi đường công danh còn trải rộng và nhiều hoài bão về quê hương dân tộc chưa thực hiện được.

Những mẫu chuyện khác trong quyển sách xoay  quanh những câu hỏi lớn như  “người chết đi về đâu?” hay kinh nghiệm sống  “Ba bước thành công” hay “Việc trong tầm tay”. Nhiều chuyện nói về ân điển của Chúa và niềm tin mãnh liệt của tác giả vào sự cứu rỗi của Chúa.

Trong phần “Vài Nét về Tác Giả”, tác giả cho biết đã từng nắm chức vụ Tổng Thư Ký Bộ Thông Tin, Dân Vận và Chiêu Hồi từ năm 1969 dến 1974, dưới thời Tổng Trưởng Trương Bửu Điện và Hoàng Đức Nhã. Tôi hy vọng tác giả sẽ hé lộ một số chi tiết lý thú về quá trình làm việc tại cơ quan đầu não này vào lúc cuộc chiến Việt Nam đi vào giai đoạn quyết định, nhưng tác giả đã không nhắc đến ở đây. Cũng không giống như nhiều người Việt Nam khác là hay viết hồi ký kể lại những công trận của mình để đánh bóng cá nhân hay lãnh tụ của mình, tác giả chỉ kể lại những kinh nghiệm sống thực của mình, rồi để người đọc đánh giá. Nhiều lần trong quyển sách, tác giả đã nhắc đi nhắc lại là luôn luôn tôn trọng ý kiến cá nhân và “sự chọn lựa thuộc về Bạn”. Tuy nhiên trong một cuộc nói chuyện với cựu Tổng Trưởng Hoàng Đức Nhã (tháng 9, 2019 tại Virginia) , tôi được Ông chia xẻ kinh nghiệm làm việc của Ông với tác giả. Ông cho rằng thành công lớn nhất của tác giả tại Bộ Thông Tin  là đã tạo được niềm tin cậy với  Ông và cả Tổng Thống Thiệu (một người rất đa nghi). Ông cho biết bằng chứng là Bộ Thông Tin đã xử dụng rất nhiều anh chị em QGHC  trong những chức vụ then chốt. Người đọc cũng có thể tìm được những nguyên tắc giúp tác giả thành công “Việc trong tầm tay”.

Những bài học thực tiễn trong quyển sách cũng đã được tác giả sắp xếp lại qua nhiều giai đoạn từ việc dấn thân vào  công tác xây dựng Hội Cựu Sinh Viên QGHC Miền Đông,  tổ chức cơ cấu Cộng Đồng Việt Nam Vùng Hoa Thịnh Đốn, công tác từ thiện, đến việc gầy dựng được một nhà thờ Tin Lành Việt Nam vùng Virginia. Quyển sách này cũng có thể coi như một lộ trình cuộc đời  của tác giả và tác giả muốn “viết cho đời”. Người đọc có thể có nhiều chỗ bất đồng ý kiến với sự dẫn giải của tác giả, nhưng cũng khó phủ nhận được những gì tác giả nêu lên ít nhiều liên quan, ảnh hưởng hoặc thay đổi  cuộc sống chúng ta.

Nếu nói con người tạo ra tác phẩm thì tác phẩm cũng chính là con người đã tạo ra nó.  Chúc mừng MS Trần Nhựt Thăng.

Xin “Hãy cảm tạ trước khi quá trễ”.

Sách dầy 247 trang, ISBN # 978-168524760-7, không để giá bán.

Nhà in: focusdigitalpublishing@gmail.com

Liên lạc tác giả: trannhutthang@gmail.com

Đỗ Quang Tỏa (CH 8)

Mùa Tạ Ơn 2021

Hits: 109