Theo tin tức từ cơ quan chánh thức của VN thì năm 2018 kinh tế VN phát triển tốt hơn năm rồi. Thậm chí tốt hơn Trung Quốc.
Tuy nhiên, đó chỉ là cái nhìn phiến diện hay không thật đúng từ phía chánh quyền, và thường là thế. Dù có tiến bộ, nhưng nếu đi sâu vào thực chất và thực tế, kinh tế VN chưa bước qua được giai đoạn hứa hẹn là sẽ đạt được sự bền vững, và có đủ sức tự lực vươn ra thế giới cách bình thường, có thể cải tiến thực sự mức sống của đa số người nghèo khó.
Cho tới nay, sau 40 năm đổi mới, những trở lực lớn có căn nguyên sâu xa vẫn tồn tại. Những trở ngại nầy là những bức tường ngăn cản, là phong ba tàn phá những cố gắng của toàn dân hầu xây dựng một Việt Nam khá hơn về nhiều phương diện.
I. TÓM LƯỢC KINH TẾ VN NĂM 2018
Toàn cảnh nền kinh tế VN 2018:
Chánh quyền đưa ra những con số mà họ cho rằng kinh tế có tiến bộ. Cứ tạm nhận các thống kê đó. Song, bên cạnh cái tổng quát đó, có những tiêu cực kèm theo trong mọi lãnh vực kinh tế.
Tỷ suất phát triển đạt 7.08%, cao nhứt trong 10 năm qua. Năm 2017 là 6.8%. Nhưng theo World Bank thì tỷ lệ nầy vào khoảng 6.7%.
Nếu thực sự có đạt mức nầy thì kinh tế VN là khá hơn các nước Đông nam Á, kể cả Trung Quốc. Năm rồi TQ bị nhiều khó khăn hơn, theo ước lượng của các chuyên gia quốc tế, chỉ đạt 6.5%.
Vì kinh tế nội thuộc rất tệ hại, VN chỉ còn con đường duy nhứt là đẩy mạnh kinh tế đối ngoại. Đó là đầu tư ngoại quốc và xuất cảng, hai lãnh vực VN có nhiều lợi thế nhứt làm tăng trưởng kinh tế chung.
Đầu tư ngoại quốc (FDI) tăng khá hơn, trên doanh số $35.5 tỷ mk, tăng 12% so với năm qua. FDI chiếm hơn 30% tổng số đầu tư. Mặt khác, năm qua, TQ gia tăng đầu tư ở VN trong mục tiêu xâm chiếm kinh tế, tiến hành dự án Belt & Road, và né tránh chiến tranh mậu dịch với Hoa kỳ.
Theo các nhà nghiên cứu, cho tới nay thì nhân công rẻ vẫn còn là yếu tố thu hút mạnh nhứt FDI (giá nhân công VN nay bằng 50% TQ, và 40% Thái Lan). Tuy nhiên năng xuất công nhân VN hãy còn quá thấp, nhứt là trong lãnh vực công nghệ cao.
Xuất nhập cảng: Xuất cảng tăng 16% so với 2017. Hàng xuất cảng từ các công ty ngoại quốc chiếm khoảng 25% GDP, tỷ lệ rất cao so với nhiều nước ở Á châu.
Các hàng hóa xuất cảng chánh yếu là: Linh kiện điện tử , quần áo may mặc, giầy dép. Hai thị trường lớn của xuất cảng VN là US (tăng 12.5%) và TQ đều tăng (7%). Trong đó cá basa qua Mỹ, dù tăng, nhưng nay sẽ gặp khó khăn hơn vì US có đạo luật mới chuyển sự kiểm soát cá từ FDA qua cho Bộ Canh nông.
Nhập cảng cũng tăng. Do đó nhập siêu vẫn tăng tại một số thị trường quan trọng như Hoa kỳ. Mặc dù nhập siêu với TQ có giảm, hàng TQ vào VN chiếm vị trí thứ nhứt, với đủ thứ, chưa kể hàng lậu từ biên giới ước lượng 20 tỷ mk / năm.
Nông nghiệp không có tiến bộ lạc quan. Giá cả nông sản vẫn không ổn định. Vùng đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn vì các đập thủy điện bên Lào do TQ xây cất và bão lụt lớn ở miền Trung. Hàng lậu hàng giả TQ tràn qua.
Về hạ tầng cơ sở vẫn còn nghịch lý to lớn là chánh quyền với những dự án rất lớn hàng tỷ mỹ kim xây các đường cao tốc, trong lúc đó ngay tại Saigon và Hà nội rất nhiều con đường bị bể bị nghẻn bị nước ngập tại các khu nghèo, hàng chục năm rồi vẫn thế.
Một nghịch lý khác về đầu tư phát triển gia cư. VN có nhiều khu gia cư cao tầng, khu nghỉ dưỡng sang trọng cho người giàu có bất thường, và người Tàu mới di cư tới. Trong khi đó có rất nhiều nhà ổ chuột ở thành phố của công nhân, và nhà lá rách nát của nông dân, đáng lý phải có chương trình gia cư xây nhà rẻ bán góp cho cho những người dân nghèo khỗ nầy.
Dầu khí sản xuất bị giảm, ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngoại tệ. Các công ty quốc tế khai thác dầu lo ngại về sự căng thẳng thêm ở biển đông.
Tổng quát chỉ số giá cả tăng 3.6% so với năm trước (theo báo Nhân Dân Online). Chánh yếu do tăng giá xăng .
Mặt khác, chỉ số tiêu thụ của giới có lợi tức trung bình tăng. Điều nầy làm cho một số nước có xuất cảng mạnh có hy vọng hơn về thị trường VN, như Hoa kỳ , Âu châu , Nhựt, Đại hàn, Trung quốc. Các món hàng có triển vọng nhập cảng tăng như hàng tiêu xài cao cấp, thuốc men, máy móc, xe hơi (gia tăng 27% năm qua) và cả sản phẩm quốc phòng.
Tài chánh/ngân hàng: Nợ công rất cao, không giải quyết nổi. Tỷ lệ nợ công thực tế lên tới 210%/GDP. Vì khu vực quốc doanh vẫn lỗ nặng . Chánh phủ vay thêm nợ mới phần lớn chỉ để trả nợ cũ. Do đó nợ xấu rất cao 15 % tổng số tín dụng, (theo Lowy Institute), các nước Á châu chỉ vào khoảng 3-5%. 75% nợ xấu là thuộc quốc doanh.
Tính đến cuối quí ba năm2018 có 13 ngân hàng trong 17 ngân hàng lớn báo cáo là có nợ xấu gia tăng. Ngân hàng quốc doanh lớn là VietinBank có nợ xấu tăng 34.5% so với năm trước. Ngân hàng quân đội có nợ xấu tăng 45%. (Theo VN Express)
Về hội nhập toàn cầu: Trở lực quan trọng là VN chưa được Hoa kỳ và một số nước công nhận là nền kinh tế thị trường. Khi chưa là nền kinh tế thị trường thì các nước nầy có thể đánh thuế phá giá hay hạn chế nhập cảng mặc dầu VN là thành viên WTO.
Hoa kỳ rút ra khỏi TPP và chưa tái gia nhập. Năm qua, Hiệp định TPP với 11 nước có tên CPTPP và VN đã chánh thức là thành viên.
Về Hiệp định Mậu dịch tự do VN – Âu châu (EVFTA) chỉ xong ở giai đoạn một hồi tháng 10/2018. Nhưng phải qua quyết định chung cuộc vào đầu năm 2019.
(Chi tiết về mậu dịch quốc tế của VN sẽ được trình bày ở phần dưới bài nầy.)
Nói tóm lại, tình hình kinh tế VN 2018 có một số tiến triển. Nhưng bên cạnh đó còn quá nhiều khó khăn như nói ở trên.
Và nếu đi sâu vào thực trạng kinh tế chánh trị, tương lai nền kinh tế vẫn bị vướn kẹt những trở lực nghiêm trọng có căn nguyên rất sâu xa, được tóm tắt dưới đây.
II.TRỞ LỰC KINH TẾ SÂU XA TỒN TẠI
1. Trở lực do bản thể chế độ và cơ cấu kinh tế
Vì là chế độ độc tài, không dân chủ tự do về chánh trị, nên khi có chuyển đổi qua phần nào kinh tế thị trường, nền kinh tế chung vẫn đi cách khập khểnh và nhiều mâu thuẩn .
Mô hình “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, trên thực tế là một mô hình lưỡng thể. Nó vừa là sự hòa hợp vừa tương tác, vừa thuận lợi vừa đối nghịch.
Các năm qua, chánh quyền chỉ cởi trói các lãnh vực nhỏ, và tới nay chánh quyền vẫn nắm chặt các bộ phận cốt lõi và quan trọng. Đường hướng đó vừa có tánh tản quyền vừa tập quyển. Vì thế có nhiều áp bức, nhiều va chạm, vừa siết vừa buông.
Trong một guồng máy công quyền như vậy, hầu hết cán bộ viên chức, ngày này qua ngày nọ, đầu óc luôn chỉ suy nghĩ, tính toán kiếm tiền vừa trả “hụi chết”, vừa tạo cuộc sống thật giàu có cho gia đình. Những suy tư cho công ích cho tiến bộ đất nước chỉ là phụ. Đó là một trong các trở ngại của bộ máy nhà nước .
Các trở lực đó kéo dài vì bản thể chánh trị không thay đổi nên các hình thái kinh tế vĩ mô không thay đổi.
Triết lý và nguyên tắc căn bản của hành chánh công, mà chánh quyền CSVN đã thể hiện với nhiều sai lạc, qua các công đoạn của một tiến trình quản lý hành chánh công:
Về xác định đúng nhu cầu đất nước: Mục tiêu sau cùng của VN là Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN) như CSVN từng tuyên bố ‘Mục đích sau cùng là XHCN”, nên vẫn phải giữ “quốc doanh là chủ đạo” . Ngay bước đầu tiên là một bức tường chắn rồi. Như vậy rất khó có nền kinh tế thị trường thực sự. Hiện nay, chánh yếu phải dựa vào kinh tế đối ngoại, tức là dựa vào kinh tế các nước tự do dân chủ, đó là cái sân chơi quốc tế. Nên mâu thuẩn và cản trở đương nhiên phải có. Mặt khác, sự lệ thuộc quá nhiều vào kinh tế TQ cũng là một sai lầm và nguy hiểm cho sự phát triển bền vững và tự chủ.
Về xác định và chọn lựa mục tiêu ưu tiên: VN tiến hành gần như trái ngược. Có những mục tiêu không ưu tiên thì làm trước. Công việc làm và sửa chửa đường và cống rảnh bị bể nát , bị ngập nước trong thành phố đáng lẽ phải là ưu tiên hơn làm dự án rất tốn kém như dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên với chi phí trên 2 tỷ mỹ kim. Dự án cao tốc Cát Linh – Hà Đông tốn gần một tỷ mỹ kim. Cả hai dự án sau 4-5 năm nay vẫn chưa xong.
Sài Gòn chưa mưa đã lụt….
Về quyền chuẩn phê dự án: Ở VN sau khi đổi mới, hệ thống đảng và chánh quyền có sự tản quyền từ trung ương xuống địa phương. Điều nầy đúng vì làm cho công vụ nhanh hơn hữu hiệu hơn. Nhưng thực tế, Bộ Chánh Trị và chánh quyền trung ương dành lại quyền tuyệt đối nắm cái cốt lõi, và không có thể thống đứng đắn trong chọn lựa và chuẩn phê dự án. Như việc trung ương nắm hết viện trợ, địa phương nào biết điều thì được phân bổ. Nguyên tắc của VN là nếu dự án trị giá từ 10.000 tỷ đồng (độ $500 triệu mỹ kim) trở lên phải qua Quốc hội cứu xét. Thực tế không có. Như dự án Cát Linh-Đông Hà, dự án Nhiệt điện Duyên Hải, dự án Thủ Thiêm, dự án Bauxite… Các đại dự án do Bộ Chánh Trị quyết định, gần đây như dự án “Ba đặc khu Hành chánh kinh tế” năm qua. Dù Quốc hội hoãn biểu quyết luật, nhưng Bộ Chánh Trị đã quyết định và chỉ thị thực hiện từ 2017. Quốc hội chỉ để trang trí thôi.
Về hoạch định dự án phải tương đối chính xác về hai mặt kỹ thuật và tài chánh. Về kỹ thuật không thể có quá nhiều sai trái lệch lạc. VN thì làm kế hoạch nhiều sai trái. Giữa giai đoạn thi công phải thay đổi kỹ thuật, chậm trễ thời gian dài gấp đôi. Điểm thứ hai là phải tính toán kỹ càng chi phí. Nếu công trình phải làm lâu ba bốn năm, trên nguyên tắc, chi phí có thể phải điều chỉnh, vì vật giá gia tăng. Nhưng thông thường không quá 10-20%. Đằng nầy các dự án của VN thường đội vốn tức tăng chi phí lên từ 50-100% sau khoản ba năm thi công. Ví dụ như dự án cao tốc Cát Linh – Đông Hà đội vốn thêm lên 60 %. Hoặc nhiều công trình bị hư hỏng quá sớm trước thời hạn, như đập thủy điện Sông Đà. Tài chánh chi phí thì rất quan trọng, nhứt là trong nước nghèo, ngân sách luôn thiếu hụt. VN không coi trọng nguyên tắc “tối thiểu phí tổn tối đa lợi ích”. Tiền nhà nước là tiền chùa. Dự án nào cũng bị cướp mất độ 30% vào túi viên chức liên hệ. Có nhiều lắm, từ trung ương tới địa phương, từ cầu cống , xa lộ, bến cảng, phi trường, các đoàn kinh tế, hầu hết giao thầu nhứt là giao cho TQ, thay vì cho đấu thầu thì tiết kiệm nhiều tiền công quỹ (mỗi năm đầu tư công của VN từ 10-20 tỷ mỹ kim).
Về cơ cấu quyền lực: Năm 2018 có sự thay đổi quan trọng về hình thức, nhưng trên thực tế không gì quan trọng. Đó là “nhứt thể hóa” Tổng Bí Thư Đảng và kiêm Chủ Tịch Nước. Vẫn có hai bộ phận hai văn phòng với ngân sách to lớn và mức độ độc tài mạnh hơn. Khâu thanh tra kiểm soát các công trình nguyên tắc rất quan trọng. Nhưng VN coi thường khâu nầy cách cố ý. Vì vậy hầu hết các công trình rất sai sót, và khi sử dụng bị hư hỏng thì mới lòi ra. Thanh tra chánh phủ không có quyền đề nghị biện pháp chế tài cho các viên chức cấp từ Bộ trưởng, Phó Bí Thư, Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh, thành phố trở lên nếu chưa có ý kiến của Ban Thanh Tra đảng. Đó là nơi “chủ đạo” của đại tham nhũng.
Nguyên tắc tôn trọng luật lệ là một trong những nguyên tắc chánh của một nước theo pháp trị. Ở VN thì luật pháp và công lý không phải bảo vệ dân mà chỉ là bảo vệ đảng. Khi vào quốc tế, VN phải tôn trọng luật lệ quốc tế, không thể gian dối, như luật lao động phải theo luật của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhưng tới nay VN chưa hoàn tất. Trong lúc đó thì VN lại ban hành nhanh chóng luật có hại như luật an ninh mạng. Theo các nhà đầu tư ngoại quốc thì luật nầy có tác dụng bất lợi cho kinh tế.
Về mô thức kết hợp công tư: Hầu hết các quốc gia đều có sự kết hợp khu vực công và tư trong một số công tác. Ở VN khi theo mô hình kinh tế thị trường, thì phải có thành phần kinh tế tư doanh. Nhưng VN tạo dựng doanh nhân tư như là bàn tay nối dài của chánh quyền. Tại VN có hai loại tư doanh. Loại nhỏ, hay rất nhỏ thì độc lập hay nằm ngoài quỹ đạo chánh quyền. Còn loại tư doanh lớn, có bà con bạn bè với đảng viên, thì nằm trong quỹ đạo của chánh quyền, đó là bọn tư sản đỏ. Khi quốc doanh còn chủ đạo bắt buộc phải có tư sản đỏ để cùng viên chức đảng viên hợp tác, chia sẻ chiếm đoạt bóc lột tài sản công. Tình trạng nầy thật khủng khiếp, không tưởng tượng nỗi, chỉ có ở nước XHCN.
2. Trở lực do bộ máy công quyền và sự cấu kết cướp đoạt tài sản
Tệ hại của bộ máy quản lý kinh tế: Bộ máy hành chánh của VN quá kém, quá xấu về nhiều phương diện. Trong bài nầy, tôi chỉ nêu hai điểm liên hệ là: Thứ nhứt chính bộ máy đó là một cản trở cho phát triển. Thứ hai chính viên chức trong guồng máy đó cấu kết tạo nhũng lạm.
Thứ nhứt, bộ máy công quyền là một cản trở cho phát triển.
Nguyên tắc thông thường bộ máy công quyền có nhiệm vụ chánh là thi hành các mục tiêu của quốc gia. Nước nào cũng phải có bộ máy đó. Phải có khối người làm việc trong bộ máy đó. Bộ máy đó phải giúp dân, phải làm cho tốt, phải phục vụ dân và xây dựng đất nước. Đó là “bổn phận” chứ không phải “quyền”. Ở VN bộ máy đó cản trở con đường đi tới của dân bằng luật lệ và bằng cơ quan nhà nước các cấp như:
Luật đất đai: Quyền sở hữu bị tước đoạt. Quyền tư hữu là một kích thích sự gia tăng hiệu quả lao động. Chánh quyền làm trung gian thu hồi đất trả giá thấp bán lại cho công ty gấp chục lần cao hơn đưa tới hai hệ quả: người bán đất bị thiệt mất một số tiền, đáng lẽ họ phải có, để họ có thể dùng cho công việc làm ăn hay ruộng vườn nơi cư trú mới, hầu gia tăng phát triển thêm. Mặt khác, công ty kinh doanh bị cơ quan đứng giữa với giá quá cao, làm cho chi phí kinh doanh cao, giá thành phẩm hay dịch vụ cao, hạn chế phát triển kinh tế.
Việc thiết lập dự án và thực hiện dự án tốn kém quá nhiều vì qua nhiều cơ quan, nhiều viên chức, và kéo dài thời gian. Có rất nhiều dự án đã làm như vậy. Chẳng hạn dự án Đô Thị Mới Thủ Thiêm, dự án đường cao tốc Cát linh-Đông hà. Cùng một phương cách làm việc, con đường ấy đi vòng vo , từ Trung ương đảng, Bộ chánh trị , Ban cán sự Trung ương đảng , Ban cán sự đảng cấp Bộ , hay Tỉnh. Bộ phận nhận lịnh của Bộ (hay Tỉnh) phải hội thảo lấy ý kiến các Bộ , cơ quan khác. Mời cơ quan tư vấn. Đi ngoại quốc nghiên cứu thực tế. Lên kế hoạch chi tiết trình cơ quan bên Chánh phủ. Rồi trình lên văn phòng đảng lấy sự chấp thuận. Đến giai đoạn giao thầu (không đấu thầu là sai nguyên tắc) cho tư doanh lại phải tìm “phe ta” hay công ty nào “lợi quả” cao nhứt. Thường các dự án lớn phải điều chỉnh nhiều lần trong giai đoạn thi công. Thì phải qua nhiều trạm gần như trước. Mỗi lần nhờ một cơ quan để xin ý kiến là phải biết điều. Chưa kể các Ban Kiểm Tra. Như vậy khi đầu tư dự án lớn, trên vài trăm triệu mỹ kim thường phải tăng chi phí gấp từ 50-100% và thời gian thực hiện cũng gấp đôi là chuyện thường tình ở VN. Chi loại không chánh thức quá nhiều. Thời gian kéo dài thêm làm tăng tiền lãi các món nợ và thì giờ làm việc. Hệ quả là thiệt hại cho mức độ và chất lượng phát triển, nghĩa là thiệt hại cho ngân sách và cho nền kinh tế chung.
Thứ hai, bộ máy công quyền chủ mưu tạo ra tham nhũng.
Tham nhũng ở VN là quốc nạn, ai cũng biết. Trên thế giới có nhiều quốc gia có nạn tham nhũng. Nhưng ở VN thì chính các bộ phận của đảng và chánh phủ trực tiếp với đa số tuyệt đối viên chức của các bộ máy đó. Cho nên có thể nói cách tổng quát chính bộ máy lưỡng thể đó là chủ mưu trực tiếp tham nhũng trong các vụ lớn, và gián tiếp trong các vụ nhỏ. Viện chức trong bộ máy đó cấu kết hàng ngang và hàng dọc tạo ra sự cướp đoạt nhiều loại tài sản công và tư.
Cho nên đánh tham nhũng là tự đảng CS đánh “đảng ta”. Nếu đánh hết thì còn ai làm việc, toàn bộ máy chánh quyền bị đóng cửa.
Trong năm qua, chiến dịch đánh tham nhũng của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khá “hấp dẫn, khá vui”. Đây là lần đầu tiên đảng đánh đảng, lớn và nhiều. Nhiều đảng viên lớn, bị vào tù. Trong đó có thể kể các vụ: Petro VN với Đinh La Thăng, Trịnh Xuân Thanh, sơ khởi thiệt hại cho công quỹ vài trăm triệu đô. Vụ công ty Mobifone , gần 500 triệu đô, vụ bán đất quận 2, đất Thủ Thiêm, đất Nhà Bè của TP HCM có lẽ cả tỷ mk, vì nội vụ chưa xong. Vụ công trình đường cao tốc Cát Linh- Đông Hà, Metro Bến Thành-Suối Tiên mất mát nhiều trăm triệu đô. Vụ Vũ Nhôm Đà Nẵng tóm thu nhiều khu nhà đất quí ở Đà Nẵng không qua đấu thầu, rồi bán lại cho tư doanh giá gấp vài chục lần cao hơn, thiệt hại ngân quỹ nhà nước nhiều trăm triệu Mỹ kim. Vụ các ngân hàng Agribank, BIDV, Ocean Bank, ngân hàng Đông Á,.. vi phạm luật lệ, cấu kết tư sản đỏ lấy tiền ngân hàng đầu tư nhà đất và bị mất gần hết. Và còn rất nhiều vụ nữa xẩy ra hầu hết trên cả nước cũng có cái kiểu gần như vậy.
Đinh La Thăng hầu tòa
Các vụ tham nhũng to lớn đó rõ ràng cho thấy tình trạng tham nhũng ở VN là có kế hoạch, đúng qui trình, có tham dự của viên chức cao cấp, và thiệt hại quá lớn. Trong các vụ tham nhũng lớn như vậy, người dân thường không dính vào, chỉ có loại “công dân đặc biệt” là “tư sản đỏ” mới dính vào, mới được chia lợi.
Sự cấu kết giữa viên chức với tư bản đỏ là một hình thái đặc biệt của VN và TQ. Lợi dụng nền kinh tế đa thành phần và mục tiêu làm giàu của đảng viên, sự kết hợp công (tư sản nhà nước) và tư (tư bản đỏ) là công thức tốt nhứt cho đảng . Nhà nước có nhiệm vụ huy động tiền bất cứ từ nguồn nào. Bộ chánh trị và các bộ của chánh phủ nghĩ ra các mục tiêu (không cần đúng với nhu cầu đất nước). Lập ra hay thảo luận với nhóm tư sản đỏ, là bà con hay bạn bè đảng viên cao cấp, từ Tổng bí thư, Thủ tướng, Bộ trưởng, Tướng lãnh. Giao các dự án hay nhà đất công sản cho “công ty tư sản đỏ” số 1. Công ty số 1 nầy giao lại cho công ty số 2 với chia chác tiền thầu. Nhiều công trình lớn đều làm như vậy. Cứ như thế “công tư hợp tác lưỡng lợi”. Đất nước thiệt . Đảng viên giàu lên. Tỷ phú VN nẩy nở thêm.
3.Trở lực do lệ thuộc kinh tế TQ và Hội nhập toàn cầu
Chủ trương của VN là mở rộng mậu dịch quốc tế càng nhiều càng tốt. Đó là vấn đề sanh tử cho kinh tế VN. Mặc dù có kết quả tốt. Nhưng tới năm qua, khó khăn lớn vẫn còn . Ở đây tôi chỉ nói tới hai thị trường lớn là Trung quốc và Âu Mỹ.
Việt Nam và Trung Quốc . Trên bình diện kinh tế đối ngoại, VN vừa bị TQ ép, VN vừa tự muốn gia tăng hợp tác kinh tế với TQ. Cả hai mặt, VN đều có những khó khăn to lớn, tôi xin tóm tắt:
Mậu dịch hai chiều. Tiếp tục gia tăng. Mặc dù có chút cải thiện là xuất cảng hàng VN qua TQ gia tăng tỷ lệ cao hơn gia tăng hàng nhập từ TQ.
Trong 9 tháng đầu năm 2018 VN nhập của TQ $47.26 tỷ hàng hóa, và xuất sang TQ $28.8 tỷ.
Công ty truyền thông VN xử dụng đa số sản phẩm của công ty Huawei và ZTE, hai công ty bị US chế tài, và nhiều nước tẩy chay. Đây là ví dụ về sự áp đặt rõ ràng và tệ hại.
VN tiến hành nhanh chóng dự án “Hai hành lang một con đường” với TQ. Đó còn là một nguy hiểm về an ninh. Sức ép tiếp tục ngày càng nặng thêm. Đặc biệt VN cho phép chánh thức xài tiền TQ (yuan) tại 7 tỉnh biên giới. Một hình thức mất chủ quyền quốc gia.
Viện trợ : TQ với dự trù chi $1,000 tỷ mk cho đại dự án Belt & Road, nên tung tiền ra nhiều cho các nước kể cả VN với tiến trình thực hiện mục tiêu “Giấc mộng Trung hoa”. Tiền vay có hai bước. Lần đầu lãi suất ưu đãi, sau đi nữa chừng vay với lãi suất cao. Không trả nợ được sẽ bị sai áp đất đai, cảng, phi trường.
Người Tàu du lịch qua VN nhiều hơn (tăng 50% năm qua). Tương lai sẽ có những khu nghỉ dưỡng cho họ.
Ba Đặc khu Hành chánh – kinh tế Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc: Trung ương đảng và Bộ chánh trị đã quyết định hồi năm 2017. Và đưa dự luật qua Quốc hội biểu quyết cho có hình thức hồi tháng 6/2018. Nhưng bị dân chúng chống đối mạnh mẽ, Quốc hội cho hoãn lại. Về hình thức lẫn nội dung, ba Đặc khu nầy gần như là VN lập ra theo như kế hoạch của TQ trong Belt & Road, nhứt là các điểm vô lý và nguy hiểm như cho thuê đất 99 năm, vay số tiền rất lớn TQ (nhiều tỷ mk) cho hạ tầng, đầu tư casino, đầu tư nhà đất kể cả khu nghỉ dưỡng.
Đầu Đông năm 76, hai ngàn tù cải tạo Miền Nam lênh đênh trên chiếc tàu Hồng Hà trên đường ra Bắc. Đổ bộ lên Bãi Cháy, Hải Phòng.Đoàn tù chia thành hai nhóm. Một hướng về Cao Bằng – Lạng Sơn tiến phát. Một quẹo trái thẳng về Hoàng Liên Sơn. Sau một ngày và gần một đêm rong ruổi, đoàn tù nhóm tôi đặt chân xuống “Trại Cải Tạo Trung Ương Số 1″, Lào Cai lúc 3 giờ sáng. Đường vào các phòng giam chật hẹp, đèn đóm lập lòe, chốc chốc hiện ra khung cửa hẹp, trông giống hệt cảnh Địa ngục A Tỳ, vẽ trên vách các ngôi chùa cổ Miền Nam.
Mùa Đông năm đó thời tiết thật là khắc nghiệt, đó là lời của bọn cai tù nhận định như vậy. Ban ngày còn được 5-7 độ C, ban đêm dưới 0 độ. Đội 11 chúng tôi khi đó chưa được phân công chẻ tăm mành xuất khẩu nên được xua đi, xa cách trại 5-3 cây số, cuốc đất trồng mì (sắn). Theo “kỹ thuật thâm canh tăng vụ xã nghĩa hiện đại” thì … hốc mì phải vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc, rồi bỏ phân xanh xuống, tức là quơ lá cây rừng bỏ xuống đầy hốc, lấp đất lại, ủ năm ba bửa mới bỏ hom mì xuống. Trong Nam, chỉ cần cuốc một cuốc, bỏ hom mì xuống, lấy chân gạt đất lắp lại là xong. Còn ở đây, đồi núi toàn sỏi đá, không làm như trên thì hom mì không làm sao bắt rễ nổi. Cho nên phải làm như vậy chớ chẳng phải kỹ thuật xã nghĩa cái mụ nội gì! Đội 11 triển khai đội hình, tức là dàn hàng một vòng quanh ngọn đồi trọc, vì trước đó tù hình sự đã phát xong lùm bụi rồi, bắt đầu cuốc dần lên đỉnh. Sức tôi lúc đó cầm cuốc còn không vững, lại thêm trời lạnh như cắt, tay chưn run lập cập, dẫu cho có dùng hết “tinh thần cách miệng tiến công”, ra sức cố cù lừ cuốc xuống thì chỉ thấy sỏi đá văng tứ tung mà lưỡi cuốc không ăn xuống được bao nhiêu! Tên cai tù trẻ nhìn tôi, lắc đầu ngán ngẩm, bèn bảo tôi chạy đi gom chà, đốt một đống lửa to cho nó ngồi sưởi ấm. Nghỉ giữa buổi, chúng cho phép anh em xúm quanh đống lửa, sưởi ấm một lúc. Nhìn anh em mặt mày tái xanh, tái xám, ngồi ủ rủ giống như một lũ u hồn, oan khuất. Lại thêm gió giật từng cơn, đã lạnh càng thêm giá buốt, tôi cám cảnh sanh tình, đặt tên cho ngọn đồi đó là “Đỉnh Gió Hú” cho nó văn chương, thơ mộng. Chiều xuống, sương mù giăng mắc, gió rét căm căm, bọn tù lầm lủi bước. Về đến trại, trời đã tối mịt mùng. Nuốt vội một chén đá duy nhất củ mì băm mà nơi đây gọi là “sắn dui” là cai tù đã lùa vào phòng giam, khóa lại. Ai nấy lật đật giăng mùng. Bao nhiêu mền chiếu đều đem ra quấn vào người. Riêng tôi, lấy hết mền chiếu trải phía dưới, quấn quanh người tấm nệm mỏng của trại tù, ngồi dựa vách run rẩy, chống lạnh cho đến khi mệt mỏi, thiếp đi. Phòng giam chật hẹp, chứa 50 nhân mạng mà lúc nầy vắng lặng như nhà mồ vì không ai đủ sức cựa quậy, đi lại. Thuở nhỏ, ở Miền Nam ấm áp quanh năm nên nghe ông già, bà cả ví von “lạnh thấu xương, lạnh nứt da, nứt thịt hoặc lạnh trong xương lạnh ra” đều không hiểu nổi. Lúc này tuổi ngoài 40 mới hiểu được thế nào là cái lạnh trên núi rừng Việt Bắc.
Cho nên một buổi sáng tàn Đông, nhằm ngày Chúa Nhật, cai tù mở cửa trễ. Đang ngồi thiêm thiếp, bất đồ anh bạn nằm bên cạnh mở tung cửa sổ ra. Ngoài song cửa hoa rừng nở rộ một màu trắng xóa khắp núi đồi, báo hiệu mùa Xuân đến. Chỉ trong một thoáng, tôi cảm thấy trong lòng bừng nở một sức sống mới: Sự HỒI SINH của Mùa Xuân. Cho nên sau nầy, khi đọc Thiền Luận của Suziki, dẫn bài “Hài cú” của một thi sĩ Nhật Bản, nhìn một đóa hoa đơn côi bên vệ đường, cảm tác nên, để dẩn giải về nguyên lý “Chẳng phải một, chẳng phải hai” của Thiền Đạo, tôi cảm nhận được liền. Cũng tương tự, khi đọc bài Xuân Thiền cuả Trúc Lâm Trần Nhân Tôn:
Niên thiếu chưa từng hiểu sắc không Xuân về hoa nở, rộn trong lòng Đến nay hiểu được điều không sắc Xuân đến, giường Thiền, ngắm rụng hồng
Hoặc giả hai câu trứ danh:
Đừng tưởng Xuân tàn, hoa rụng hết Đêm qua, sân trước, MỘT CÀNH MAI
Tết năm đó, trên núi rừng Hoàng Liên, chúng tôi có một điều vui nhỏ, mỗi người được một cặp bánh chưng nhân đậu, có một lát thịt mở đàng hoàng, tuy nhỏ và mỏng. Đáng ghi nhớ là một sự kiện chấn động: Đó là tin hai người tù cải tạo Miền Nam toan vượt ngục, bị bắt lại. Ngày mồng ba tết năm đó, toàn phân trại K1 tập hợp tại Hội trường để nghe viên Chúa ngục xỉ mắng và đe dọa về vụ nầy. Về sau, biết được hai người anh em dũng cảm nầy là: Thiếu Tá TQLC Tôn Thất Thiện Nhơn và một Trung Tá HQ dường như tên là Phát.
Đó là cái Tết đầu tiên trên đầu phía Bắc của dãy Hoàng Liên Sơn. Về sau, khi từ phòng kỷ luật ra, anh Nhơn được bố trí về Đội 11 chẻ tăm mành của chúng tôi. Lúc nầy đã sang Hè, trời nóng như thiêu, như đốt. Cột kèo bằng tre nứa, giữa trưa nổ đom đóp.Trong một buổi họp đội do tên quản giáo chủ trì, anh T3 Nhơn liền cho nổ bom, long trời, lở đất, chấn động cả toàn trại. Chẳng là vừa khi khai họp, một tên “ăng ten” hèn nhát đứng lên tố cáo, “Nhờ ơn Bác đảng nuôi cho ăn học, nhà cao, cửa rộng, áo quần lành lặn, mà có người còn phát ngôn phản động… “. Tên nầy chưa kịp chỉ danh ai thì anh T3 Nhơn đã hùng hổ đứng vụt lên, bất kể cai tù dọa nạt, hô lớn như vầy: ” Đồ bợ đít, ngồi xuống. Tao chẳng những không biết ơn mà tao thù, tao oán. Bởi vì bác đảng mà thân tao tù tội, gia đình tan nát, đói khát, rách rưới tả tơi. Còn nhà cao, cửa rộng hả? Coi kìa! cái phòng giam chật hẹp, nóng như thiêu đó giống như Hỏa ngục A tỳ. Đồ bợ đít hỗn xược! Câm miệng, không thôi tao dọng vỡ mồm”. Trước tình cảnh lỡ khóc, lỡ cười, tên cai ngục bèn đứng dậy … dong thẳng một lèo … vì không có võ trang bảo vệ.
Mùa Xuân năm Kỷ Mùi 78 kế tiếp là một cái Tết buồn. Đêm 29 Tết, bác Hồ Đắc Trung cựu Dân Biểu và Tỉnh Trưởng Tây Ninh bị đau ruột trầm trọng. Trại chở đi Bệnh Viện Lào Cai cấp cứu, mãi không thấy về, không biết thân xác vùi dập nơi đâu! Đó là cái chết đầu tiên của người tù cải tạo Miền Nam trên núi rừng Hoàng Liên. Lại thêm năm đó, trại cạn láng rồi nên mỗi thằng tù chỉ được phát cho một cặp bánh chưng mỏng lét, ruột toàn khoai lang. Đến nổi bọn cai ngục mắc cở, chống chế, “Thôi mấy anh ăn đỡ cái Tết xoàng ở đây để năm tới về nhà ăn Tết vui hơn”.
Mà quả có thế thật, vì cuối tháng sáu năm đó, toàn trại, trừ hình sự và các anh Biệt Kích Miền Nam bị giam cầm ở đây từ trước, được lịnh chuẩn bị di chuyển. Có điều … KHÔNG phải về NAM mà là về Trại Tân Lập, Vĩnh Phú, về phía hữu ngạn sông Hồng. Trại nầy nổi danh là “MỒ CHÔN TÙ CẢI TẠO MIỀN NAM”! Vốn nó là trại cải tạo địa phương cải sang. Nhà cửa lụp xụp, lợp toàn bằng lá cói, lương thực dự trữ không có. Cho nên chỉ sau đó một tháng, xãy ra trận “dịch chết đói” mà họ gọi văn hoa là “suy dinh dưởng”. Có trên một trăm anh em tù cải tạo Miền Nam, rải rác khắp 5 phân trại, nhất là phân trại K1, K2, ngã gục, vùi thây khắp các đồi trồng khoai mì.
Mùa Xuân năm Canh Thân 79, vì suốt năm dài không nhận được chút ít tiếp tế nào của gia đình từ trong Nam gởi ra, nên sức dự trữ trong cơ thể cạn rồi, ai nấy đều phờ phạc, lửng lơ như xác chết chưa chôn. Tuy nhiên, tôi có một kỷ niệm cuối cùng với Đại Tá Nguyễn Văn Của, Tỉnh Trưởng Bình Dương. Tết năm đó, họ để cho tù đi lại các khu, thăm hỏi nhau. Khu tôi ở cách khu ĐT Của chỉ một bức tường cao. Tôi qua đó tìm thăm Ông. Thấy tôi, ông bước lại bá cổ, mừng rở. Tôi dang ra nhìn Ông đùa, “Coi bộ còn khá lắm”. Ông vừa chửi thề, vừa kéo lưng quần ra, “Coi nè, lưng quần tao hụt cả tấc vầy! Được, được cái nỗi gì!” Lúc nầy quả thật Ông Tỉnh Trưởng đã ốm yếu quá rồi. Tôi chỉ đùa cho Ông vui vậy thôi. Mùa Đông năm ấy, Ông bị phổi có nước. Mặc dầu anh em ở Bệnh xá, cũng là tù cải tạo, tận tình giúp đở, nhưng mà Ông yếu quá, quỵ xuống vĩnh viển.
Ngày chôn Ông, tôi đang cuốc đất bên vệ đường. Chống cuốc, đứng nhìn anh em đội Cải Lương quảy chiếc hòm dã chiến, đầu cao đầu thấp, lắt lẻo bước đi, trông thật thảm thương. Đàng sau chiếc hòm đong đưa đó, không có một ai thương khóc tiễn đưa. Tôi đứng đó, thầm khóc tiễn Ông mà cũng khóc cho thân phận khốn khổ của chính mình. Nói rằng khóc thầm là bởi vì, nếu chảy nước mắt mà bọn cai tù hay ăng ten nhìn thấy thì vừa bị chửi, vừa bị làm kiểm điểm về tội “không yên tâm cải tạo”.
Hồi đó, mùa Đông năm nào hay nói cho đúng là bắt đầu từ đầu tháng 9 tức là mới đầu Thu là tôi bắt đầu ôm bụng, rên rỉ cho đến hết Đông qua Xuân. Cho nên kể từ khi ĐT Của thượng đồi chè, tức là chôn bên cạnh đồi trồng trà, anh em thường kháo nhau, “không biết mùa Đông năm nay Phó Nhơn có qua khỏi không hay là lên đồi chè làm Phó cho Ông Của?”. Tôi nghe thấy được, liền dẫy ra, “Ổng có kêu thì kêu thằng Vinh đó! Nó là Phó của ổng chớ can hệ gì tới tao.”
Tuy nói đùa như vậy mà suýt tí nữa thì tôi đã theo Ông Của thật. Giữa tháng 12 năm 80, tôi đau một trận, thập tử, nhất sinh. Không phải ví von mà thật sự là như vậy. Đêm đó, khoảng 10 giờ, tôi bắt đầu lên cơn đau. Đến nửa đêm, chịu không nổi, la hét dữ dội, kêu lính gác, đòi cho đi Bệnh xá. Tên nầy lém lỉnh, dở trò hoãn binh, bảo chờ đi kêu cai ngục mở khóa cửa. Tôi chỉ biết lăn lộn, rít lên từng cơn. Gần sáng, tôi chịu hết nổi, làm liều, bước lại cửa sổ, thò tay qua song sắt, kêu toáng lên, xin cho một mủi Atropine. Thằng lính gác có biết trô pin, trô péc cái gì, nạt lại bảo chờ một chốc là mở khóa. Tới sáng, lả người nên khi cửa phòng giam được mở, tôi chỉ lờ mờ nhận thấy anh Mai, Đội phó Đội Rau Xanh, quấn mền, bồng đi. Đến Bệnh Xá, anh vừa đặt xuống là tôi bất tỉnh nhân sự. Từ đó về sau, tôi không biết gì nữa.Tỉnh lại thì đã nửa đêm, lại bắt đầu rên rỉ. Anh Lang cũng là tù cải tạo, được cử làm y tá trực Bệnh Xá, nghe thấy, bước lại nhỏ nhẹ bảo, “Cả Bệnh Xá chắt chiu mãi mới có được 5 ống Atropine. Từ sáng đến giờ, thấy anh đau đớn quá, không cầm lòng được, đã chích cho anh hết rồi. Bây giờ, dẫu còn thuốc cũng không dám chích cho anh nũa. Thôi, ráng ẩn nhẫn cho qua cơn.” Tôi dật dờ, khi tỉnh, khi mê như vậy trải qua 4 ngày, đêm. Sáng ngày thứ năm, thấy tôi có vẽ tỉnh táo, anh Lang cầm một ống thuốc đưa ra trước mặt tôi, không rõ là thứ thuốc gì, miệng nói, “Thuốc nầy khá mạnh, anh liệu sức kham nổi không, tôi chích cho.” Tôi cùng đường rồi, đánh liều, đưa tay ra. Quả nhiên, mủi kim chích chưa kịp rút ra, tôi cảm thấy như có ai cầm búa tạ đập mạnh vào ngực. Vừa tức thở, vừa nghe khí huyết nhộn nhạo, dâng lên, dâng lên. Sức sống từ mười đầu ngón tay, ngón chân thoát ra khỏi thân thể. Tôi kêu lên, “Anh Lang ơi! Tôi mệt quá!” mà nghe văng vẳng như tiếng của ai đó chớ không phải tiếng của mình. Tôi mơ hồ nghe thấy anh bảo, “Nằm xuống, nằm xuống.” Nếu tôi nghe lời anh, nằm xuống, có lẽ đã đi luôn rồi! May sao, tôi chỉ chống hai tay ra sau cho vững, nủa nằm, nửa ngồi, cố ngáp ngáp thở. Đợt thứ nhứt vừa hạ xuống, đợt nhộn nhạo thứ hai lại bùng lên. Có điều lạ lùng là lúc nầy tôi không cảm thấy đau đớn gì. Trí óc vẫn sáng suốt. Nhìn ra bên ngoài, buổi sáng mùa Đông mà lại có ánh nắng vàng le lói. Đồi núi dường như nhảy múa, khi gần khi xa. Tôi thầm than, “Cả đời không làm gì ác, sao đành phải vùi thây nơi rừng núi xứ lạ, quê người?” Rồi cố gắng hít thở. Bỗng nhiên, tất cả đều lắng xuống, thân tâm cảm thấy êm ả lạ thường. Đến nỗi khi về lại giường, nằm xuống đi vào giấc ngủ cô miên, êm đềm như chưa từng thấy.
Hồi đó, tôi chưa đọc Kinh Phật nên không lý giải được hiện tượng kể trên. Về sau, trong những năm cày cuốc trên Khu Kinh Tế Mới Bảo Lộc, tôi lần mò đọc Kinh Luận mới vỡ lẽ. Nếu hồi đó tôi hiểu được lẽ “Tùy Thuận Duyên Giác”, yên lặng nằm xuống, có lẽ đã dứt nghiệp từ khi ấy. Nhưng vì không hiểu biết, tôi lại cưỡng cầu, lại còn dấy lên “một niệm” oan khuất nên lại tái sinh. Nói cho rõ thì như vầy: Đạo Phật giải thích về Nghiệp bằng hình ảnh một mủi tên, ví như thân mạng. Nghiệp lực là sức mạnh phóng mủi tên thân mạng lao đi. Nghiệp dứt, mủi tên hết đà rơi xuống, thân mạng cũng dứt theo. Lúc đó, tôi đâu hiểu lý nầy nên mới cưỡng cầu, dấy lên một niệm oan khuất, tạo ra một Nghiệp Lực mới, đẩy mủi tên thân mạng tiếp tục duyên nghiệp mới.
Trên đây là những MÙA XUÂN TRÊN NÚI HOÀNG LIÊN, bởi vì nói là Tân Lập, Vĩnh Phú, kỳ thật nơi đó vẫn là một thung lũng hẹp nằm giữa rặng Hoàng Liên trên Đất Bắc
Xuân năm nay là bắt đầu năm thứ năm, sống trên đất Mỹ. Bốn Mùa Xuân qua đều không cảm thấy gì là Tết. Hội Tết ở đây, dẫu cho tổ chức khéo léo cách mấy cũng không thể tạo nên “không khí” của Ngày Tết nơi Quê Nhà. Con lân múa trong Hội Chợ Mỹ không thể nào sinh động như con cù giỡn pháo trên đường phố quê tôi. Con cù râu bạc đó làm thế nào sánh được với con cù râu bạc của Hội Chùa Bà, xứ THỦ, Bình Dương.
Tìm đâu thấy cành mai vàng rực rở của Ngày Tết ở Quê Nhà!? Tìm đâu thấy cảnh trẻ em mặc quần áo Tết sặc sỡ, vui đùa trên hè phố, thỉnh thoảng đốt trái pháo chuột nổ tì tạch!? Cho nên ngày Tết, cứ nằm nhà, ngâm Kiều, giải khuây:
Ngày Xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Hoặc giả, xót thân 15 năm lưu lạc phong trần thì ngâm Kiều vịnh:
Tấm lòng nhi nữ thương mà trách Chẳng trách chi Nàng, trách Hóa công
Dr. Tai, born in North Vietnam, came south with his family after the 1954 Geneva Conference along with a million other northern refugees. He has a law degree from the University of Saigon and a Master degree and doctorate from the University of Virginia in International Relations. In 1965, he returned to Vietnam to work as an attorney and professor of law and political science. Having fled Vietnam in 1975 for the U.S., he earned a law degree from Harvard in 1985, passed the Massachusetts bar in 1986, and has practiced as an attorney ever since. Concurrently, he continued his association with Harvard as a research fellow and lecturer in Chinese-Vietnamese law. His many books and articles include The Vietnamese Tradition of Human Rights, Immigrants in American Courts, and The Code of the Le Dynasty (co-author). He has returned to Vietnam in a variety of academic roles. Dr. Tai appears in Who’s Who in American Law, Who’s Who in the World, Who’s Who in America, and Who’s Who Among Asian Americans.
LESSONS FROM THE VIETNAM WAR
Lessons? For whom? They are different for the different parties. An American might be tempted to fix on who “lost” Vietnam – Congress, the executive, the military or the media. A South Vietnamese would surely name the U.S. pullout as a major factor in his country’s defeat and draw some obvious conclusions. As for the victorious North Vietnamese, Foreign Minister Nguyễn Cơ Thạch once gave an arrogant reply to Robert McNamara’s proposal for a lessons-learned symposium: “We won the war; why would we need to learn any lesson from it?” Yet the Communists, it can be said, lost the peace for the first decade after the war ended in 1975, because they suffered an embargo, were denied normalization with the U.S., and presided over a backward country that kept their people’s lives miserable for many years in comparison with other Southeast Asian nations.
For the Communists, too, there are lessons to be learned. Despite an autocratic regime which does not tolerate political dissent, and which abuses human rights, perhaps they have learned some lessons. According to the World Bank in 2018, for example: “Vietnam’s development record over the past 30 years is remarkable. Economic and political reforms under Đổi Mới [an economic reform program], launched in 1986, have spurred rapid economic growth and development and transformed Vietnam from one of the world’s poorest nations to a lower middle-income country.” (155) Despite the complexities, I will try to answer the lessons-learned question as a conscientious historian who was a member of South Vietnamese society and is now a grateful U.S. citizen, and as a person who looks back at his motherland with his best wishes for the people there, even as he criticizes certain Vietnamese government policies. I will try to take the long view of history. I see five lessons from the Vietnam War of 1960 to 1975, so called to distinguish it from the 1945 to 1954 Indochina War.:
First, changing national interests in the Vietnam war led to drastic changes in the war’s nature and the strategy needed to fight it successfully.
War should end with a negotiated peace, and with a political solution that sees an end to the intransigence that is appropriate for war but not for peace.
The people are the final arbiter on a war’s conduct. War should be referred to the people as the ultimate arbiter. War should not be between armed forces directed solely by generals and their leaders but should be supported by the population as a whole, who should be consulted when war is declared and when peace is negotiated.
If peace is to be enduring, war should end with reconciliation.
South Vietnamese and American Presidential leadership was one factor in the Vietnam War’s outcome.
Hindsight, of course, makes the war’s lessons easier to understand. But a scholar’s well-researched views on the lessons of history can still serve policy-makers well, even during urgent deliberations, because they can enable sound solutions with fewer missteps. Confucius, Sun Yu, Aristotle and others contributed by their advice to wise statecraft, just as modern European and American governments benefit from the work of think tanks and universities. Thus, the utility of the exercise we are engaged in today. Here are my five lessons from the Vietnam War:
1.The first lesson: Changing national interests in the Vietnam war led to drastic changes in the war’s nature and the strategy needed to fight it successfully.
In Vietnam, a civil war became uncontrollable because it became an internationalized proxy war, with outside powers intervening to suit their interests, and with the United States then abandoning the fray because its interests had changed. (156) Vietnam’s protracted, bloody Communist-nationalist civil war became an internationalized conflict promoted by the two big power blocs, and the two sides in the small country of Vietnam were touted as a vanguard of the Socialist Bloc and the bulwark of the Free World. Both sides depended on the big powers’ political, military and economic support. Once the United States started cooperating with China after Kissinger’s and Nixon’s trips to Beijing, the Americans had no more national security interest in devoting resources to defend South Vietnam.
So the U.S. abandoned South Vietnam. It made many concessions to North Vietnam (the Democratic Republic of Vietnam, or DRV) in the Paris Peace Accords of 1973, agreeing to a “leopard skin” ceasefire in South Vietnam (the Republic of Vietnam, or RVN) that left North Vietnamese troops in place, jeopardizing the South’s survival, and aiming to bring home American troops and prisoners of war to satisfy the American public. At the same time, the U.S. failed to replace lost South Vietnamese arms and ammunition on a one-for-one basis, as promised, or even to permit South Vietnam to use the American Aid Fund (Quỹ Đối Giá) to pay the salaries of its soldiers and police.
When North Vietnam’s all-out invasion caused the South to collapse in 1975, Secretary of State Kissinger hid from Congress the promise of President Nixon in his letters to President Thiệu to come to the rescue of South Vietnam with B52 bombing and arms aid; thus, both Congress and President Ford talked at the end only about the evacuation of the Americans from Vietnam. U.S Ambassador Graham Martin, visiting Washington at that time, condemned the American stance. “I think all over the world, everyone has reached a conclusion very harmful to us. That is it would be better to be an ally of Communism than to have the woe of being an ally of the United States.”
The South Vietnamese leaders, of course, should have been aware long before 1975, of the impermanency of big-power support and an eventual U.S. withdrawal due to changing national interest. The South Vietnamese leadership might have guessed that although in 1954 the U.S. wanted to replace France in South Vietnam as part of the containment policy against Communist encroachment in Asia, and although the Americans had supported the Ngô Đình Diệm regime as a “bulwark against Communism in Southeast Asia” and called President Diệm the “Churchill of Vietnam,” in later years there would likely be an American disengagement due to war weariness among the public and the surging anti-war movement. The result was President Johnson’s loss of hope and his decision not to run for re-election in 1968. I began around that time to express, as a scholar-professor, my worry of the impact of decreased United States support for relevant South Vietnamese officials, such as the colonels and generals who studied at the National Defense College in Sài Gòn. (157)
With the U.S. disengagement and drastically fewer supplies, the South Vietnamese had to face by themselves the continued civil war waged by the Vietnamese Communists, who launched their final offensive with maximum assistance in arms and transportation from China and the Soviet Union. After the resignation of President Thiệu in late April 1975, the successive South Vietnamese governments of Trần Văn Hương and Dương Văn Minh tried to negotiate a cease-fire, as if the civil war could be settled among “Vietnamese brothers,” with the encouragement and good offices of French Ambassador Merillon, trying to carry on for the fading Americans. But the victorious North Vietnamese forced the Dương Văn Minh government to accept unconditional surrender Dương Văn Minh on April 30, 1975. The political compromise that Thiệu could have pursued with the signing of the Paris Accords in 1973 was no longer available in the face of the now-lopsided imbalance of power (Thiệu himself had previously said that South Vietnam’s military potential had decreased by 60 percent). The South Vietnamese were now aiming mainly at a short humanitarian interregnum for those who feared for their lives under the Communists to leave Vietnam, as in 1954, when hundreds of thousands of refugees moved from the North to South Such a cease-fire was also meant to avoid the burial of Sài Gòn under a sea of firepower (biển lửa) at the hands of Communist troops. (158) The Americans, even after abandoning South Vietnam as a result of their changing view of their national strategic interests, did not abandon their humanitarian instincts. In 1975, President Ford proposed to Congress that the U.S. fund the rescue of Vietnamese refugees from inside Vietnam or from the South China Sea, and bring them halfway around the world to the United States, welcoming them to their second homeland at a time when they might have been regarded as simply the flotsam and jetsam of the Vietnam War. For this, Vietnamese in the United States will always thank the American people. On the issue of whether the Vietnam War was a civil war or an international war by proxy, the answer is not a simple one. It was first a civil war, beginning, from 1945 and before the French attempted to return to Indochina. Then, gradually, it was internationalized by the British, the Nationalist Chinese, the French, the Americans and finally the People’s Republic of China, all injecting into Indochina their concern for their own national interests. Finally, after the 1973 Paris Peace Accords and the withdrawal of American troops and the return of American prisoners, the war returned to its civil-war status. After the Việt Minh under Hồ Chí Minh seized power in August 1945, there was, early in September some friction between the Việt Minh and the Vietnamese Nationalist forces. The latter accused the Việt Minh of being Communists; the Việt Minh, in turn, denounced their opponents — the Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội VNCMĐMH, or Vietnam Revolutionary Alliance) and the Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ, or Vietnam Nationalist Party) — as reactionaries. These Nationalist forces planned to rely on the support of China’s Kuomintang (the Nationalist Party of Chiang Kai Shek) – support they had enjoyed since their exile to China after the failed rebellion of Nguyễn Thái Học in 1930 — in their plot to overthrow the Provisional Coalition Government of Vietnam (Chính phủ Liên hiệp Lâm thời Việt Nam), formed by Hồ Chí Minh on January 1, 1946, even though they already had a few representatives inside that government.
But these Nationalist parties could not carry out their plan; they lacked unity and had no popular base inside Vietnamese society due to their years in exile. They had only the hoped-for support of the corrupt Chinese generals who were coming to disarm the Japanese. Moreover, in organizing demonstrations and countering propaganda, the Vietnamese Nationalists were less skilled than the Việt Minh , who had abundant experience in these matters since Hồ Chí Minh, with the approval of Nationalist Chinese General Zhang Fakui, returned from China to Vietnam in 1941 ( under the name of the Vietnam Revolutionary Alliance, of which the Việt Minh was a member). Moreover, the Việt Minh had the support of Chinese Nationalist generals Lu Han and Tieu Van, whom they bribed with opium and gold collected from the people, and these Chinese generals forced the Vietnamese Nationalists to stay, albeit reluctantly, in the Communist-dominated Provisional Coalition Government of Vietnam. The Việt Minh also had support from the Third Communist International and the Office of Strategic Services (OSS), the wartime intelligence agency of the United States. The Việt Minh organized meetings, marches and exhibitions with pictures of their cadre killed by the Nationalists. There was some restraint. A Communist party member asked Hồ Chí Minh, “Dear Uncle, why let those murderous traitors live? Please just give the order and we will liquidate all of them in one night.” Ho just smiled. ”If there was a mouse in this room, would you throw a stone at it or try to catch it? Using a stone will break precious things. To achieve great work, we must have farsightedness.” The Nationalist-Communist friction might conceivably have stopped right there, allowing Hồ Chí Minh and the leaders of the Nationalist parties to avoid civil war. In previous times, as exiles in China, the two had shared dangers, and Nationalist leaders Nguyễn Hải Thần and Vũ Hồng Khanh had helped save the life of Hồ Chí Minh by intervening in Liuzhou, China with the Nationalist Chinese general who detained him. After capturing power in the August 1945 Revolution, Hồ Chí Minh tried to win the cooperation of the Nationalists for the new government before the returning French sowed disunion. Hồ embraced Nguyễn Hải Thần of the Vietnam Revolutionary Alliance (Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội) and implored the Nationalist parties to cooperate with him. The Provisional Coalition Government of Vietnam included representatives of the Nationalists, such as Vũ Hồng Khanh of the Vietnam Nationalist Party (Việt Nam Quốc Dân Đảng, or VNQDĐ), Nguyễn Tường Tam of the Đại Việt (Greater Vietnam) group, and Nguyễn Hải Thần of the Vietnam Revolutionary Alliance. The government, if coupled with Hồ Chí Minh ‘s restraining his Communist cadres from assassinating the Nationalist leaders, could have avoided the civil war. (159)
Unfortunately, later in 1946, while Hồ Chí Minh was attending the Fontainebleau Conference in France and at the same time trying to invite Nationalist intellectuals in France to come home to help Vietnam, lower-level Communist leaders back in Vietnam such as Võ Nguyên Giáp, then Minister of Interior), ordered Việt Minh assassination squads (Bạn ám sát) to kill the Nationalists and destroy their headquarters and hinterland bases. By that time, the Nationalists no longer had the protection of the Nationalist Chinese generals. The Fontainebleau Agreements were a proposed arrangement between France and the Vietminh, made in 1946 before the outbreak of the First Indochina War. The agreements affiliated Vietnam under the French Union. At these meetings Ho Chi Minh pushed for Vietnamese independence, but the French would not agree to this proposal. In the North, the Nationalist leaders who were killed or made to disappear were Ly Dong A, and Khai Hung and Truong Tu Anh, who set the example of an ascetic life and who slept in a bed made out of a window, according to his assistant, Bùi Tường Huân, who was later a Sài Gòn Law School professor), As for Vũ Hồng Khanh and Nguyễn Hải Thần, they had to flee to China.
In the South, leaders of the Trotskyite Fourth International such as Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan Văn Chánh, and Trần Văn Thạch were killed or made to disappear. Non-Communist leaders were also liquidated. These included Hồ Vân Nga, Huỳnh Vân Phương, Dương Văn, Hồ Vĩnh Ký, Henriette Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ, and other Cao Đài and Hòa Hảo notables. When the South’s National Assembly met on October 28, 1946, only 291 of the 444 representatives were present, and only 37 of the 70 representatives of the Vietnam Nationalist Party and the Vietnamese Revolutionary Alliance came, the others having been arrested. Later on, the 34 attending members also disappeared. Consequently, the Nationalist parties took an anti-Communist path. Some ran for cover (“chùm chăn”) i.e., became inactive, and, later, many adopted the Bảo Đại solution, joining the camp of the ex-Emperor.
I cite this long list of victims of the Việt Minh’s liquidation campaign to provide evidence for an objective historical evaluation of the Leninist terrorist strategy the Communists used to monopolize political power, which was the root cause of Vietnam’s civil war and involved the loss of leaders who could have contributed to the nation’s development. This terrorist strategy was not necessary for the Việt Minh’s ascendancy, which could have been achieved via electoral majority — as in Hitler’s takeover of the Weimar regime or Putin’s hold on power. The terrorist strategy only damaged the Việt Minh’s status as the standard-bearer for Vietnam’s struggle for independence against the French. After many French provocations, it was only on December 28, 1946, that the Vietnam Resistance Government, the successor to the Provisional Coalition Government, withdrew from Hanoi into the hinterland.)
It is also true that the Provisional Coalition Government of Vietnam could have continued with the sharing of power between Nationalists and Communists without changing a civil war into an internationalized war by proxy, if there had been no intervention in Vietnam’s political and military arenas by France, Great Britain and the Republic of China. As for the United States, it could have aided Vietnam’s struggle for independence under the Provisional Coalition Government of Vietnam if it had intervened earlier and more properly in accordance with President Roosevelt’s desire to prevent a French return to Vietnam. Once Roosevelt had passed away and was replaced by President Truman, the U.S. ignored Hồ Chí Minh’s eight letters to U.S. Presidents and Secretaries of State requesting support against the French attempt to return to Vietnam. Truman thought the U.S. needed France in the incipient Cold War against the Soviet Union.
French forces were helped in their reoccupation of South Vietnam by the British army, which was in Indochina to disarm the Japanese. Pursuant to the Chunking Agreement of February 28, 1946, between France and the Republic of China, which provided among other thingsfor disarming the surrendering Japanese troops in North Vietnam ‒, France brought military units to North Vietnam. U.S. vessels brought the French expeditionary forces Hải Phòng and Sài Gòn, that is, both to North Vietnam and to the South.
By way of background, on March 6, 1946, France and North Vietnam concluded a Preliminary Agreement in Fontainbleau, France, whereby France recognized North Vietnam as a “free state” within the French Union with limited powers, and North Vietnam agreed “to receive the French army in friendly fashion” in relief of Chinese forces. The agreement was signed by Hồ Chí Minh representing North Vietnam, Vũ Hồng Khanh, the delegate of the North Vietnamese Council of Ministers, and Jean Sainteny, the delegate of Admiral Georges Thierry d’Argenlieu, the High Commisioner of France in Indochina. (160)
On September 14, 1946 in Paris, France and North Vietnam issued a joint declaration and concluded a modus vivendi. The joint declaration stated that the Fontainbleau Agreement of March 6, 1946, was still in effect. The modus vivendi provided provisional solutions of urgent problems, including reciprocal recognition of “democratic rights” and property rights, and a cease-fire in Cochinchina. The joint declaration and modus vivendi were signed by Hồ Chí Minh and Minister of Overseas France Marius Moutet. (161) France sided with the Viet Minh in the latter’s anti-Nationalist activities. France considered the Nationalists’ position extremist, as they had vigorously opposed the Preliminary Agreement, the Joint Declaration and the Modus Vivendi.
For their part, the Vietnamese Nationalists protested Ho’s accommodations with the French. They condemned, for example, North Vietnamese Foreign Minister Nguyễn Tường Tam’s absence at the signing of the Preliminary Agreement. They also leveled the serious charge of “traitor” against Hồ,who had to present an explanation in Hà Nội at the Grand Opera House, where he swore, “I would rather die than sell out my country.” The civil-war character of the Vietnam War was revealed by, among other things, the fratricidal murders in later years, the atrocious land reform of 1953-54 in North Vietnam, and the killing of innocent people in Huế during the 1968 Tet offensive.
As for the internationalization of the Vietnam War, we must say that at the start it was not a war by proxy, because the Việt Minh government, on its own initiative, resisted the French attempt to take back Vietnam. This was a war of national liberation in which all Vietnamese patriots participated, not one in which the Soviet Union or Communist China entrusted the fighting to the Vietnamese. (Stalin, in fact, still treated Hồ Chí Minh badly, as revealed in Kruschchev ‘s memoirs; and Mao’s forces were still busy fighting Kuomintang China and had not yet reached the border of Vietnam.) French President François Mitterrand visited the unified Vietnam in 1993.. Speaking at Điện Biên Phủ, he regretted that France had made the mistake of returning to recolonize Vietnam in a war the Vietnamese people considered a war of national liberation.
Later, the French commander-in chief in Indochina, General Jean de Lattre de Tassigny, saw that the 280,000 men of the French Far East Expeditionary Corps could not do the job by itself. He thus allowed the Nationalist Vietnamese in the Bảo Đại camp to have a 70,000-man army, which was mobilized by the French. Before then, the French colonialists wanted to fight the war by themselves. In 1946, they brought Emperor Duy Tân from his place of exile to Paris, but his plane crashed in Africa under suspicious circumstances. Later, the French debated brushing aside Bảo Đại and using Queen Nam Phương as Regent, but finally settled on the Bảo Đại solution. When in 1954 the Americans replaced the French in Vietnam in support of Ngô Đình Diệm, Vietnam was engaged more fully in a civil war in which each side had its own distinct territory, government, and population. The war, however, became more internationalized and more of a war by proxy. North Vietnam took on the international mission of spreading communism with the help of the Soviet Union and China in addition to the task of struggle for national unification for the Vietnamese. Vietnamese Communist Party General Secretary Lê Duẩn said: “Our fight is the fight for the Soviet Union and China.” South Vietnam, at the same time, was called an outpost of the Free World by some Americans, who entrusted the country with a mission, but a limited one. The Vietnamese were assigned a territorial-defense role only when the war reached its most intense stage. At the beginning, the U.S. government’s decision to engage in the war was supported broadly by the press and public opinion; thus, the Americans started as advisors, then sent U.S. Army Special Forces, and finally dispatched tactical ground combat troops who, among other things, launched ”search and destroy” operations. At its peak in 1968, the American military presence was 536,000 men and women on the ground. About 2,700,000 American men and women served in Vietnam from 1957 to 1975 with, in addition, the Navy and the Air Force operating from the 7th Fleet and Thailand. (162)
In his memoir, South Vietnam’s former ambassador to Washington, Bùi Diễm, described the way the Americans invited themselves into the War in 1965. After field observation visits, U.S. Defense Secretary McNamara and the U.S. Chairman of the Joint Chiefs of Staff asked Diễm to draft a “letter of invitation” requesting American troops for Vietnam, bypassing both the U.S. Congress and the American people. This American self-invitation was buried in the joint communiqué prepared by Diễm, then a minister in the Vietnamese Prime Minister’s Office, to save South Vietnam’s face. Even then-U.S. Ambassador to Vietnam, General Maxwell Taylor, was taken by surprise. Almost all of South Vietnam’s military and civilian officials opposed the Americanization of the war, just as President Diệm in his tenure had opposed the debarkation in Vietnam of American combat troops.But the Americans came and then, finally, disengaged. Their departure began to happen when rising U.S. casualties appeared vividly on American TV screens, stoking the antiwar movement, first among the young and then more widely, and giving popularity to the idea of withdrawal from the war and the return of American prisoners. The growing unpopularity in the United States of the war helped give traction to the strategy of Vietnamization within the Nixon administration. By that time, however, even the survival of South Vietnam as a nation-state was no longer of concern to many Americans. The idea of entrusting the war effort to the Vietnamese, with American assistance and war-materiel support for the defense of what some called a bulwark of The Free World, was abandoned by the U.S. after the signing of the Paris Peace Accords, the return of the prisoners of war, and the improved relations with China and the Soviet Union, the main powers on the other side. A lesson: a small country entrusted with a military role by a big power, or assisted by that power, should think in advance about what to do when the big power abandons it and the small country has to sign a separate peace agreement or resort to some other strategy to defend its national interests. With this in mind, let us look back to 1956. If President Diệm had not regarded as part of his role to be an American-imposed bulwark of the Free World, but had followed a more independent path, he could have begun negotiations with North Vietnam, in accordance with the with the unsigned Final Declaration on Indochina of July 1954, to organize “free general elections by secret ballot” in 1956 under the supervision of the International Supervisory Commission. (163) If so, there might have been no Vietnam War, but instead, there might have emerged a unified Vietnam wherein Communists and Nationalists had to coexist peacefully, at least relatively so, tolerating setbacks such as assassinations. That solution might be called, “A tense peace is better than war,” and could have been a creative way to avoid war. More on this later. As for the United States, one lesson from the Vietnam War is to avoid sending combat troops to fight a land war that could result in American casualties, lead to antiwar protests at home, and produce a quagmire with no respectable exit. For South Vietnam, that could have meant war-materiel support, but no deployment of ground combat units, as a U.S. contribution to the deterrence of Communist expansion. The tiger fighting for its own survival in its own territory has every incentive to fight for its self-preservation. The U.S. should think out in advance an exit strategy for any conflict in order to satisfy the American public and to counter an enemy’s protracted conflict strategy, such as that of the Chinese Communists under Mao, who talked of a “ten-thousand-year war,” or the Islamists of today. This lesson from the Vietnam War concerns the optimum strategy of entering and exiting the war, and not the war’s objective, which was to deter or limit Communist expansion in Southeast Asia. That objective was a valid one, and it succeeded to a degree. Although the domino theory – that other Southeast Asian countries would fall to communism after Vietnam fell ‒ did not happen, the American intervention gave them time to consolidate themselves. There was also a certain psychological domino effect in the area of disrespect for American determination elsewhere in the world after 1975, and it might have contributed, for example, to the detention of American diplomats in Iran. As for the leaders in North Vietnam, they considered themselves revolutionary pioneers in Southeast Asia, became overambitious in their desire to assist other communist parties in Cambodia, Laos, Thailand and elsewhere. According to archives of the Soviet Union, declassified after its dissolution, weapons from Vietnam were delivered to Africa via Cuba. But Vietnam’s overstay in Cambodia (more than 10 years), after completing the praiseworthy mission of freeing it from the genocidal Pol Pot regime, and its failure to turn power over to the Cambodian people, led Vietnam into a quagmire and earned it China’s hostility for many years. This damaged Vietnam’s security interests and led to the border war launched by China in 1979 to, in the words of Deng Xiao Ping, “teach Vietnam a lesson.” Vietnam’s Cambodian adventure has been called “Vietnam’s Vietnam.” On the other hand, the U.S., as a big power, overcame its Vietnam syndrome and is still the dominant superpower. It was able to take revenge against Vietnam by isolating the country by implementing in 1975 a punishing trade embargo that lasted until 1994.. Vietnam, for its part, pushed for better relations with the U.S. The transition from enemy to friend was made clear in many declarations, especially the 2005 observation by U.S. Ambassador to Vietnam Michael Marine that, after a period of dark relations, “…it is clear now that Vietnam and the U.S. have no strategic differences,” and that “the U.S. respects the sovereignty and territorial integrity of Vietnam and will resist firmly all plots to sow disunion or threat at the borders of Vietnam. We have many common interests in regional and world security. Our current defense cooperation is the first step toward our common confrontation with the security challenges of the 21st century.”
2.The second lesson: War should end with a negotiated peace, a political solution that sees an end to the intransigence that is appropriate for war but not for peace.
South Vietnam was a small country under the tutelage of a big power, the United States, which became a paper tiger at the end for being unwilling to continue supplying weapons to South Vietnam. At the same time, South Vietnamese President Thiệu responded unrealistically to the signing of the Paris Peace Accords in January 1973 with his “Four No’s” (Bốn Không), including no coalition government with the Communists, despite his weak military position. (164) When Stalin asked, “How many divisions does the Pope have,” he was pointing out that moral legitimacy without military force is ineffective in time of war. For Vietnam, the right path was a comprehensive political strategy based on accommodation.
If President Diệm had agreed with North Vietnam to national elections in 1956 in both parts of Vietnam in accordance with the unsigned Final Declaration of the Geneva Conference on Indo-China of July 1954, , there might have been a national assembly in which South Vietnam had at least nearly half the delegates. This could have resulted in a unified Vietnam in which the two sides coexisted under the observation of the international community. Moreover, the Vietnam War (1960-1975) could have ended with a negotiated peace agreement with national elections to follow, as provided by the 1973 Paris Peace Accords, but President Thiệu worried too much about such elections and resisted preparing and organizing for them. ) (165) At the beginning of 1975, Nguyễn Văn Hiếu, a delegate of the National Liberation Front (the Việt Cộng) at the Paris Peace Talks, asked South Vietnamese General Trần Văn Đôn to relay to President Thiệu a request to include the Front in President Thiệu ‘s cabinet and to form a coalition government to resist Hanoi’s controlling influence. Thiệu told Đôn to check with the Americans, and Đôn said later that the Americans had rejected that solution. In other words, Thiệu did not dare adopt a political solution crafted by North Vietnam. There was another time, in 1971, when Thiệu reacted similarly. U.S. Assistant Secretary of Defense for International Security Affairs G. Warren Nutter, a former professor of economics at the University of Virignia and a teacher of Dr. Nguyễn Tiến Hưng , asked Dr. Hưng, then an advisor to Thiệu , to suggest to Thiệu that South Vietnam should have an independent initiative for a peaceful solution to the war. Dr. Hưng proposed that Thiệu seek trade relations with the North and a rail line between the North and the South to create one market and to develop the Mekong Delta. Thiệu mentioned these points in an October 1, 1971, election speech. But he still worried about the American reaction, and ordered that it be checked with the U.S. State Department. The American answer was “too late,” and Secretary of State Kissinger cabled U.S. Ambassador to Vietnam Graham Martin that all negotiations had to be between the United States and North Vietnam, and must take place in Paris. Thus, Thiệu did not dare invoke national sovereignty or try to persuade the United States to follow his small country’s initiative, and thereby was pulled along in a war that was really conducted by the big power. (President Diệm had been a little better. Although he agreed with the United States not to hold elections throughout Vietnam in 1956, he resisted foreign combat troops in Vietnam and at one point sent his counselor, Ngô Đình Nhu to central Vietnam to talk peace in secret with a North Vietnamese emissary, Phạm Hùng.) Obsessed with his rigid and unrealistic policy of the Four No’s, and consequently eschewing negotiation and accommodation, and relying on only his hope for American B-52 bombers and logistical support if attacked, Thiệu resigned when the Americans drew down their military support and pressured him to resign. Thiệu went on national television on April 21, 1975, announced his resignation, and excoirated the Americans for the “inhumane act” of refusing “to aid an ally” and for “abandoning” South Vienam. (166) At this point, South Vietnam’s armed forces lost their morale.
In April 1975, every day I called my cousin, Colonel Nguyen Mong Hung, chief of the Fifth Bureau of the South Vietnamese High Command, in hopes that he would tell me the real situation. In a weak, dispirited voice, he murmured: “ Tài! The soldiers no longer fight!” (Previously, they had fought valiantly to repel the North Vietnamese attacks at Tết 1968 and in the 1972 battle of Quang Tri.) I asked officials in the political section of the U.S. Embassy, and they told me that satellite photos showed that military trucks and tanks were moving southward, bumper to bumper. The North Vietnamese probably knew that there would be no retaliation by the Americans, despite Nixon’s promises to Thiệu . Thus, the U.S. had decided to leave South Vietnam, to grant far-reaching concessions in the Paris Peace Accords that permitted North Vietnamese troops to remain inside South Vietnam in exchange for the return of American prisoners of war as demanded by the American public, and then discontinued the promised supply of arms to South Vietnam. Finally, the Americans even objected to the use of American economic aid funds to pay the salaries of the South Vietnamese armed forces and police. President Gerald Ford during an address at Tulane University on April 23, 1975, declared: “Today America can again regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by refighting a war that is finished ‒ as far as America is concerned.”167 By 1975, however, the last year of this civil war, the Communist troops were receiving maximum help the Chinese and Soviets in terms of the arms, trucks and tanks used in their rush to Sài Gòn. Today, America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. The authority to settle between 1973 and 1975 the Vietnam War in should have belonged to the partner that shed blood, South Vietnam, and should not have been vetoed by the big power that was fading out of the picture. President Thiệu could have adopted a more independent war-and-peace strategy that took into account South Vietnam’s sovereignty and interests, and dared direct negotiation between North and South Vietnam, probably through the good offices of France, and put the Americans before a fait accompli. Despite the American disengagement during 1973-1975, President Thieu was still afraid of a coup d’etat and murder similar to those terminating the Diem regime.” Adhering too faithfully, out of fear, to the demands of the big power would never have guaranteed that power’s friendship or respect, and therefore did not support the small power’s interests. If Thiệu had started working on a separate peace with North Vietnam early in the period of American disengagement (1973-75), a political compromise might have been found that would have avoided the decision of North Vietnam in 1975 to launch an all-out military push on Sài Gòn. The need for policy autonomy by a small power also applies to North Vietnam. During both the Indochina War (1945-54) and the Vietnam War of 1960-1975, North Vietnam depended on military and economic aid from the Soviet Union and China, whose interests were not necessarily the same as those of North Vietnam, which later discovered that following its own interests might have been more advantageous. Specifically, North Vietnam found it might be have been better off escalating the fighting, contrary to the wish of the big powers.
The 1954 Geneva Accords imposed the big powers’ decision to divide Vietnam into two parts at approximately the 17th parallel, with reunification awaiting elections in 1956. This plan was only reluctantly accepted by North Vietnam, whose representative, Tạ Quang Bửu, demanded that the line of partition be at the 13th parallel as the just prize for victory over the French at Diên Biên Phu. Chinese Prime Minister Zhou Enlai, however, worried the Americans would jump in to help South Vietnam, Laos and Cambodia in response to such a demand.
After consulting French Prime Minister Pierre Mendès France, Zhou Enlai proposed that North Vietnam refrain from more offensives and withdraw from Cambodia and Laos. Zhou Enlai also promised Cambodia and Laos that they would be put under the influence of China, not of North Vietnam. And he accepted partition at the 17th parallel, not the 16th , as Hồ Chí Minh had suggested in a previous meeting in Liuzhou. The Soviet Union also wanted partition at the 17th parallel.
In 1956, South Vietnamese President Ngô Đình Diệm refused to hold talks for national elections for reunification on the grounds that South Vietnam had not signed Final Declaration of the Geneva Conference on Indo-China. The United States supported Diệm’s position.
North Vietnam felt that its goal of reunification had been frustrated by the big powers’ arrangement at Geneva, even after its victory on the battlefields in 1954. North Vietnam, therefore, planned to pursue unification later. When Zhou Enlai asked Võ Nguyên Giáp in 1954, ”If the Americans do not intervene, how long it will it take to defeat the French and unify the country,” Giap answered, “only two more years.” After about six years of only a relatively low-level insurgency, North Vietnam in 1960 created the National Liberation Front, which launched the Vietnam War of 1960-1975 .
During the Vietnam War, China seemed unenthusiastic about Vietnam’s reunification. For example, Mao said: “Our Vietnamese comrades’ broom does not have a handle long enough to sweep up all Vietnam.” And Zhou Enlai once told Ngô Đình Luyện, the South Vietnamese Ambassador to the United Kingdom, that China wished to see him in Beijing as Ambassador. Although China provided food and weapons aid to North Vietnam for the war, it never wanted a strengthened, unified Vietnam capable of challenging China. North Vietnam, therefore, relied more heavily on Soviet arms aid for military campaigns like the 1968 Tet Offensive and the 1975 invasion. In any event, Soviet and Chinese military aid allowed Lê Duẩn to pursue a military solution. As long as a big power does not dare use its overwhelming force to reduce to the stone age a stubborn small country that is willing to fight “a thousand-year war,” the small country has a chance at final victory. But if the big power dares to use maximum force, the small power that pushes its ambition too far without searching for a negotiated peace will be defeated. For Vietnam in the period 1975-90, its ambition to be the dominant power in Southeast Asia was defeated by the long resistance of the Pol Pot forces with determined Chinese support. After sacrificing men and materiel in to support North Vietnam in its war against the United States, China responded to Vietnam’s intervention in Cambodia by an invasion of northern Vietnam in February 1979. The Chinese troops withdrew in March 1979, but border skirmishes continued throughout the 1980’s. Armed conflict only ended in 1989 after the Vietnamese withdraw their troops from Cambodia. After the collapse of the Soviet Union in 1991, Vietnam and China normalized both party-to-party and state-to-state relations. Vietnamese Foreign Minister Nguyễn Cơ Thạch declared that from then on, Vietnam would not send young men abroad for war.
3. The third lesson: War should be referred to the people as the ultimate arbiter. War should not be between armed forces directed solely by generals and their leaders but should be supported by the population as a whole, who should be consulted when war is declared and when peace is negotiated.
Modern war often drags in the whole population. Especially in a democratic society, families across the nation must approve a war or the government will not get popular political support for it. The United States Constitution gives Congress the power to declare war. On August 7, 1964, at the request of President Johnson, Congress passed the Tơnkin Gulf Resolution, which Johnson signed into law three days later, and which stated that “Congress approves and supports the determination of the President, as Commander in Chief, to take all necessary measures to repeal any armed attack against the forces of the United States and to prevent any further aggression.” President Johnson, and later President Nixon, relied on the resolution as the legal basis for their military policies and activities in Vietnam. (168) The resolution was supposedly passed in reaction to two attacks by North Vietnamese torpedo boats on the U.S. destroyers Maddox and C. Turner Joy in the Gulf of Tonkin on August 2 and August 4, 1964. In 1995, Võ Nguyên Giáp, who had been the North Vietnamese Defense Minister at the time of the supposed attacks, acknowledged the August 2 attack on the Maddox but denied that the North Vietnamese had launched another attack on August 4.169 It was later revealed that the U.S. administration had drafted the resolution six months before the supposed attacks on the U.S. destroyers.170 The resolution was repealed on January 13, 1971. Toward the end of the war, when popular support for it had declined, Congress on November 7, 1973, passed the War Powers Act over President Nixon’s veto to restrict presidential war powers. There were two basic mistakes in the Vietnam War strategy of the United States: The first mistake was the decision to escalate the war gradually to produce a graduated deterrent effect. There was no strategy to win a rapid victory in a few months with overwhelming firepower and to avoid tiring out both the Vietnamese and American people in a protracted conflict, which is the usual strategy of the Communists. The error of not trying to achieve a decisive victory within a short time to take account of the lack of patience of the American public was shown in the protracted Paris peace talks. The long wait for a negotiated peace yielded only a leopard-skin cease-fire in place followed eventually by the hasty withdrawal of the Americans in the wake of the Communist offensive ending on April 30, 1975. The second mistake was the lack of popular participation in the constitutional process, including a declaration of war by Congress. There should have been a better strategy for mobilizing American public opinion. But President Thiệu revealed President Nixon’s letters of support only in the last days of the War when he gave some of them to Professor Nguyễn Tiến Hưng, when he sent him to United States for a last-ditch appeal for help. Before that, Vietnamese Senate President Trần Văn Lắm, Vietnamese House of Representatives President Nguyễn Bá Cẩn and Vietnamese Foreign Minister Vương Văn Bắc advised that the South Vietnamese should not protest the decrease in American aid too loudly or base their position on Nixon’s letters. lest South Vietnam be accused of interfering in U.S. domestic affairs. But it was they who did not understand the U.S. political system. A president’s letters of commitment were valid state papers that should have been published and shown to the U.S. Congress as a way to rally congressional and public support. As for South Vietnamese popular support, President Thiệu should have presented the secret Nixon letters to the National Assembly to enable the representatives of the people of Vietnam to appeal to the U.S. Congress in a kind of people-to-people diplomacy. Without the above actions, South Vietnam was subject to United States diplomacy, which in the final analysis disregarded South Vietnamese public opinion. Without the above actions, South Vietnam became the victim of the kind of one-man-show diplomacy of Kissinger, who followed the diplomatic style of early 19th century European leaders Metternich and Talleyrand, the powerful foreign ministers who at the Congress of Vienna in 1814-1815 rearranged, without consulting the people’s representatives, the European chessboard nine days before Napoleon’s defeat at Waterloo in 1815.On the other hand, the Vietnamese Communists appreciated the importance of popular support. They used the terms “people’s war, people’s army,” words repeated in a book by General Võ Nguyên Giáp. The Vietnamese Communists were worried by a budding democratic regime in the Republic of Vietnam, by the election of a Constitutional Assembly that enacted a constitution in 1967, by the elections for the Senate and House of Representatives in 1967, and by the elections for half of the Senate in 1970,all with the enthusiastic participation of all strata of the people, including the various religions and political parties. Especially noteworthy was the opposition religious bloc that had boycotted the regime previously for suppressing its struggle for a constituent assembly, the Ấn Quang Buddhists. ThAis bloc had the greatest mass following among the population. South Vietnam’s democratizing activities had the support and encouragement of the American Ambassador, Ellsworth Bunker, a diplomat with a dignified appearance and an intense focus on democracy-building in South Vietnam and a desire to reduce the government’s military character to help it gain more legitimacy and popular support. He had help from U.S. Embassy political officers, who contacted domestic groups, including Catholic and Buddhist forces. One prominent civilian leader with the ability to increase popular support for the regime was the charismatic law professor Nguyễn Văn Bông, Rector of the National Institute of Administration, which trained middle-to high-level civil servants. Bông wrote about democracy and about a loyal opposition. Bong had a large following within the national administrative apparatus. He and colleagues such as professor Nguyễn Ngọc Huy organized the National Progressive Movement (Phong trào Quốc gia Cấp tiến). Ambassador Bunker said Professor Bông was a household name in Vietnam. When Kissinger came to visit President Thiệu to encourage the naming of Professor Bông as Prime Minister, the Communists assassinated him, using men directed by the R Office (the Communists’ core leadership group in the South) to firebomb his car as he was driven home from his office. Among the Vietnamese Communists, there were some wise ones who did consult the people on the issue of war and peace. After Vietnam invaded Cambodia in 1978 ‒resulting in China launching a bloody border war to “teach Vietnam a lesson,” in the words of Deng Xiaoping ‒ Vietnamese Foreign Minister Nguyễn Cơ Thạch said that Vietnam would never again send young Vietnamese abroad to fight. Thach’s position on disengaging Vietnam from Cambodia while protecting Vietnam’s interest in a different way than the Chinese way did not endear him to China and caused China to encourage the Vietnamese Politburo to force his retirement.
4. The fourth lesson: if peace is to be enduring, war should end with reconciliation.
Post-war reconciliation requires humanity, modesty and reason from all sides, including the winning side. The Communists and Nationalists should have followed the example of Nelson Mandela in South Africa on how to address the war’s aftermath and achieve reconciliation.. What might have been done? On April 30, 2005, i.e., 30 years after the downfall of South Vietnam, I published an article on the website Talawas calling for reconciliation among Vietnamese in the spirit of and following the example of Nelson Mandela of South Africa. On December 5, 2013, the whole world mourned the passing of Mandela, the world’s model of a peaceful liberator and conciliator. Speaking to media such as the BBC, many Vietnamese wondered why Vietnam had not had the luck to adopt such a pathway to reconciliation. The Vietnamese Communists might have opened their doors to welcome back overseas Vietnamese for visits, trade and investment. They could have worked to attract experts to return to help national development. The children of high Vietnamese officials could have gone to the United States and other countries to learn about the strength of Western capitalism. Now, this is happening. (I myself heard then-Vietnamese Vice-Premier Phan Văn Khải, at a dinner thank Harvard for being the first American university to welcome Vietnamese students.) Vietnam could have adopted policies that permitted citizens to make their living freely and to keep what they earn within a market economy. These are ideas advocated by South Vietnamese expatriates.. The adoption of these ideas in Vietnam today, ideally with expatriate help, could help the overseas Vietnamese recover from the humiliation of clandestine flight and escapes by sea, and make use of the successful careers they have built in the United States and elsewhere. In this way, both sides could be said to have won. But there is still one obstacle to reconciliation: the wounds remaining from the long years of internment in “reeducation” camps (i.e., concentration camps). The Vietnamese Communist Party, for all its success in battle, has not been enlightened or generous enough to follow Lincoln’s advice at his Second Inaugural Address on March 4, 1865, shortly before the end of the American Civil War: “With malice toward none, with charity for all, with firmness in the right as God gives us to see the right, let us strive on to finish the work we are in, to bind up the nation’s wounds, to care for him who shall have borne the battle and for his widow and his orphan, to do all which may achieve and cherish a just and lasting peace among ourselves and with all nations.” The result is that the overseas Vietnamese who spent years in concentration camps after 1975, and their families, cannot forget the suffering, the ruined health, the social dislocation or the painful readjustment to life after their internment that in some cases included the loss of wives and children. Among the ordinary citizens of Vietnam, especially among relatives and friends on both sides, reconciliation has been easy; there have for some time been many cases of families reuniting after decades of living apart, full of tears and laughs, with no more estrangement. The younger generations especially, not yet born or still children when the war ended, have merged naturally with one another when overseas Vietnamese returned home, or when people have left Vietnam to go abroad for study or other reasons. Indeed, romances have sometimes developed.
But closure requires an official apology from the high officials of government responsible for the cruelty of the re-education camps instituted in 1975. Many of these officials were in their thirties and forties in 1975, and are now in their seventies or eighties.. Only with the issuance of such an apology will the overseas Vietnamese sigh, “That’s it,” and be willing to bring their money, talent, and even their family members back to Vietnam for nation-building. Đỗ Mười, former General Secretary of the Vietnamese Communist Party, named two policy mistakes: (a) the 1953 to 1955 land reform that violated the rule of law, according to Professor Nguyễn Mạnh Tường and others, and the 1979 anti-bourgeois campaign that destroyed businesses and delayed Vietnam’s growth for a generation. Đỗ Mười may have been the right person to make such an apology, since he towered over other leaders in age and political seniority. Other high-level Vietnamese leaders have made gestures of reconciliation. Including former North Vietnamese Public Security Minister Trần Quốc Hoàn, and the old Nationalist politician Vũ Hồng Khanh, who spent time in a re-education camp, and who, as indicated above, had long ago helped save the life of Hồ Chí Minh by intervening in Liuzhou, China, with the Nationalist Chinese general who detained him. There are other examples of Vietnamese leaders who at times at least voiced sympathy for their political opponents. Hồ Chí Minh, for example, said: “Ngô Đình Diệm is a patriot in his own way.” And retired Vietnamese Communist Prime Minister Võ Văn Kiệt said: “It is about time we recognize the great contribution of many strata of Vietnamese patriots living inside the old regime, who are now still inside the country or residing overseas.” There are, of course, non-Vietnamese examples of apologies to advance reconciliation. The Japanese, after years of dragging their feet, apologized to the Chinese for the massacre of thousands of innocent people in Nanjing. (171) Pope John Paul II has apologized many times for the Catholic church’s behavior toward the Jews and the Russian Orthodox. There are also examples of winners extending a gesture of reconciliation. The Communist Party of China did so with its long-time foe, the Kuomintang (Nationalist Party of Taiwan), when Hu Jintao, General Secretary of the Communist Party of China extended a smiling welcome, to Lien Chan, Chairman of the Kuomintang,, when the latter visited the mainland in April 2005. (172) Chinese media promoted this visit as an important event in China’s national history. (Note that Taiwan also invested hundreds of billions on the mainland.) After World War II, General MacArthur allowed the Japanese Emperor to remain on the throne. even though the American occupying forces would administer Japan. The United States provided reconstruction aid to Japan and Germany, which became close American allies. In strictly military terms the United States was not defeated in Vietnam. Nevertheless, it decided on unilateral disengagement after the Paris Peace Accords. Thus, the U.S. could not impose peace terms and for a while, it suffered from the so-called Vietnam syndrome. But then, with its superpower status, it was in a position to regain its confidence.
Reconciliation was, however, at first stopped by Vietnam’s ridiculous suggestion of American war reparations after the Communists had violated the Paris Peace Accords with their offensive of 1975. One result, as mentioned above, was that in 1975 the U.S. imposed a trade embargo on Vietnam that would last until 1994.. On April 9, 1991, U.S. officials had presented a “road map” to Vietnamese and Cambodian officials that called for the normalization United States diplomatic and economic relations over two years, provided that: (a) the Vietnamese increased their cooperation in accounting for U.S. personnel listed as missing in action (MIA); (b) Vietnam withdrew all its and advisers from Cambodia; and (c) U.N.-supervised elections and the seating of a new National Assembly took place in Cambodia. (173) President Clinton lifted the trade embargo on February 3, 1994, after the Vietnamese government had increased its cooperation in finding the remains of the 2,238 Americans still listed as MIA’s and under pressure from U.S. companies wanting to do business in Vietnam. (174) On July 11, 1995, President Clinton announced the formal normalization of diplomatic relations. During the roadmap period, from 1991 to 1995, the United States looked like the winner of the peace. It imposed conditions for reconciliation, and Vietnam was eager for normalcy after its wars in Cambodia and on its northern border with China. Moreover, during the Vietnam war, the United States, with some atrocious exceptions, such as My Lai, acted humanely toward the civilian Vietnamese. In fact, American civilian aid programs gained much goodwill among the South Vietnamese people. These programs even gained some goodwill from the North Vietnamese, who were so eager to reconcile with the Americans that they were willing to forgive the terrible destruction caused by wartime bombing. (175) The advantages are obvious for the Communist Vietnamese regime of a reconciliation with overseas Vietnamese, who are scattered across all five continents. Only when their resentment over the re-education camps subsides, will Vietnam’s diplomats be able to roam the world easily and proudly, without meeting with boos and demonstrations. As for the recipients of the apology, i.e., the Vietnamese who suffered, what can we learn about them and for them? Some overseas Vietnamese are beyond reconciliation; no apology can make them forget the North’s murderous land reform program, the slaughter of innocents during the Tết offensive in Huế, or the destruction of the South’s middle class. Only the collapse of the Communist regime will satisfy them. For my part, I think that the majority of the people who were mistreated in the camps can and should gradually calm their anger, recognizing that they are, in their moral position, the final winners.
The victims should also make a distinction between the few implementers of the “re-education” policy and the great majority of the Vietnamese people. A Jewish woman who survived the Holocaust said at the 2005 anniversary of Allied victory, “We cannot attribute this crime to the whole German people,” and described her survival as the victory of all humane people against Nazi wickedness. In South Africa, Nelson Mandela, later President, declared, “Only by forgiving the past can we move toward the future.” In South Vietnam itself, when the hungry and ill-clad prisoners were paraded along the road from reeducation camp to work site, they were given food secretly by villagers who sought to relieve their pain. Without forgiveness and national reconciliation, those overseas Vietnamese who remain angry will never enjoy visiting their fatherland, the streets or the villages where they grew up, or meet again their relatives and friends in Vietnam. At most, they will send back their wives and children; they themselves might go back clandestinely for a short visit. Besides dealing with the re-education camp days, one must also be concerned about the future of the people inside Vietnam, so that they are able to live under the rule of law and enjoy their human rights. Today there is rampant discrimination, as exemplified by the report of an official trying to fine a disabled South Vietnamese veteran who was given a wheelchair by a foreign humanitarian aid agency without going through government channels. (176) Overseas Vietnamese want their compatriots inside Vietnam, among them their relatives and friends, to be able to enjoy the democratic rights they have tasted abroad. Hồ Chí Minh himself copied from the American Declaration of Independence for that of Vietnam, and read from it in Ba Đình Square in Hà Nội on September 2, 1945. Overseas Vietnamese have, with the rule of law and democracy in their adopted lands of residence, turned themselves from wretched refugees into prosperous citizens, using the same creativity and productivity possessed by the Vietnamese in Vietnam. As for those who died in the war, the overseas Vietnamese, especially those with relatives and friends buried north of Sài Gòn in the Bình An Cemetery, formerly the Biên Hòa Military Cemetery, want reconciliation with the dead by the regime in the form of good maintenance of the cemetery and permission for loved ones to visit. The U.S. ambassador went there with a delegation to light an incense stick for the fallen soldiers to give an example of how reconciliation might proceed and how Vietnam might strengthen its reputation internationally.
5. The fifth lesson: South Vietnamese and American Presidential leadership was one factor in the Vietnam War’s outcome.
Did the assassination of President Diệm create the condition for the loss of South Vietnam to the Communists? Some authors, such as Dartmouth College Professor Edward Miller, think the United States might have been better off backing Diệm. I disagree. Miller thinks the United States had wrongly backed the 1963 coup, and that if Diem had survived, South Vietnam would not have been lost. But the fact is that, in 1975, the North Vietnamese won by brute force of arms and not via popular support; thus, even if Diệm at that point had had the support of the people, it would have made no difference. The North Vietnamese were determined to wage a protracted conflict, with the support of the Soviet Union and China, to a victorious end.. Meanwhile, there was the attrition of U.S. public support for the war that led to South Vietnam’s defeat. The mistake that led to the 1975 defeat was not Diem’s death 12 years before, but Johnson’s unwise, unilateral decision to introduce U.S. ground combat units into South Vietnam in 1965. This pre-empted a strategy of having the South Vietnamese fight their own war and handed the North Vietnamese the propaganda advantage of calling the South Vietnamese American stooges. President Kennedy, had he lived, might have done differently. Diệm, moreover, would not have protected American interests, either by preventing the Vietnam war when that was possible, or by improving the legitimacy of the American effort in South Vietnam when the war had already started. The war might have been prevented by consenting to elections in 1956 in accordance with the 1954 unsigned Final Declaration of the Geneva Conference on Indo-China, Elections leading to peaceful unification of the country would have given the North no reason to create the National Liberation Front in 1960 to carry out an insurgency, which was followed by full conventional war. If the North Vietnamese gained a a majority in the National Assembly, any internecine struggle would have likely involved low-level violence, but not full-scale war. Consequently, the United States. would not have been drawn into a civil war.. Moreover, the United States would have benefited only from a President Diệm with enough political foresight and courageous statesmanship to agree to a peaceful contest with Hồ Chí Minh in a national election. By 1963, when Diệm had been overthrown, it was too late to persuade him to run a democratic government with respect for human and religious rights and with the ability to gain the people’s support for the war against the Communists. Diệm’s rule was autocratic and nepotistic. An American scholar called him “the last Confucian mandarin.” Diệm followed the old imperial practice of giving free rein to his brothers, and his whole clan trampled on the civil rights of the people. In May 1963 in the Buddhist stronghold of Huế, Catholics were encouraged to fly Vatican flags to celebrate Archbishop Ngô Đình Thục’s 25th anniversary as a prelate. A week later, Buddhists were prohibited from hanging the Buddhist flag during celebrations marking the birth of Buddha. This resulted in a peaceful protest meeting of young Buddhists at the radio station, which the Army and security forces dispersed with bullets and grenades. Nine civilians were killed. (177) This brutal suppression, added to previous years of discriminatory practices in favor of the Catholics, started six months of peaceful protests throughout South Vietnam, including a monk’s self-immolation that shook consciences around the world. Further suppression involved raids on many temples and the imprisonment of monks. A younger brother of Diệm, Ngô Đình Cẩn, was a feudal overlord in Huế to whom civil servants had to kowtow and pay tribute. Another younger brother, Ngô Đình Nhu, Diệm was Diệm’s counselor (Ông Cố Vấn). Nhu’s wife, Trần Lệ Xuân (known as Madame Nhu or the Dragon Lady), wielded excessive power, including control of the feared secret police of the government’s Personalist Labor Revolutionary Party (Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Ðảng). The Diệm regime’s suppression of Buddhist religious rights in 1963 provoked a major political crisis and helped deprive South Vietnam of the legitimacy and popularity necessary for waging war. In addition, the suppression of the Buddhists, together with the nullification in 1959 of the election of Dr. Phan Quang Đán, one of only two successful opposition candidates for the National Assembly, were clear examples of the Diệm brothers’ contempt for human rights and democracy. This reduced President Diệm’s legitimacy and stood in contrast to his wise resistance to the proposed introduction of American combat troops into South Vietnam. According to Dr. John Prados of the National Security Archive: (178)
A White House tape of President Kennedy from October 29, 1963, “captures the highest-level White House meeting immediately prior to the coup [against Diệm].” The tape “confirms that top U.S. officials sought the November 1, 1963 coup against then-South Vietnamese leader Ngo Dinh Diem without apparently considering the physical consequences for Diem personally (he was murdered the following day).”
“The documentary record is replete with evidence that President Kennedy and his advisers, both individually and collectively, had a considerable role in the coup overall.
“The CIA also provided $42,000 in immediate support money to the plotters the morning of the coup, carried by Lucien Conein, an act prefigured in administration planning.”
The NSC staff record of the discussion shows that Attorney General Robert F. Kennedy warned “against precipitate action” and was “seconded by Joint Chiefs of Staff chairman General Maxwell D. Taylor and CIA director John McCone.”
In addition, the transcript of Diệm’s last phone call to U.S. ambassador Henry Cabot Lodge shows Lodge asking “what the attitude of the U.S. is” towards the coup then underway. Lodge “dissembled” that he was not “well enough informed at this time to be able to tell you.”
The weight of the evidence “supports the view that President Kennedy did not conspire in the death of Diem.” Both Secretary of Defense Robert McNamara and historian Arthur M. Schlesinger, Jr. recorded that when President Kennedy learned on November 2 of the death of Diem, “Kennedy blanched at the news and was shocked at the murder of Diem.” Historian Howard Jones noted that “CIA director John McCone and his subordinates were amazed that Kennedy should be shocked at the deaths, given how unpredictable were coups d’etat.”
The South Vietnamese military were afraid Diệm might stymy the coup, as he had done in 1960, and then execute them. Consequently, they did not spare the life of Diệm, as Burmese General Ne Win and his followers had spared the life of Prime Minister U Nu, who was instead detained in an army camp from 1962 to 1966.
Although a fervent Catholic, it would be unfair to characterize President Diệm as an anti-Buddhist bigot. One of Diệm’s Foreign Ministers, the Buddhist Vũ Văn Mẫu, upon resigning in 1963 during the Buddhist crisis, received a moving good-bye from President Diệm:”Please let us not forget each other!”- “Xin đừng quên nhau nhé!”.Some of Diệm’s Buddhist as well as Catholic advisors had respect for Diệm’s devotion to a life of public service. And the murders of Diệm and his brother Ngô Đình Nhu created an enduring resentment not only among some Catholics and but also among some Buddhists. American support for the military leaders of the regime from 1963 to 1967 that followed Diệm was, in my opinion, morally and politically justifiable. So, too was Ambassador Bunker’s supporting 1967 for the creation of a civilian regime under a new constitution. This new constitution provided for a civilian President a National Assembly consisting of a Senate and a House if Representatives, and led to the mid-term senatorial elections of 1970 that saw the election of Buddhist-supported opposition senators, including Professor Bùi Tường Huân of Huế University and Professor Vũ Văn Mẫu of the Sài Gòn Law School. The period from 1967 to 1971 was one of relative success for South Vietnam both militarily including the turning back of the 1972 Communist offensive, the recapture of territory in the lead-up to the Paris Accords, and democracy in South Vietnam from 1967 up to 1971 when President Thiệu ran a one-man election). This relative success at democracy-building occurred without Ngô Đình Diệm and with American help. Thus, the (hypothetical) survival of Ngô Đình Diệm as an autocratic, anti-democratic president from 1963 until 1975, alone, would not have saved South Vietnam for the U.S., as Professor Edward Miller implies. His rule during that period might have even worsened the situation. What about the impact on the war of the leadership style of President Nguyễn Văn Thiệu? Many overseas Vietnamese have accused President Thiệu of contributing to the downfall of South Vietnam in the last days of the war by issuing confusing, inconsistent, and panicky military commands, and by ordering the withdrawal of the armed forces from the Central Highlands, Huế and Đà Nẵng. Overseas Vietnamese have also condemned his farewell speech to the nation on April 21, 1975 ‒in which, as stated above, he announced his resignation and excoriated the Americans for the “inhumane act” of refusing “to aid an ally” and for “abandoning” South Vietnam. (179) Thiệu was a soldier-politician who did not rise to the level of statesman, due to his mistrustfulness, narrow-mindedness, and fear of overstepping and betraying his subordinates, as in his unreasonable, short detention of Special Assistant a Nguyễn Văn Ngan who had helped him organize the Democratic Party. He further showed his lack of statesmanship during the presidential election of 1971, during which he stopped the candidacy of Vice-president Nguyễn Cao Kỳ to avoid dividing pro-government votes in a contest that featured General Dương Văn Minh as the only other competitor. Professor Nguyễn Ngọc Huy, my university colleague, described Thiệu’s mistrustfulness to me later when we worked together at Harvard. “He would shake hands with others and, once at home, look at his hand to check whether he still had five fingers.” Thiệu distributed work in segments to different advisors, none knowing about other segments assigned to another advisor, as a way of controlling each advisor. This prevented the creation of a brain trust of talented advisors who might have pooled their knowledge to provide wise advice and long-range perspectives. The Paris Peace talks required knowledge of diplomacy, military strategy, economics, American politics, the Vietnam Communist Partys policies, and the situation in North Vietnam. Yet, Thiệu gave compartmented assignments to Phạm Đăng Lâm, Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Cao Kỳ, and Nguyễn Tiến Hưng. Even when working with one advisor, Thiệu would hold back the totality of documents and work issues necessary for that advisor to offer sound advice. For example, Professor Hưng said he was given the role of advising Thiệu on relations with the United States, but was not given briefings on the military situation; and when he was asked by Thiệu to go to the United States to appeal for military aid in the final days before the collapse, he was given only a few of the 30 secret letters from Presidents Nixon and Ford. Thiệu kept the others for himself, rather than sharing them with close advisors dealing with South Vietnamese national security. Despite these criticisms, we must recognize that the people of South Vietnam—with the elites at the top, including the presidents–achieved remarkable nation-building successes during both the six-year period of relative peace from 1954 to 1960 and the long war-time period of 1960 to 1975. The Vietnamese Communists learned from the Chinese Maoists) how to fight a war of national liberation, including how to conduct a peasants’ revolt and how to wage war against city areas. Based on lessons learned from the Chinese, the Vietnamese retreated to the countryside and highlands when the French returned to Hải Phòng and Hà Nội, and began the 1945 to 1954 Indochina War. With Chinese coaching, the Vietnamese established a bloody land reform program soon after the establishment of the People’s Republic of China in 1949. Under the Vietnamese program, landless peasants were goaded by propaganda to a paroxysm of hatred against landlords for imaginary or exaggerated crimes. This led to executions of the landlords and the redistribution of their property, which induced the peasants to give their political support to the Communist regime.. So many bloody crimes occurred that Hồ Chí Minh himself had to agree to a rectification (sửa sai) campaign, during which the most ringing indictment against the reform program was a commissioned report by law professor Nguyễn Mạnh Tường. The report was so devastating that the regime discarded it and banished Professor Tường to live in isolation and hunger for the rest of his life. By contrast, Presidents Diệm and Thiệu both pushed for a more peaceful land reform. Diệm sent officials to Taiwan to learn about the moderate land reform program carried out by President Chiang Kai-shek’s Kuomintang party. There, under the “land-to-the-tiller” policy, landowners received land bonds and stock in state-owned enterprises in return for transferring land to peasants. (180) Harvard scholars considered it one of the world’s ten grand strategies for national development. The land reform programs of Presidents Diệm and Thiệudiffered. Diệm put equal emphasis on land redistribution and the reduction of land rental rates for tenant farmers. Thiệu emphasized confiscation of the land in favor of the peasants (“land to the tiller”) with fair compensation for landlords. He was very proud of his land reform program, which earned him the gift of a statue commemorating land reform successes from the country’s peasants as “a token of gratitude to the President.” (181)
Under Presidents Diệm and Thiệu, South Vietnam achieved some successes in the administrative, economic, social, educational and legal fields despite the ongoing war. A National Institute of Administration (NIA), for example, expanded over the years, and trained middle- and high-level civil servants in the same manner as the famed Ecole Nationale d’Administration in France. The Americans supported the NIA with the help of Michigan State University. State enterprises were strengthened in banking, sugar, cement and other sectors. Private enterprise was also encouraged under the Center for Industrial Development. Foreign investment laws were promulgated, including oil and gas regulations, with the latter resulting in the discovery of oil in the South China Sea by Mobil Oil in 1973. (182) Social reforms in South Vietnam included the enhancement of workers’ rights with modern labor laws and a strong labor movement, with leaders such as Trần Quốc Bửu, who received advice from the AFL-CIO. Also advanced was gender equality, which was already defended in Vietnamese traditional law, but further promoted by the new family law which was pushed by Trần Lệ Xuân (Madame Nhu) during President Diệm’s regime, and which abolished polygamy. Moreover, Vietnamese women’s economic activities blossomed as they replaced the men fighting the war. Secondary and university education made remarkable progress, with new teaching and research approaches that better encouraged creativity than the French or North Vietnamese systems. In addition, new educational institutions were founded throughout the country, including both public and private universities. The South Vietnamese government put in place new international trade and investment laws, as well as new civil, criminal, commercial, procedural, administrative, and labor law codes. By contrast, the Vietnamese Communists in North Vietnam, and from 1975 to 1986, throughout Vietnam, abolished law schools and governed with only a relatively few disparate laws, even though they had French-trained lawyers available.. Most law codes and economic and social laws came into being only later, starting with the Đổi Mới (Renovation) period of economic reform 1986, when the United Nations Development Program and then Western countries came in to help. The achievements of South Vietnam in nation building during wartime were such a success that when Prime Minister Võ Văn Kiệt asked advice from Singapore Prime Minister Lee Kwan Yew after the Đổi Mới period started, Lee replied, “Just ask the experts who managed South Vietnam prior to 1975.” (183)
By the time of the Paris Peace Accords in 1973, the South Vietnamese, with American support, had achieved many civilian and military successes, including the retaking of Quang Tri in 1972 after bloody battles with the attacking North Vietnamese troops. Another victory for the South Vietnamese in tactical military terms was the Tết offensive of January and February 1968, when the Communists suffered heavy losses and failed to produce a popular uprising. The South Vietnamese exploited this victory by consolidating control over most of their territory by the time of the Paris Peace Accords in 1973. At the same time, however, the Tết offensive was a strategic political victory for the Communists, because it played a key role in turning American public opinion against the war. Many Americans thought the offensive showed that they had been deceived by their government’s overly optimistic portrayal of the military situation. Faced with diminished popular support, Johnson on March 31, 1968, announced on TV: “I shall not seek and I will not accept the nomination of my party as your President.” (184) The South Vietnamese collapse came later, in 1975, mainly because of the phasing out of American arms aid between 1973-1975. In foreign relations, the Republic of Vietnam, which lasted from 1955 to 1975, became an independent state within the meaning of the 1933 Montevideo Convention definition of a state, i.e., with territory, population, government and ability to conduct foreign relations, and was entrusted with the administration of the Paracel and Spratly islands in the South China Sea (Biển Đông) by the 1954 Geneva Accords. Thus, under international law, South Vietnam was one of the two Vietnamese states with a legitimate claim of sovereign rights over the Paracels and the Spratlys, buttressed by its record of having fought valiantly in 1974 against a Chinese naval attack and illegal occupation of the Paracels in order to hold on to its legal claim.
The Socialist Republic of Vietnam had to recognize South Vietnam’s sovereignty over the Paracels and part of the Spratleys in order to assert its own claim of sovereignty in its protest to the UN against China’s placement of the H981 oil rig on the continental shelf of Vietnam in 2014. The Socialist Republic of Vietnam (SRV) had, in other words, to acknowledge itself as the successor state to the Republic of Vietnam (ROV), thereby recognizing the ROV as a legitimate state, to advance the SRV’s own claim of sovereignty. (185)
Draft done on Patriots Day, April 16, 2018, in Massachusetts, USA
Author Tạ Văn Tài, Ph.D. in Political Science/Foreign Affairs (University of Virginia), LL.M. (Harvard Law School), former professor, Law Schools of Saigon, Sài Gòn, Hue and Can Tho Universities, National Institute of Administration, Vạn Hạnh University, Political Warfare College and National Defense College, Vietnam; also former lecturer and research associate, Harvard Law School.
Notes:
(155) “Vietnam Overview,” https://www.worldbank.org, accessed 13 August 2018.
(157) See my article “American money, Vietnamese blood,” published in the 1970 issue of the National Defense Journal (Tập San Quốc Phòng). There, and in my lecture at the Vietnamese National Defense College on President Nixon’s Vietnamization of the war, I predicted that when the Americans no longer had their husbands or sons fighting and risking death, they would be more stingy in providing military aid to South Vietnam, even as the Vietnamese continued to shed blood. I also opined that without the American backbone, the Southeast Asia Treaty Organization would be a paper tiger. Probably the high-ranking officers at the National Defense College agreed with me, although we still hoped for better days when we together visited an American aircraft carrier and armada in the South China Sea and listened to General Ngô Quang Trưởng , commander of South Vietnam’s First Army Corps, lecturing on his troops’ efforts to obstruct the infiltration routes from North Vietnam to Central Vietnam.
(158) This reduced objective was conveyed to me in April 1975 from Professor Bùi Trường Huân, Dương Văn Minh’s Minister of Defense and my brother-in-law.
(159) The story was told by Vũ Hồng Khanh in a reeducation camp after 1975 to his roommate, Colonel Bùi Thế Dũng, the author’s brother-in-law, who eventually relocated to Massachusetts after 12 years of detention. Colonel Dũng was named Deputy Minister of Defence in the short-lived Dương Văn Minh government, anh Khanh treated Dũng as one of his sons. Khanh said that in the early 1940’s, Hồ Chí Minh, then using the name Lý Thụy and pretending to be blind. was travelling with two young men from Pác Bó in northern Vietnam to Liuzhou in southern China when they were arrested by the Kuomintang army. The two young men escaped. Khanh later surmised they were Phạm Văn Đồng and Võ Nguyên Giáp. A Vietnamese named Lý Sanh then asked Khanh and Vietnamese Nationalist Nguyễn Hải Thần to approach the Chinese Province Chief General Zhang Fakui, for help. At first, General Zhang said, “This Communist guy, we must cut him into two pieces,” but he later released Lý Thụy (Hồ Chí Minh so he could go stay with Khanh, Nguyễn Hải Thần and Lý Sanh. Khanh related that Nguyễn Hải Thần was fond of the lively [Noted from James Yellin: Hồ wq Vietnamese man, who was also trusted by General Zhang, who gave him work assignments. When, in 1943, the Vietnamese Revolutionary Alliance discussed sending someone back to Vietnam to set up a base for the revolution, Lý Thụy volunteered to be the man. Later, in 1945, when the Việt Minh seized power, President Hồ Chí Minh invited Vũ Hồng Khanh and Nguyễn Hải Thần to join the Coalition Government. It was only then, as they all sat together for lunch on a mat in the presidential palace in Hanoi, that they recognized that Hồ Chí Minh was the d man they had known as Lý Thụy and that the Vietnamese Communist Hoàng Văn Hoan was Lý Sanh. Years later, in 1977, after Vũ Hồng Khanh had been arrested in South Vietnam and put in a re-education camp in the north, Minister of Security Tran Quoc Hoan visited him in the camp and ordered the release of Khanh and allowed him to live with his eldest daughter, then aged 53, who remained in North Vietnam after 1954, in their home province of Vĩnh Phúc. If, in 1945 and 1946, the Communist leaders under Hồ Chí Minh had treated the Nationalist leaders with that same respect instead of assassinating them in large number, the civil war might not have happened.
(160) Bulletin Hebdomadaire Ministère de la France d’Outremer, no. 67 (March 18, 1946) translated in Harold R.Isaacs (ed.), New Cycle in Asia (1947), pp. 161-162 cited in “Agreement on the Independence of Vietnam, » www.vietnamwar50th.com, accessed August 26, 2018.
(161) The Ambassador in France (Caffery) to the Secretary of State, September 17, 1946, Foreign Relations of the United States, 1946, The Far East, history.state.gov, accessed August 26, 2018.
“Vietnam: U.S. Department of Veterans Affairs Military Service History,” https:www.va.gov, accessed August 26, 2018.
(163) Indochina Documents Prepared by the International Secretariat of the Geneva Conference The Final Declaration on Indochina,” Foreign Relations of the United States, 1952–1954, The Geneva Conference, Volume XVI, history.state.gov, accessed August 22, 2018.
(164) The Four No’s were: no negotiations with the Communists; no Communist or neutralist political activities south of the Demilitarized Zone (DMZ); no coalition government with the Communists; and no surrender of territory to the Communists. [Source: Phillip B. Davidson, Vietnam at War: The History: 1946-1975, (Oxford University Press, 1988), p. 740.
(165) As pointed out by a June 17, 2012, Information Paper of the U.S. Office of the Secretary of Defense, when the Vietnam War began for the United States is “to open a can of worms.” As the Information Paper points out, three of the dates used as the beginning are as follows:1950, when the United States established the Military Assistance Advisory Group (MAAG), Indochina, in Sài Gòn. 1955: when the United States redesignated MAAG, Indochina as MAAG, Vietnam and also created a MAAG, Cambodia. 1961, when President John Kennedy decided to substantially increase the level of U.S. military assistance to South Vietnam.Source: “Info paper Vietnam War and US Start Date,” www.vietnamwar50th.com, accessed 14 August 2018.
(166) “President Nguyen Van Thieu resigns (1975),” Alpha History, https://alphahistory.com, accessed August 22, 2018.
(167) “President Ford’s Speech on the Fall of Vietnam, 24 April 1975,” www.vietnamwar.net, accessed August 22, 2018.
(169) The Editors of Encyclopaedia Britannica, “Gulf of Tonkin Resolution,” Britannica.com, last updated July 29, 2018, https://.britannica.com, accessed August 15, 2018.
(170) “Tonkin Gulf Resolution.” West’s Encyclopedia of American Law, cited in Encyclopedia.com, http://encyclopedia.com, accessed August 15, 2018
(171) According to the Encyclopedia Britannica, the number of Chinese killed in the massacre has been subject to much debate, with most estimates ranging from 100,000 to more than 300,000. [Source: The Editors of Encyclopaedia Britannica, “Nanjing Massacre.” Britannica.com, last updated June 20, 1918, https://britannica.com, accessed August 17, 2018.]
(172) I myself saw the ceremony on television in a Beijing hotel.
(173) Don Oberdorfer, “U.S. DETAILS PLAN FOR NORMALIZING VIETNAM RELATIONS,” April 10, 1991, Washington Post, https://washingtonpost.com, accessed August 16, 2018.
(174) Sources:“US finally ends Vietnam embargo,” The Independent, February 04, 1995, www.independent.co.uk, accessed August 16, 2018;“Clinton ends trade embargo of Vietnam , Feb 03, 1994, This Day in History, https://www.history.com, accessed August 16, 2018.
(175) During the process of normalization, they invented the story of the giant tortoise in Hoan Kiem Lake (Hồ Hoàn Kiếm) in Hanoi emerging from the bottom of the lake, where it, or its lineage, has lived since the Le Dynasty (Nhà Hậu Lê) liberated Vietnam from Ming China. The tortoise had two characters on its back: Mã Quy (Horse Tortoise). If pronounced in reverse, words with similar sounds, Mỹ Qua, mean roughly “the Americans are coming.” Vietnam is now a pro-Americancountry; U.S.ambassadors have felt so safe in public that one rode a motorcycle in Hanoi with his wife in the back seat (Pete Peterson) and another went by bicycle the whole way from North Vietnam to South (Ted Olsius).
(176) Report of Japanese reporter Yoshigata Yushi, April 2005.
(177) “Buddhist crisis,” Wikipedia, accessed August 24, 2018.
(178) John Prados, “JFK and the Diem Coup: Declassified Records, National Security Archive Electronic Briefing Book No. 101, posted November 5, 2003, nsarchive.gwu.edu, accessed August 18, 2018.]
(179) “President Nguyen Van Thieu resigns (1975),” Alpha History, https://alphahistory.com, accessed August 22, 2018.
(180) ‘SA 55. LAND REFORM IN TAIWAN by Chen Cheng (preface) 1961, www.landisfree.co.uk, accessed August 18, 2018.
(181) I saw this statue still standing in 1991 in the hallway of Independence Palace (now Unification Palace), when I attended an Investment Forum there, with Vietnamese Communist Party General; Secretary Nguyễn Văn Linh and other high officials milling around. Ironically, a few years earlier, the government of unified Vietnam had had to abandon its failed land reform program, which included agricultural cooperatives in South Vietnam , for lack of cooperation from the farmers, who feared the loss of their land to the cooperatives. Some evaded collectivization by cutting down their orchards and killing their buffaloes and selling the meat in Sài Gòn.
(182) Mobil told my law office in 1974 that there was no commercial-quantity oil in the wells they had drilled and then capped in South Vietnamese waters. But they had lied to us because the Communists were approaching. After the war, the Vietnamese-Russian joint venture Vietsopetro drew oil from South Vietnamese waters. That was the beginning of the oil era in Vietnam
(183) Lee described this in detail in his memoir From Third Word to First.
(184) “Johnson Says He Won’t Run,” The New York Times, www.nytimes.com, accessed August 20, 2018.
(185) The Socialist Republic of Vietnam put this argument on the website of its Mission to the UN.
Trong vài tháng qua, dân chúng VN đã dũng mãnh, trên hầu hết các thành phố lớn, biểu tình phản đối chính quyền CSVN tiến hành thực hiện ba Đặc Khu Hành Chánh–Kinh Tế (SAEZ) Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc, gọi tắt là Đặc Khu (ĐK).
Điểm chánh yếu mà người dân nêu lên trong các lần biểu tình là: Phản đối việc cho thuê đất ĐK tới 99 năm và chống lại CSVN có ý đồ bán nước từng phần cho Trung quốc.
Ba đặc khu nầy là mô hình mới, lạ thường và có nhiều âm mưu mờ ám xét trên nhiều phương diện như: “Pháp chế và Tổ chức Hành chánh”, “ Những ưu đãi cho nhà đầu tư” hay “Sự cấu kết của CSVN và CSTQ”, “Sự hoành hành của tư bản đỏ và nhóm lợi ích”. Và hơn thế nữa là đặt ba Đặc Khu này trong kế hoạch đại dự án “Vành Đai Biển” của Trung quốc, thì nỗi lo âu về hậu quả bi thảm từ ba ĐK là có căn cứ, là chánh đáng, là phải ngăn cản.
Điều chúng tôi xin trình bày dưới đây là cái căn nguyên, cái dính dáng và sự trùng lập của ba ĐK với siêu dự án “Belt & Road Initiative” của Trung quốc. Đây không phải chỉ là một ưu tư cho dân tộc Việt mà còn là vấn nạn lớn cho nhiều dân tộc khác trên thế giới. Nhiều nước đã vướn vào và thật khó khăn chưa có lối thoát.
Belt and Road Initiative (Nguồn: World Bank)
1. Khái lược “Vành Đai Biển” của Trung quốc
* Sự hình thành đại dự án “Vành Đai và Con đường” (Belt & Road Initiative Project)
Vành đai biển (Maritime Belt) là một phần quan trọng của đại Dự án Belt & Road Initiatives, BRI.
BRI là một siêu dự án với tham vọng lớn của TQ được thành hình năm 2013 với 65 quốc gia thành viên tham gia hợp tác với TQ. BRI gồm hai phần. Một vành đai biển dọc theo biển từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, đến vài biển khác ở Châu phi, gọi là Maritime Belt hay Vành Đai Biển. Và một con đường bộ từ TQ đến Nam Á qua Nga đến Trung đông sang Phi Châu và cuối cùng là một phần Âu Châu (còn gọi là New Silk Road). Trong hai năm 2016-2017, TQ đầu tư $20 tỷ cho 9 cảng hải ngoại trong dự án Maritime Belt và đến tháng 9- 2017, TQ đã đầu tư 34 cảng trên thế giới. (Nguồn tin: China’s expanding investment in global ports, Economist Intelligence Unit’s Research.)
Trong thông điệp đầu năm 2018, Tập Cẩn Bình có nói đến đại dự án BRI như sau: “Nhân dân TQ sẵn sàng hợp tác với các dân tộc khác cùng xây dựng một tương lai thịnh vượng , hòa bình, và nhân đạo.” (Theo Ralph Jennings, đăng trong Forbes, Jan/8/2018)
TQ đã thành công về kinh tế trong vài chục năm qua. Nay TQ muốn thực hiện tham vọng bá quyền với khẩu hiệu “Going Global”. Mô hình toàn cầu hóa của TQ với nhiều điểm khác Tây phương. Phương thức TQ tiến hành là vừa dụ dỗ vừa cưỡng bức. Đó là một loại “thực dân mới” rất nhiều nguy hiểm cho nước “muốn hợp tác” hay “bị hợp tác “ với TQ. TQ kết hợp vừa kinh tế vừa chánh trị khi thương thảo với các nước. TQ không bao giờ đặt điều kiện về đạo đức chánh trị hay nguyên tắc tự do, dân chủ, nhân quyền của một chánh thể. Bất cứ quốc gia nào, một chánh thể nào miễn chịu vào bẫy và thòng lọng của TQ là được. (Theo tài liệu “China File Conversation”, của Aazon Halegua, New York University- Law School)
BRI là một dự án quốc tế lớn nhứt từ trước tới nay. Riêng TQ bỏ ra 1000 tỷ mỹ kim. TQ ký từng dự án song phương với từng quốc gia. Các dự án đều do TQ chủ trì hay thống lãnh. Đại loại trong các công trình lớn như: Xa lộ, Cầu cống, Đường xe lửa, Phi trường , Hải cảng, Khu chế xuất, Đặc khu kinh tế, Hành lang kinh tế, Khai thác nhiên liệu khoáng sản…
* Phương thức xâm lăng kinh tế của TQ
Khi nền kinh tế đã khá mạnh, TQ muốn thực hiện mộng ngàn đời của họ là đi ra khỏi biên cương và lần nầy đi thật xa, thật rộng với sự tính toán khôn ngoan hơn xưa. Nhưng mục tiêu vẫn là chinh phục và khuất phục thiên hạ bằng kinh tế kèm theo chánh trị và quân sự. (Theo tài liệu “A new Model for Chinese Oversea Investment” tác giả Liu Jia Hua, May 12-2017). Mộng bá quyền TQ hay “China Dream”, mơ ước của TQ là “Tương lai mọi con đường quan trọng trên thế giới đều phải qua Bắc kinh” (Theo Wade Shepard, trong bài ”China’s challenges abroad: Why the Belt & Road Initiative will succeed”).
Các phương thức thực hiện có thể tóm tắt:
Viện trợ kinh tế và cho vay: Từ 2000 đến 2014 TQ tung ra viện trợ quốc tế $354.4 tỷ so với Hoa Kỳ là $394.6 tỷ (Theo College of William & Mary ‘s Aid Data)
Ngân hàng Asian International Investment Bank (quốc doanh TQ) cùng với một số ngân hàng TQ khác cho vay ở ngoại quốc với tổng số tiền nhiều hơn hai Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB) và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu ( Asian Development Bank ADB) cộng lại (theo tài liệu Yale University, Yale Global Online 10/04/2017). Riêng Ngân Hàng Import-Export Bank của TQ cho vay tổng số hơn các ngân hàng WB + ADB + Inter American Development Bank cộng lại (Theo tài liệu Boston University’s Global Govenance Initiative).
Đầu tư trực tiếp (FDI): TQ tăng rất nhanh khắp thế giới. Tổng số FDI của TQ từ 2000 đến 2014 là 354.3 tỷ MK so với Hoa kỳ 394.6 tỷ cùng thời gian (Theo nguồn tin: Aid Data của William & Marry College). Trong mấy năm gần đây thì nhịp độ tăng của TQ nhanh qua kế hoạch BRI.
Tại Á châu tăng từ $38.01 tỷ mỹ kim năm 2005 lên $307.1 tỷ năm 2017. FDI của TQ thực hiện hoặc vốn 100%, hoặc liên doanh với nước chủ nhà. FDI TQ chủ yếu nhắm vào nhiên liệu, nguyên liệu là chánh để phục vụ cho kỹ nghệ trong nước. Loại đầu tư có lời nhanh và cao là casino, du lịch và địa ốc. Một số mặt hàng khác của FDI TQ là hàng có thể bị ảnh hưởng chiến tranh mậu dịch như thép, đồ điện tử.
Thầu các công trình lớn. Một tiến công mạnh mẽ của TQ là thầu các công trình lớn. Chương trình nầy đi kèm với viện trợ. Viện trợ hay vay tiền từ TQ luôn buộc phải đi kèm với điều kiện giao cho công ty TQ thầu, và TQ có quyền đem công nhân theo cũng như mua trang thiết bị TQ. Thông thường công ty TQ có phẩm chất kém và giữa chừng tăng kinh phí lên cao. Rốt cuộc tiền TQ lại có một phần lớn chạy về TQ.
Xuất nhập cảng: TQ phát triển đầu tiên là nhờ xuất cảng. Xuất cảng bằng mọi giá mọi cách miễn sao thu về nhiều ngoại tệ là tốt. TQ vẫn theo đuổi con đường nầy như là một cách để giải quyết thất nghiệp, tạo mãi lực tại nước đang phát triển và đồng thời đánh bại hàng sản xuất từ các nước phát triển cao.
Về nhập cảng TQ hạn chế nhập hàng từ nước ngoài. Vì vậy TQ có số xuất siêu cao và ngoại tệ tích lũy rất lớn. TQ đang cố gắng sản xuất các loại hàng với kỹ thuật rất cao kễ cả sản phẩm quốc phòng để cạnh tranh với Hoa kỳ.
*Điều kiện và phương thức hợp tác giữa TQ và các nước tham gia dự án:
Về phía TQ: dùng sức mạnh và ưu thế kinh tế của mình là tiền, là thị trường lớn, là nhu cầu lớn về nguyên liệu nhiên liệu cần cho phát triển kinh tế, là hàng hóa mọi thứ với giá rất rẽ.
Về phía nước chủ nhà: phần lớn là nước rất nghèo, thiếu tiền để đầu tư vào các dự án lớn. Khi nước có phát triển thì đó là điều kiện để bảo vệ chế độ và chánh quyền. Nhứt là một chánh quyền tham quyền cố vị, không có hay có ít tự do, dân chủ và lại tham nhũng nghiêm trọng nên Bắc Kinh dụ dỗ dễ dàng vì cả hai bên đều có lợi. Chính vì vậy mà có rất nhiều dự án không có hiệu quả, tốn kém.
Trong kế hoạch Vành Đai Biển, VN là một mắc xích quan trọng, là con đường của TQ nối với Đông Nam Á Châu, một vùng biển chiến lược của TQ và các nước khác. Mặt khác VNCS lệ thuộc Tàu rất sâu và rất lâu về mọi phương diện. Cho nên ba ĐK là một phần trong Vành Đai Biển, là cần thiết, là bắt buộc phải có theo áp lực, hay nói khác là theo lịnh TQ.
2. Đặc Khu Kinh Tế trong Kế Hoạch Vành Đai Biển của TQ
Kế hoạch Belt & Road mà một nửa là Vành Đai Biển là phần quan trọng của sách lược Toàn Cầu Hóa của TQ hiện nay.
Các Đặc khu kinh tế thì đã có từ hơn 50 năm nay. SEZ trước kia giúp nhiều cho phát triển kinh tế. Hiện trên thế giới có khoảng 4000 ĐKKT. Một số thành công, cũng có một số thất bại. Phần lớn ĐKKT do TQ thống lãnh là thất bại hay có vấn đề. Chính vì vậy mà gần đây các ngân hàng TQ yêu cầu kiểm điểm lại việc cho vay vì có một số nước không có tiền trả nợ.
Dưới đây là các ĐKKT (SEZ) do TQ thống lãnh, áp đảo hay ảnh hưởng đã đưa tới nhiều hiểm họa nghiêm trọng. Mà đó cũng là dáng dấp, là hình ảnh, là nội dung, là thân phận của ba ĐKHCKT của VN trong tương lại.
Cambodia:
Cambodia lệ thuộc hoàn toàn TQ về kinh tế lẫn chánh trị. Những đặc khu kinh tế (SEZ) của Cambodia do TQ thống lãnh gần như hoàn toàn. Nhứt là các ĐKKT nằm ven biển, tức là trong đại dự án ”Belt & Road Initiative”. Trường hợp rõ nét nhứt là ĐK Shihanoukville (SSEZ).
SSEZ được thành lập 2008 tại cảng Shihanouk, một cảng có từ lâu. Nhưng đến 2012, chánh quyền Cambodia ký với TQ và TQ đầu tư mở rộng SSEZ .Trong khu biệt lập nầy có trên 110 xí nghiệp sản xuất và độ 100 cơ sở thương mại và khu gia cư. Trong khu biệt lập khác là một cao ốc gồm có apartments và các casino ở từng dưới, tất cả do TQ làm chủ. Trong đó, người TQ chiếm hết 80 % và đang xây thêm 300 cơ sở thương mại sẽ do người Tàu làm chủ. Các khu nầy nằm trên bờ biển. SSEZ hiện nay có khu China Town to lớn. Tới nay SSEZ đã xong 30 casino và đang xây thêm 70 cái nữa. Các casino cũng do người Tàu làm chủ. Đó còn gọi là New Macau. Cạnh đó là một miếng đất có vị trí tốt cũng được cho TQ thuê 99 năm để xây nhà ở. Vốn cho dự án này tới $5.7 tỷ mỹ kim và làm giá nhà đất ở SSEZ tăng vọt.
Người Tàu ở Cambodia càng ngày càng đông. Theo luật Cambodia thì người ngoại quốc không được làm chủ đất đai. Nhưng người Tàu mới thì họ mua quốc tịch Cambodia với giá $100,000. Sihanuokville càng ngày càng phồn thịnh. Du khách đến tấp nập, phần lớn là người Tàu đến để chơi bài. Mặt khác tiền bạc từ TQ ra và vào ĐK nầy gần như không có kiểm soát. Nhưng người dân địa phương vẫn nghèo và khổ hơn vì tệ trạng xã hội gia tăng. Ngoài ra, TQ yểm trợ hết mình cho T T Hunsen tiếp tục lãnh đạo Cambodia. TQ ký với Cambodia cho viện trợ lên tới 7 tỷ trong năm qua.
Malaysia:
Thủ tướng Najib trước 2018 đã đi quá sát TQ . Malaysia đã nhận quá nhiều viện trợ từ TQ. Malaysia là một mắc xích rất quan trọng của Vành Đai Biển. TQ phải kéo nước nầy. Malaysia đã cho TQ xây đảo nhân tạo để xây nhà ở cao cấp, Forest City, và do công ty TQ làm chủ với tổng số tiền đầu tư là $100 tỷ. Hiện 70% người mua các nhà nầy là Tàu. TQ đã viện trợ Malaysia đến 13 tỷ cho nhiều công trình trong số tổng cộng TQ hứa là 34,2 tỷ (số viện trợ lớn nhứt ớ Á châu trong chương trình Belt & Road). Điều kiện Malysia phải nhận là cho nhiều công nhân TQ qua làm việc và mua trang thiết bị và nguyên liệu từ TQ. TQ đã cho Malaysia vay $14 tỷ và xây một con đường sắt chiến lược từ Đông sang Tây Malaysia nối Biển Đông qua Ấn Độ Dương.
Thủ tướng mới đắc cử, ông Mahathir, cho rằng những hợp tác quá đáng với TQ là hành động bán nước. Nên khi đắc cử, TT Mahathir xét lại một số dự án đã do TT Najab ký. (Theo tin Liz Lee, Reuter April 27-2018).
Lào:
Mặc dù không nằm trong Vành Đai Biển, nhưng Lào là nước gắn chặt với TQ trong “Belt & Road” dưới nhiều dự án dọc biên giới TQ và Lào. TQ giúp Lào lập nhiều SEZ. Mà chánh yếu là cho kỹ nghệ casino và các trò giải trí khác cho khách đa số là người Tàu.
Sri Lanca:
ĐK kinh tế ở Sri Lanca do TQ thống lãnh là một trường hợp điển hình về sự kết hợp mục tiêu kinh tế & quân sự của TQ trong Vành Đai Biển và hậu quả là Sri Lanca mất một phần đất về TQ.
Dưới sự chiêu dụ của TQ, Tổng thống Sri Lanca, ông Srajapaksa, ký thỏa hiệp thiết lập hải cảng quốc tế Hambantota, gần Ấn độ, năm 2010. Ngoài cảng to lớn còn có phi trường quốc tế, xa lộ. Vốn hoàn toàn do TQ viện trợ. Lần đầu là $307 triệu. Sau khi hoàn thành lúc nợ đáo hạn, Sri Lanca không chạy đâu ra tiền trả nợ, phải vay thêm TQ lần nhì $757 triệu với lãi xuất 6.3% chớ không còn ưu ái như lần đầu là 2%. Đến năm 2012, cảng bắt đầu hoạt động và lèo tèo mấy chục chiếc tàu quốc tế, hàng không quốc tế chỉ có một hảng. Lại thêm tham nhũng quá đáng. Cảng nầy bị lỗ nặng.
Năm 2015, TT Srajapaksa thất cử, nhưng để lại một số nợ TQ quá lớn mà TT kế nhiệm không có khả năng giải quyết. TQ buộc Sri Lanca phải trả nợ bằng cách giải quyết cho TQ thuê lại toàn bộ cảng nầy với 15.000 mẫu đất, với $1.1 tỷ trong 99 năm. Sau đó, 2017, TQ lại ép buộc Sri Lanca cho thuê xây một khu kỹ nghệ cạnh cảng quốc tế cũ là cảng Colombo và hoàn toàn do công ty TQ quản lý. Công ty TQ là China Merchants Port Holding Company có vốn 85% của cảng và thời gian thuê là 99 năm.
Sri Lanca thiếu nợ TQ do Kế hoạch Vành Đai Biển là 1,0 64 tỷ và mất hai vùng đất. Thực sự Srilanca nợ TQ tổng cộng với các món nợ khác lên tới 5 tỷ trong hoàn cảnh kinh tế không khả quan. (Theo tin báo New York Times).
Pakistan:
Theo tin từ Yale Global Online trong bài” Pakistan’s Costly Plunge Into China Debt” thì Pakistan là nước nhận hậu quả tai hại nhứt do viện trợ của TQ. Điều kiện nhận viện trợ TQ như tại các nơi khác là phải cho công nhân TQ đến làm việc và mua máy móc TQ. Và dự án thi công phải giao cho công ty TQ, không có đấu thầu. TQ đầu tư trực tiếp 22 tỷ tại Pakistan. Nhưng năm rồi chánh quyền mới của Pakistan rút bỏ thỏa ước TQ viện trợ $14 tỷ để xây cái đập thủy điện, vì TQ đòi nắm quyền sở hữu đập nầy. Cho tới nay Pakistan có tổng số nợ TQ lên tới $62 tỷ.
Phi Châu:
Trong cùng mục tiêu và sách lược bành trướng của TQ trong dự án “Belt & Road”, TQ thực hiện nhiều công trình to lớn như cảng , phi trường, cầu cống, tại nhiều nước Phi châu như Nigeria, Ethiopia, Nam Phi.. với cùng công thức: dùng tiền mua chuộc chánh quyền, thực hiện nhiều công trình lớn. Đưa công ty TQ qua với máy móc trang bị TQ. Khai thác khoáng sản. Và chiếm cứ các điểm trọng yếu. Khả năng hấp thu của các nước Phi châu yếu kém, nên hiện nay gặp một số khó khăn.
Và một số quốc gia khác:
Quan trọng có Thổ nhĩ kỳ với viện trợ TQ rất lớn nhằm nối đầu cầu nầy với Âu châu. Còn ở Úc châu, TQ nắm phần quan trọng của hải cảng Darwin, thuê 99 năm với giá 506 triệu Úc kim, TQ coi đây là trạm cuối của Maritime Belt .
* Tóm tắt hậu quả chung của các ĐK do TQ thống lãnh
Không ai chối cải là ĐKKT, kể cả Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ kỹ thuật cao.. của thập niên 1950 – 1970 khá thành công. Nhứt là tại một số nước đang phát triển và có nền Dân chủ và guồng máy công quyền tốt như Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Nam Hàn. Vì SEZ thực sự là công cụ cho phát triển kinh tế.
Nhưng trong khoảng 10 năm nay, TQ xem SEZ như là một công cụ của sự xâm lăng kinh tế, công cụ của sự vươn lên để đạt vai trò bá chủ trong thiên hạ, thì SEZ trở thành phức tạp và có nhiều tai họa cho khá nhiều nước mà tôi vừa tóm tắt trên đây.
Thực tế khá rõ. Đó là những bài học cho VN và cho một số nước khác.
Mặc dù khi hợp tác với TQ về kinh tế nước chủ nhà có một số lợi nhứt định tùy quốc gia. GDP tăng lên. Mặc cảm nghèo đói bớt đi. Nhưng bên trong các quốc gia nầy nhận chịu nhiều vết thương đớn đau và thật lâu dài. Những khó khăn đó là:
• Lệ thuộc TQ về mặt chánh trị, nhiều hay ít tùy quốc gia
• Mắc nợ TQ quá lớn. Có nước không còn cách nào trả nợ đành phải giao đất cho Tàu.
• Một số vùng quan trọng của đất nước bị người Tàu chiếm định cư lâu dài.
• Tài nguyên bị cạn dần trong khi đó kinh tế và xã hội không sáng sủa hơn bao nhiêu.
• Tệ trạng và bất công xã hội tăng thêm vì hậu quả của các khu cờ bạc, điếm đàng to lớn và công khai.
• Tham nhũng nghiêm trọng và tràn lan không thể tiêu diệt hay cải thiện.
3. Ba Đặc Khu VN trong Kế Hoạch “Vành Đai Biển” TQ
Ba Đặc Khu là dự án ĐKKT lớn nhứt và mới lạ của VN. Đây là dự án rất lớn và nằm trên ba địa điểm rất quan trọng về phương diện địa lý – chánh trị. Đó là Vân Đồn thuộc tỉnh Quảng Ninh, Bắc Vân Phong thuộc tỉnh Khánh Hòa, và Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang.
Trong bài nầy tôi chỉ nói một khía cạnh của ba ĐK. Đó là những điểm tương quan và gần giống mô hình các ĐKKT TQ thống lãnh hay nắm phần quan trọng mà tôi vừa trình bày ở phần trên. (Các phần khác về ba ĐK tôi trình bày ở bài khác). Các ĐKKT do TQ chiếm giữ nằm trong “Vành Đai Biển” đã và đang gặp nhiều tai họa và rất có thể là của VN tương lai.
Các điểm ghi dưới đây là trích từ các văn bản hay qua các buổi họp của Bộ Chính Trị, của Chánh phủ, của Bộ Đầu Tư , của Dự Thảo Luật Đặc Khu và của các phát biểu của các viên chức cao cấp .
* Thực hiện sự cam kết lệ thuộc Tàu của CSVN:
Chúng tôi đã nhiều lần trình bày đại họa lệ thuộc kinh tế TQ. Với ba ĐK mới là một trong những thòng lọng thêm vào. Trong chuyến đi rất sớm của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, sau khi tái đắc cử, qua TQ (2016) và hai bên ký nhiều thỏa hiệp kinh tế quan trọng trong đó có các dự án lớn. Sau đó, Bộ Đầu Tư & Phát Triển (BĐTPT) nhận chỉ thị của Bộ Chánh Trị soạn gấp Dự Án Ba ĐK. Bộ Chánh Trị quyết định nhanh chóng và đưa chỉ thị các bộ phận đảng và chánh phủ xúc tiến bởi văn thư số 21 TB/WT ngày 22 tháng 3/2017 của Trung Ương Đảng. Trong các lần họp để chi tiết hóa, BĐTPT có nhiều lần bàn thảo với các chuyên gia hàng đầu của TQ về Belt & Road Initiative, các công ty casino, công ty tài chánh đến từ TQ. Tới giờ, 90% công việc của Dự Án đã được phân công và một số công tác đã tiến hành. Theo mô thức tổ chức chánh quyền CS, Quốc Hội biểu quyết luật chỉ là hình thức và không thể đảo ngược quyết định Bộ Chánh Trị.
Như vậy chống ĐK là chống đại họa đã có, nay chỉ thêm một lần nữa để thấy thêm sự bi đát của tương lai. Dự án nầy phù hợp với ba nhu cầu quan trọng: Thực hiện đại dự án Belt & Road của TQ, giải quyết khó khăn kinh tế tài chánh rất lớn của VN, và đẩy mạnh tham nhũng của CSVN & CSTQ.
* Tổ chức Hành chánh và điều hành ĐK có nhiều điều lạ và nguy hiểm
Thông thường Đặc Khu Kinh Tế (SEZ ) trên thế giới cũng như VN trước kia thì về tổ chức hành chánh chỉ có SEZ, không có kết hợp Đặc khu Hành chánh và ĐK kinh tế. Vì SEZ là một phần khá nhỏ trong một đơn vị Hành chánh. SEZ được quản lý riêng, nhưng đơn vị hành chánh có SEZ phải quản lý theo luật Tổ chức Hành chánh toàn quốc gia. Khi nói đến Đặc khu Hành chánh có tổ chức và điều hành riêng thì thường nghĩ tới “Khu tự trị”.
Trong dự thảo Luật Ba ĐK thì Bộ ĐTPT đề nghị hai mô hình quản lý hành chánh: Một là không có Hội đồng nhân dân và Ủy Ban nhân dân. Chỉ có Ủy Ban điều hành mà người đứng đầu do Thủ tướng bổ nhiệm. Thứ hai là vẫn có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo thể thức bình thường của một đơn vị hành chánh cấp huyện. Như vậy theo dự trù thì toàn thể lãnh thổ của ba ĐK có nhiều ưu đãi, nhiều miễn thuế cho các nhà đầu tư, chớ không riêng gì đầu tư trong các “khu chức năng” như “khu công nghiệp”, “khu thương mại tự do”,” khu yểm trợ”, khu vực “casino và giải trí”. Điều nầy làm nghĩ tới các đầu tư cho khu nghĩ dưỡng, gia cư cho người ngoại quốc, nhứt là đầu tư cho các công trình lớn như phi trường, hải cảng, xa lộ, cũng được hưởng các đặc miễn. Các công trình nầy đòi hỏi vốn rất lớn. Mà theo kinh nghiệm của các SEZ ở Cambodia, Thái lan, Lào , Malaysia thì phần chánh yếu là từ các nhà đầu tư TQ thực hiện.
Về thời hạn thuê đất 99 năm mà CSVN cho rằng cần phải theo trào lưu hiện nay là các SEZ do Tàu thống lãnh hầu hết là 99 năm. Đó là theo ý Tàu, theo mô hình TQ. Đó là đúng chiến thuật chiếm cứ lâu dài từng mảnh đất nhỏ ở hải ngoại vừa để di dân, để làm kinh tế và để xây dựng thêm “lực lượng Hoa kiều hải ngoại”. Các nhà đầu tư không phải Tàu thì không ai nghĩ đến việc cần trụ lại quá lâu ở một nước khác, trong tình trạng khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bực hiện nay và trong một thế giới có nhiều biến đổi.
* Nhắm tới FDI cho Casino, Du lịch, Gia cư và công trình hạ tầng cơ sở lớn
Theo nguyên tắc các lãnh vực đầu tư trong ba ĐK là gồm nhiều thứ, mới xem qua thì nó giống như bình thường. Nhưng đọc kỹ và nghe những gì CSVN bàn thảo thì thấy được ẩn ý và âm mưu của CSVN là chiêu dụ hay bị ép buộc mở cửa cho các lãnh vực chánh là : casino, du lịch, khu an dưỡng và công trình hạ tầng cơ sở. Trong dự luật (điều 3, chương I) mà dự luật gọi là “nhà đầu tư chiến lược”. Thực sự đó là cái đích, cái yêu cầu và nhu cầu của TQ đã thực hiện ở các khu do họ thống lãnh. Vì các lãnh vực trên có nhiều lời, tương đối dễ, nhứt là casino ở đâu cũng lời rất cao, và dễ chiếm lâu dài vùng đất thuê. Nhưng có điều vô lý là kỹ nghệ cờ bạc thì theo qui hoạch được coi là ngành chiến lược và cũng được miễn thuế doanh nghiệp 100% trong 4 năm. Trong khi đó ai cũng có thể biết là casino có lời ngay trong năm đầu và thuế trong ngành nầy là một nguồn thu nhập rất lớn cho ngân sách và cho quan chức tham nhũng.
“Nhà đầu tư ngoại quốc được quyền sở hữu căn hộ khách sạn, biệt thự nghĩ dưỡng, văn phòng làm việc lưu trú “ (điều 35, Mục 2 của Dự luật)
Các nhà đầu tư Tây phương họ đến VN là vì công nhân rẽ, nguyên liệu nhiều, hàng hóa tiêu thụ được nhiều trên những thị trường lớn, ổn định chánh trị. Họ đâu có cần ở lâu dài hay nghĩ dưỡng, hay đến cả đám đông quậy phá lung tung.
* Sức mạnh và cái thế TQ
Dựa theo cách hành xử của TQ tại các ĐK nói trên và dựa theo sức ép TQ đối với VN trong quá khứ, thì sức ép của TQ đối với ba ĐK là to lớn, đảng và chánh quyền VN rất khó cưỡng lại. Đối với TQ thì CSVN không còn ở giai đoạn dụ dỗ mà là ở giai đoạn chia chác quyền lợi và cưỡng bức.
Các chiêu mà TQ thực hiện ở ba ĐK ở VN :
Viện trợ, vì VN làm gì có khoảng $70 tỷ cho đầu tư cơ bản cho ba ĐK.
Thầu các công trình lớn. Hiện nay một công ty TQ đang làm xa lộ Mong cái – Vân Đồn với tổng số đầu tư là $300 triệu. Chắc chắn TQ sẽ chiếm hết công công trình của ba ĐK.
Công nhân và người già du khách sẽ tăng nhiều hơn nữa. Nhiều khu Chinatown nhỏ sẽ mọc thêm. Du khách nhiều thì có lợi về kinh tế, nhưng kiểu du khách Tàu thì có nhiều tệ hại do họ mang tới.
TQ sẽ ép và phối hợp với VN cho TQ lấy chứng nhận xuất xứ để xuất cảng qua Mỹ và một số nước khác trong chiến tranh mậu dịch với Hoa kỳ.
TQ sẽ kèm kẹp mạnh hơn đảng CSVN. Các thành phần có khuynh hướng thân Mỹ sẽ bị triệt hạ.
TQ sẽ can thiệp vào các vụ biểu tình của dân chúng chống TQ
Tham nhũng sẽ gia tăng. Không có cách nào trị được. Các vụ rữa tiền sẽ được hợp thưc hóa và thực hiện ngay trong ĐK do qui chế chuyển tiền độc lập cho các nhà đầu tư tại ĐK.
Một làn sóng mới mạnh mẽ từ TQ do từ ba ĐK nầy sẽ tạo thêm bất công kinh tế giữa nhà đầu tư trong ĐK và doanh nghiệp VN. Và tệ trạng xã hội quá tồi tệ hiện sẽ gia tăng thêm do các casino đem tới.
4. Phối hợp cho một Phong trào thế giới chống “Thực dân Trung quốc”
* Cần nhận ra đại họa TQ
Cách tổng quát trên quả đất nầy, dù là thời nào, ai cũng mong mọi người nên giúp đỡ nhau cách hòa bình và lương thiện. Nhưng thực tế thì khác, có một số nước, một số chánh quyền manh nha ý đồ muốn đàn áp, muốn xâm lấn dân tộc khác, trong đó có TQ. Trong quá trình lịch sử lâu dài, gần như lúc nào các vua , các lãnh đạo TQ cũng muốn dùng sức mạnh uy hiếp nước khác. Có thể vì TQ quá lớn, quá nghèo? Thực sự dân Tàu, nước Tàu có khá nhiều ưu điểm và ưu thế để sống và theo con đường bình thường, không gian ác thì cũng có đời sống vật chất và tinh thần ở mức cao.
Nhưng TQ nay muốn ở mức cao nhứt. Đó là vấn đề, là đại họa cho nhiều dân tộc khác.
Những làn sóng xô tới quá mạnh. Giờ thì mọi người cần phải cảnh giác hơn và tìm cách chống đỡ. Mặc dù “Bão TQ” có khi quay ngược lại tàn phá chính mình. Và sức mạnh cản ngăn trên thế giới nay gần như sẵn sàng.
* Sự phối hợp cần thiết Trong phạm vi Việt Nam
Về mục tiêu tranh đấu: Chống cho thuê 99 năm hay 70 năm đó là đúng. Nhưng có nhiều mặt khác của ĐK rất tai hại cần hiểu rõ, thì lý do và lập luận cho việc phản đối ba ĐK vững vàng hơn và lâu dài hơn, dễ kết hợp hơn. Các điểm chánh yếu có thể nêu ra là: Lệ thuộc kinh tế TQ quá lớn. Tai hại của casino. Không chấp nhận cư dân TQ du nhập bừa bãi và phi pháp. Tẩy chay hàng TQ. Chống phá cơ sở TQ nếu tình thế bắt buộc.
Phương thức đấu tranh: Các cuộc biểu tình lớn vừa qua rất có kết quả, cả trên bình diện quốc tế. Cần liên tục trong tương lai. Truyền thông trong nước cần phát ra đầy đủ và có sáng tạo , có ý nghĩa và phong phú. Huy động và vận động các tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, sinh viên, và nông dân chống đối dưới nhiều hình thức. Trên bình diện quốc tế
Sự vận động cho “Phong trào quốc tế chống Thực dân TQ”.
Đã đến lúc thế giới cần phối hợp chống một loại Thực Dân TQ nguy hiểm hơn bất cứ loại đế quốc nào trước đây. Tôi nghĩ thế giới đã hiểu, nhưng những phản ứng chưa đủ mạnh . Mặt khác thi TQ biết khai thác các ưu thế của mình và nhu cầu các nước đang phát triển, nên TQ đã đạt một số thành công trên sách lược toàn cầu hóa của họ, tức là kiểu TQ.
Sách lược của TQ tiến tới trên toàn cầu bằng 4 mặt: Kinh tế, Chánh trị ngoại giao quốc tế, Quân sự khi cần và Khoa học kỹ thuật, cả Văn hóa.
Đã đến lúc thế giới phải thức tỉnh. Phải ý thức về mối họa TQ
Hợp tác và đoàn kết giữa các quốc gia đang gặp tai họa từ TQ . Điều nầy khó khăn vì phần lớn chánh quyền ở đấy độc tài hay bán độc tài. Tuy nhiên cũng có một số nước có dân chủ , tình trạng có thể đổi thay như ở Malaysia chẳng hạn.
Vận động các nước mạnh và có tôn trọng giá trị Tự do, Dân chủ và Nhân quyền
Các tổ chức đấu tranh của người Việt trong và ngoài nước sẽ là một trong những nước khởi dầu cho Phong trào.
Lực cản ngăn và làm tan biến “Thực Dân Tàu” dĩ nhiên là phải có sự kết hợp của các nước có Dân chủ Tự do và Nhân quyền và các định chế quốc tế.
Nếu thế giới xử dụng hữu hiệu hơn, hợp tác hơn về sức mạnh tinh thần, kinh tế và vũ lực tôi thiển nghĩ đại họa TQ sẽ tan dần.
Đây có thể coi như Phong trào quốc tế chống thực dân thuộc địa cũ hay Phong trào chống cộng của những thập niên trước. Một trật tự thế giới ổn định và tiến bộ là ước mong của con người.
Chúng tôi đóng góp một số ý kiến và dữ liệu trong bài nầy với sự kính trọng và sự cảm xúc về sự dấn thân, về những hy sinh cao quí của những người đã và đang tham gia bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xưa kia và gần đây.
Mùa Thu năm 2016, trong khi tra cứu và thu thập các ghi chép trong sử sách xưa về lịch sử thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, chúng tôi thấy được công trình biên khảo của nhà nghiên cứu người Tàu, Le P. Mathias Tchang, S.J.*, tu học thành một giáo sĩ Jésuite (Jesuits): Chronologie Complète et Concordance avec L’ère Chrétienne, de toutes les dates concernant l’histoire de l’Extrême-Orient (Chine, Japon, Corée, Annam, Mongolie, etc.) – (2357 AV.J.-C.– 1904 APR.J.-C.), par Le P. Mathias Tchang, S.J.- Variétés Sinologiques No.24, Synchronismes Chinois – Chang-Hai, Imprimerie de la Mission Catholique, Orphélinat de T’ou-se-Wì, 1905.
Sách được biên soạn rất kỹ lưỡng, công phu, tác giả kê cứu và đối chiếu với dương lịch mọi niên biểu, niên hiệu…. những triều đại của các nước miền Viễn Đông. Các tài liệu tham khảo được liệt kê gồm 166 văn bản cổ sử Tàu, trong số đó có các bộ sử cổ được xem trọng nhất ở bên Tàu – Nhị thập tứ sử – và nhiều bộ cổ sử hiếm khi được thấy nhắc đến, ghi chép về sử Việt thượng cổ:
Chúng tôi tra cứu đoạn văn ghi chép về thời Hai Bà Trưng trong biên khảo kể trên, xin trích nguyên văn kèm thêm chú thích như sau:
*Le P. Mathias Tchang,S.J. là cách viết tắt của: Le Père Mathias Tchang, Societas Jesu. Societas Jesu (Latin), Society of Jesus (Anh), La Compagnie de Jesus (Pháp), theo tiếng Việt có mấy cách gọi: Dòng Tên, Dòng Chúa Giêsu hoặc Hội dòng Giêsu. Các giáo sĩ Jésuite được xem như là các Soldats de Jésus (Soldiers of Jesus) (S.J.).
Theo ghi chép của Le P. Mathias Tchang, S.J., có mấy điều quan trọng cần lưu ý:
1. Bà Trưng khởi nghĩa vào khoảng năm 30 tây lịch, vì Thái Thú Tô Định (Sou Ting) cai trị dân Việt quá khắc nghiệt.
2. Nhà Hán đã lập tức phái Mã Viện đem quân đến chống lại lực lượng khởi nghĩa vào khoảng năm 32, nhưng gặp sự kháng cự mãnh liệt đến độ Mã Viện phải rút quân, bỏ ý định đánh chiếm lĩnh thổ Giao Chỉ.
3. Tác giả ghi năm 39 là năm thứ nhất của triều đại Trưng Vương.
Như vậy, cuộc khởi nghĩa đã kéo dài gần 10 năm, từ năm 30 đến năm 39.
Giáo sĩ Le P. Mathias Tchang, S.J. là người Tàu gốc, hẳn tinh thông cổ văn Tàu nên đã tham khảo đến 166 bộ cổ sử Tàu, hoàn thành công trình nghiên cứu theo phương pháp khoa học Âu Tây, như vậy biên khảo có mức độ khả tín đáng trọng. Tuy nhiên, vì những điều trích dẫn trên đây khác hẳn với những ghi chép trong các văn bản sử liệu của các sử quan, văn gia Tàu cũng như Việt đã được lưu truyền từ thế kỷ V đến ngày nay, nên chúng ta cần phải thận trọng kiểm chứng, hầu mong có thể tìm lại được sự thật về cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà Trưng.
*****
Vào thế kỷ thứ I, trong khoảng 20 năm sau thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, từ năm 58, Ban Cố (班固- Ban Gu/ Pan Ku (đọc theo Wade-Giles)) khởi công biên soạn bộ Hán thư ( 漢書/ 汉书 – Hànshū – Hán sử), đến năm 82 thì bị gián đoạn. Sau khi Ban Cố (32-92) qua đời, em gái là Ban Chiêu (班昭) cùng Mã Tục tiếp tục hoàn thành việc biên soạn và hoàn tất vào năm 111, tức là vào khoảng 70 năm sau thời Hai Bà Trưng. Hán thư ghi lại những sự việc từ thời Tây Hán, từ năm 206 trước tây lịch đến khi hết loạn Vương Mãng vào năm 23 (Wang Mang 王莽, 45 trước tây lịch – 23, nổi loạn năm 9), vì thế đã không ghi chép gì về triều Đông Hán (khởi đầu năm 25).
Điều đáng lưu ý là tuy các tác giả bộ Hán thư sống vào thời Đông Hán nhưng họ đã không ghi chép gì về lịch sử thời Đông Hán, trong thời gian đó có cuộc khởi nghĩa ở Giao Chỉ và miền Lĩnh Nam.
Trong suốtkhoảng 400 năm tiếp theo thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, không thấy có bộ chính sử nào của Tàu được hình thành và còn lưu truyền lại đến nay.
Tương truyền là trong thời kỳ này đã có những bộ du ký địa lý và thần thoại (còn gọi là ký (ji)), ghi lại những truyện truyền khẩu phổ thông trong dân gian hoặc truyện dã sử thần thoại.
Các bộ ký còn được nhắc đến là: Giao Châu Ngoại Vực ký (交州外域記- Jiao Zhou Wai Yu ji, thế kỷ III-IV, không rõ tác giả), Quảng Châu ký (廣州記, tác giả Bùi Uyên 裴淵), Nam Việt chí (南越志, không rõ tác giả), nhưng vì đã tuyệt bản từ lâu, nên các truyện ký này chỉ còn được thấy trích dẫn trong các chính sử hoặc dã sử biên soạn vào đời Đường, đời Tống trở về sau.
Nay chẳng có cách nào để kiểm chứng mức độ khả tín của các truyện ký này.
Mãi cho đến khoảng 400 năm sau thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, các sự kiện về cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà mới thấy được ghi lần đầu tiên trong bộ Hậu Hán thư (後漢書 -Hou Han shu), tác giả là 范曄 (Fan Yeh – Phạm Diệp (Việp), 398-446), viết vào khoảng năm 432 và hoàn tất năm 445 (vào thời Lưu Tống (Liu Song, 420-478)). Hậu Hán thư tuy là bộ sách sử cổ xưa thứ ba trong Nhị thập tứ sử của Tàu nhưng là bộ cổ sử đầu tiên viết về giai đoạn triều Đông Hán (từ năm 25 đến năm 220).
Theo tác giả Linh Mục Nguyễn Phương (Việt Nam thời khai sinh-Phòng nghiên cứu sử, Viện đại học Huế, 1965) đoạn chính văn trong bộ Hậu Hán thư, trang 747/3, ghi chép rất vắn tắt về cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà như sau:
Phiên âm: “Hựu Giao Chỉ nữ tử Trưng Trắc, cập nữ đệ Trưng Nhị phản, công đầu kỳ quận, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giải ứng chi, khấu lược Lĩnh Ngoại lục thập dư thành. Trắc tự lập vi vương”. Tạm dịch nghĩa: Ở Giao Chỉ có người nữ tên Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản, đánh phá quận, người Man di ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố hưởng ứng, cướp chiếm hơn 60 thành ở Lĩnh Ngoại. Trắc tự lập làm vua.
Ghi chú và Khảo luận về đoạn chính văn trích dẫn từ Hậu Hán thư
Theo một số các tác giả khác, phần đầu của đoạn chính văn có khi được chép khác đi đôi chút:
… 交 阯 女 子 徵 側 及 其 妹 徵 貳 …
…giao chỉ nữ tử trưng trắc cập kì muội trưng nhị …
Một số điều chúng ta cần để ý là:
– chữ 側 (âm trắc) trong câu văn Tàu có nghĩa không tốt, nên khi dịch nghĩa thì đành theo sát nguyên văn chữ Tàu. Nhưng khi nhắc đến danh tính Bà Trưng, để tỏ lòng tôn kính, nên ghi là Trưng Chắc. (xin xem bài: Danh tính của Hai Bà Trưng và vị anh hùng tên Thi- Đỗ Hoàng Ý, 2018)
– chính văn Hậu Hán thư không thấy ghi Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm nào và bà Trưng Chắc lên làm vua năm nào?
– Hậu Hán thư không ghi rõ quê của Hai Bà ở nơi nào trong địa phận Giao Chỉ, và cũng không ghi rõ là Giao Chỉ Bộ hay Giao Chỉ Quận (xin xem thêm bài Đất nước Việt thời thượng cổ trong vùng Đông Á, Đỗ Hoàng Ý, 2015- về sự khác biệt giữa Giao Chỉ Bộ và Giao Chỉ Quận).
– trong chính văn Hậu Hán Thư, Giao Chỉ được ghi là: 交阯
*chữ chỉ阯 (dị thể của chữ 址 với bộ thổ 土),dùng với nghĩa: nơi, chỗ, địa điểm (địa chỉ)
*chứ không phải là chữ chỉ 趾 (với bộ túc 足 ), thường được hiểu là ngón (chân)(túc chỉ)
– chính văn Hậu Hán thư không thấy nhắc đến “chồng” của bà Trưng Chắc, không thấy nói gì đến thái thú Tô Định và cũng không ghi nguyên do của cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà.
Trong nhiều thế kỷ qua, đã có nhiều biên khảo dẫn câu văn được ghi là trích từ Hậu Hán thư như sau:
…. 交 阯 太 守 蘇 定 以 法 繩 之 側 忿 故 反
…. giao chỉ thái thú tô định dĩ pháp thằng chi trắc phẫn cố phản… Tạm dịch nghĩa: Thái thú Giao Chỉ Tô Định lấy luật pháp trói buộc, nên Trắc tức giận, làm phản.
Nhưng theo tác giả Linh Mục Nguyễn Phương (Việt Nam thời khai sinh-Phòng nghiên cứu sử, Viện đại học Huế,1965) thì câu này không phải là chính văn Hậu Hán thư (thế kỷ IV) mà là câu chú thích của Lý Hiền* (thế kỷ VII). Những câu chú được in chung trong bản văn Hậu Hán thư, nhưng được in bằng khổ chữ nhỏ hơn (bản in của Nghệ Văn Ấn Thư Quán, Hương cảng, 1952).
*Ghi chú: Vào thế kỷ VII, khoảng năm 675-680, trong thời gian bị Võ Hậu (Võ Tắc Thiên) đày ra vùng quan ngoại, Chương Hoài Thái tử Lý Hiền (654-684) (con thứ sáu của vua Cao Tông và Võ Hậu nhà Đường (唐朝 – 618-907), đọc lại các sách sử, đã ghi chú thích. Có tài liệu ghi là Hoàng Thái tử Giám quốc Lý Hiền, sai Trương Ðại Yên và Lưu Nạp Nguyên chú giải Hậu Hán Thư của Phạm Diệp (398-446).
Điểm cần lưu ý là câu chú thích của Lý Hiền không ghi Tô Định sát hại chồng bà Trưng Chắc.
Chính văn Hậu Hán thư ghi:… Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giải ứng chi, khấu lược Lĩnh Ngoại lục thập dư thành. Trắc tự lập vi vương.
Theo ghi chép này: Lực lượng khởi nghĩa đã chiếm đoạt lục thập dư thành, vì sự việc đã xảy ra từ 2000 năm trước nên nay chúng ta không thể biết rõ được hơn60 thành ấy rộng lớn và vững chắc như thế nào. Vào thời ấy, rất có thể thành được dùng để chỉ các khu vực dân cư tụ tập sinh sống, có hào lũy chiến đấu bao quanh để phòng vệ.
Theo Quận quốc chí (trong Hậu Hán thư) thì Nam Hải (khoảng Quảng Đông ngày nay) có 7 thành, Thương Ngô (khoảng Quảng Tây) 11 thành, Uất Lâm (Quảng Tây) 11 thành, Hợp Phố 5 thành, Giao Chỉ 12 thành, Cửu Chân (khoảng Quý Châu ngày nay) 5 thành, Nhật Nam (khoảng giữa Vân Nam, Quảng Tây) 5 thành, như vậy là 56 thành*. Nếu cộng với 12 thành ở Dương Châu và Kinh châu thì được hơn 60 thành, như thế mới đúng với số lục thập dư thành mà quân khởi nghĩa đã chiếm được.
*Ghi chú: Danh sĩ Ngô Thì Sĩ ghi thuộc địa Giao Chỉ bộ gồm bảy (7) quận, 56 thành. danh sĩ Lê Quí Ðôn ghi 65 thành, nhưng chỉ liệt kê 56 thành (như theo Hậu Hán thư).
Điều này chứng tỏ cuộc khởi nghĩa của các tộc Việt thời Hai Bà đã thành công trong khắp miền Lĩnh Nam, bao gồm các quận Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, là sự kiện lịch sử khá chắc chắn .
Hơn thế nữa, có những biên khảo cho biết đến cuối thế kỷ XX vẫn còn nhiều đền, miếu thờ các vị tướng của cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà quanh vùng hồ Động Đình và trong vùng Lĩnh Nam. Như thế, rất có thể cuộc khởi nghĩa đã lan rộng lên phía bắc Ngũ Lĩnh, đến các vùng hồ Động Đình, Kinh Châu và Dương Châu.
Tuy nhiên, vì đến nay chúng tôi vẫn chưa tìm thấy hình ảnh nào được trưng dẫn về các đền, miếu thờ ấy, nên các sự kiện kể ra trong bản tóm lược sau đây còn cần được kiểm chứng…
Theo Hậu Hán thư, phần chính văn ghi rất vắn tắt:
… Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giải ứng chi, khấu lược Lĩnh Ngoại lục thập dư thành… nhưng cũng đủ rõ cho thấy là tác giả Hậu Hán thư đã quan niệm rặng Ngũ Lĩnh được xem là giới hạn phía Nam của đất nhà Hán, nên ghi là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà ở Lĩnh Ngoại, bên ngoài rặng Ngũ Lĩnh.
Đối với sử quan Tàu, miền bên ngoài rặng Ngũ Lĩnh chính là bên phía Nam rặng Ngũ Lĩnh: miền Lĩnh Nam.
(xin xem bài Nam hoàn chí Ngũ Lĩnh – 南還至五嶺, tác giả là sứ thần Nguyễn Thực (1554-1637), làm bài thơ này trong khi đi sứ bên Tàu).
* Theo Thủy Kinh (水經 – Shui-ching,tác giả chưa rõ là Tang Khâm hay Quách Phác, khoảng thời Tam quốc phân tranh, 220-265TL) và Thủy Kinh Chú ( 水經注 -Shuiching zhu- chú giải về Thủy Kinh, tác giả Lịch Đạo Nguyên (Li Dao-Yuan (466 (472?) – 527), đời Bắc Ngụy), Ngũ Lĩnh gồm 5 rặng núi hợp thành, theo thứ tự từ Tây sang Đông như sau: Việt Thành lĩnh (Yuechengling – 越 城嶺 ) Đô Bàng lĩnh (Dupangling – 都龐嶺) Manh Chử lĩnh (Mengzhuling – 萌渚嶺) Kỵ Điền lĩnh (Qitianling – 騎田嶺) Đại Du (Dữu) lĩnh (Tayuling –大 庾 嶺)
*Khâm Định Việt sử Thông giám Cương mục có ghi:
Theo Nam Khang ký (tác giả Đặng Đức Minh), Ngũ Lĩnh gồm: Đài lĩnh ở đất Đại Dũ Kỵ Điền ở đất Quế Dương Đô Bàng ở đất Cửu Chân Manh Chử ở đất Lâm Hạ Việt Thành ở đất Thủy An
*Theo Quảng Châu ký, tác giả Bùi Uyên, Ngũ Lĩnh gồm: Đại Dũ, Thủy An, Lâm Hạ, QuếDương, Yết Dương trong địa phận Quảng Đông và Quảng Tây.
* Theo Sử ký 史记 (tác giả Tư Mã Thiên 司馬遷 Ssu-ma Ch’ien, hoàn thành khoảng năm 91-97 trước Tây lịch), trong Tần Thủy Hoàng bản kỷ có đoạn ghi: “Thủy Hoàng … chiếm lấy đất Lục Lương, đặt làm Quế Lâm, Tượng quận, Nam Hải”. Dưới chữ Tượng quận có chua sáu chữ nhỏ: “Vi Chiêu viết, kim Nhật Nam”, nghĩa là theo Vi Chiêu: Tượng quận đời Tần là Nhật Nam
(theo: Sử thuyết họ Hùng, những điều mới biết- Nhất Nguyên, nguồn internet, 2010).
* Theo Hán thư 漢書: Nhật Nam là Tượng quận đời Tần (về phía tây của Quảng Tây ngày nay) (trích dẫn từ Thủy kinh chú sớ, quyển XXXVI, trang 365)
* Thủy Kinh chú, quyển 36, có trích dẫn những chi tiết sau đây từ Giao châu ngoại vực ký:
Ghi chú: một dặm Tàu bằng khoảng 0.56 km.
* Theo Nam Khang ký: Cửu Chân ở vùng Đô Bàng lĩnh.
(trích từ: Vân Đài Loại Ngữ, Lê Quý Đôn, 1773. Biên dịch, Khảo thích: Trần văn Giáp –
Hiệu đính, giới thiệu tác giả: Cao Xuân Huy – Hà Nội, 1961)
*Theo Thái Bình Hoàn Vũ ký *:
– Ái Châu tức Cửu Chân, phía nam giáp quận Nhật Nam, phía tây giáp quận Tường Kha (miền nam của Hồ Nam), phía bắc giáp Ba Thục, phía đông giáp Uất Lâm (vùng Quế Lĩnh, Quảng Tây ngày nay).
Theo như thế, Cửu Chân gồm khoảng phía bắc Quý Châu và phần phía tây bắc của Quảng Tây (ngày nay).
– Nhật Nam ở về phía nam của Cửu Chân, phía tây của Uất Lâm.
Theo như thế, Nhật Nam gồm khoảng phía nam Quý Châu và phần phía tây nam của Quảng Tây (ngày nay). * (Thái Bình Hoàn Vũ ký (Taiping huanyu ji- 太平寰宇記) tác giả Nhạc Sử, đời Tống (960-1279), triều Tống Thái tông (976-997), được vua Tống ngự lãm (duyệt), gồm 200 quyển được in năm Quang Tự thứ 8, đời nhà Thanh (1882)).
* Trong An Nam chí lược 安南志略 , bộ sách sử viết bằng văn xuôi chữ Tàu do Lê Tắc biên soạn khi sống lưu vong bên Tàu (vào khoảng năm 1307), có ghi những câu sau:
….Mạnh Hạo Nhiên có câu thi: “Đồng trụ Nhật Nam đoan”, nghĩa là cột đồng đứng đầu đất Nhật Nam…
Ghi chú: Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, người huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc), ở ẩn nhiều năm trong vùng núi Chung Nam ( 終南山- Chung Nam sơn, là một nhánh của dãy núi Tần Lĩnh, ở Thiểm Tây).
Khoảng năm 730, Lý Bạch hẹn gặp Mạnh Hạo Nhiên ở lầu Hoàng Hạc (黄鹤楼-Hoàng Hạc lâu) bên bờ Trường giang (Dương Tử) tại Giang Hạ (nay là Vũ Hán). Đấy là lần Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Dương châu) chốn đô thị phồn hoa bậc nhất đời nhà Đường. Thuyền đi, Lý Bạch đứng bên bờ sông ngóng thuyền của bạn khuất bóng trên dòng Trường giang hùng vĩ, Lý Bạch xúc động làm bài thơ Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng (黄鹤楼送孟浩然之广陵).
Theo như thế, cuộc đời Mạnh Hạo Nhiên tuy sống trong vùng phía bắc của Trường giang, mà biết đến Nhật Nam có đồng trụ (Đồng trụ Nhật Nam đoan) thì chúng ta có thể hiểu là Nhật Nam ở cách vùng Trường giang không xa.
….Cuối đời nhà Hán, có người trong ấp*giết huyện lệnh, tự lập thành nước, gọi là Lâm-ấp. Trong xứ ấy, núi trùng-điệp, cho nên Liễu-Tử-Hậu** có câu thơ rằng:”Lâm-ấp đông hồi sơn tợ kính” nghĩa là: “từ phía đông quanh lại xứ Lâm-ấp, núi dựng như cây giáo”…..
Ghi chú: Theo ghi chép trong An Nam chí lược thì *ấp/ huyện đây là huyện Tượng Lâm (nhưng theo Thủy kinh chú thì cho đấy là huyện Lâm Ấp).
Theo Liễu Tử Hậu: Lâm-ấp đông hồi sơn tợ kính, nghĩa là nước Lâm Ấp phía đông giáp với núi cao, nhọn và trùng điệp, chứ không giáp biển, nên phải là ở sâu trong đất liền.
**Liễu Tông Nguyên (773-819), tự Tử Hậu, người Hà Đông, nay thuộc huyện Vĩnh Tế tỉnh Sơn Tây (bên Tàu), nên còn được gọi là Liễu Hà Đông, là một trong Đường Tống Bát Đại Văn Gia.
Khoảng năm 805, họ Liễu bị giáng chức từ Lễ Bộ Viên ngoại lang xuống làm Tư Mã trấn nhậm ở Vĩnh Châu (địa phận tỉnh Hồ Nam ngày nay). Năm 1815, được bổ làm Thứ sử Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, vì thế còn được gọi tên là Liễu Liễu Châu, sau
mất ở Liễu Châu năm 819, khi 46 tuổi.
Liễu Tông Nguyên sống trong vùng Hồ Nam 10 năm, làm Thứ Sử Liễu Châu 4 năm, hẳn biết rõ hình thể địa lý vùng Quảng Tây và chung quanh Quảng Tây.Như thế, câu thơ của họ Liễu tả địa thế Lâm Ấp (Lâm Ấp đông hồi sơn tợ kính) rất đáng tin.
Thêm nữa, trên bản đồ Hua Yi tu (華基图 ) khắc lên đá vào năm 1136, tuy không đúng tỉ lệ như bản đồ Âu Tây vào thế kỷ XIX –XX như chúng ta thường quen thấy, nhưng có khắc những hàng chữ cho biết vị trí của Lâm Ấp ở sâu trong đất liền và ở về phía tây và tây nam của quận Giao Chỉ.
Những ghi chép trong các văn bản sử cổ của Tàu từ khoảng thế kỷ IV đến thế kỷ IX-X (đời nhà Đường, nhà Tống), như trong Giao Châu ngoại vực ký, Nam Khang ký, Thái Bình Hoàn Vũ ký, đến các câu thơ của Mạnh Hạo Nhiên, của Liễu Tông Nguyên (tự Tử Hậu)…, đã được biên soạn và sáng tác từ trước khi nước ta có những bộ quốc sử đầu tiên*, cho chúng ta thấy mấy điều quan trọng cần đặc biệt lưu ý về Cửu Chân, Nhật Nam và Giao Chỉ (quận) là:
1. Cửu Chân ở vùng Đô Bàng lĩnh (một trong năm rặng núi thuộc dãy Ngũ Lĩnh), phía tây bắc giáp Ba Thục (chứ không giáp Giao Chỉ như hầu hết các sử liệu Việt đã ghi). Nhật Nam ở phía nam của Cửu Chân, và phía tây của Uất Lâm (Quảng tây ngày nay).
Theo như thế thì chính các vua quan, văn gia Tàu từ đời Hán đến đời Đường vẫn nhìn nhận Cửu Chân và Nhật Nam là hai quận trong lĩnh thổ Giao Chỉ (Giao Chỉ Bộ thời Hán) và cả hai quận đều ở phía bắc của quận Giao Chỉ. *Ghi chú: – Đại Việt sử ký, soạn giả Lê văn Hưu, hoàn thành năm 1272.
– Đại Việt sử lược (tác giả “khuyết danh” biên soạn vào đời nhà Trần,được hoàn thành trong khoảng những năm 1377-1388).
Nhưng từ bao thế kỷ nay, không rõ vì lý do nào và căn cứ vào đâu mà hầu hết các sử gia, các tác giả Việt xưa nay, tuy chưa có sự đồng thuận rõ ràng, lại đều nhận là: Cửu Chân ở khoảng các vùng Ninh Bình,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nhật Nam là từ đèo Ngang, Quảng Bình vào đến Bình Định
2. Vào đời Hán, Giao Châu ngoại vực ký* có ghi:
*theo Aurousseau, tác giả có thể là Cố Vi, viết vào đời nhà Tấn (205-420)
…….Tòng Nhật Nam quận nam khứ đáo Lâm Ấp quốc tứ bách dư lí….
(được trích dẫn trong Thủy kinh chú)
Tạm dịch nghĩa: Từ quận Nhật Nam đi về phía nam hơn 400 dặm thì đến nước Lâm Ấp…
Ghi chú: Theo Liễu Tông Nguyên thì Lâm Ấp ở sâu trong đất liền, nên đúng ra phải nói là:
… từ quận Nhật Nam đi về phía tây nam hơn 400 dặm* thì đến nước Lâm Ấp….
*400 dặm Tàu bằng khoảng hơn 200km.
Hiểu theo các ghi chép kể trên, miền đất trải rộng hơn 400 dặm Tàu (khoảng 200km) ở giữa quận Nhật Nam (phía bắc) và nước Lâm Ấp (phía tây nam), không gì khác hơn, chính là lĩnh vực quận Giao Chỉ.
Nói một cách khác: Cửu Chân và Nhật Nam đều ở phía Bắc của quận Giao Chỉ.
Nhật Nam ở giữa Cửu Chân và quận Giao Chỉ.
Lâm Ấp ở về khoảng phía tây và tây nam của quận Giao Chỉ (đời Hán), khoảng vùng phía tây nam Vân Nam và vùng bắc Ai Lao sau này.
Khi định lại vị trí của các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố trong lĩnh thổ Giao Chỉ (xin xem bản đồ kèm theo), chúng ta thấy rất rõ ràng là cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà Trưng đã khởi phát trong vùng lĩnh thổ Giao Chỉ, lan rộng khắp miền Lĩnh Nam, chứ không phải là ở vùng đồng bằng sông Hồng (khi ấy cũng vẫn chưa thành hình rõ rệt như được ghi vẽ trên các
bản đồ từ thế kỷ XV đến nay).
(Xin xem thêm các bài: Đất nước Việt thời thượng cổ trong vùng Đông Á – Đỗ Hoàng Ý, 2015, Đồng bằng sông Hồng ngày xưa, Đỗ Hoàng Ý, 2016).
Khoảng gần 500 năm sau thời Hai Bà khởi nghĩa, tác giả 酈道元 – Li Daoyuan / Lịch Đạo Nguyên (466 – 527) biên soạn Thủy kinh chú (水經注- Shuijing zhu/ Shui-ching zhu – chú thích về Thủy kinh) trong khoảng những năm 515 – 524.
Nhiều bài biên khảo dẫn đoạn văn được ghi là trích từ Thủy kinh chú như sau:
後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇 將詩起賊
(案近刻訛為妻) 攻破州郡 服諸雒將 皆屬徵側為王 治麊泠縣 (quyển 37, tờ 62 a). Phiên âm:
Hậu chu diên lạc tướng tử danh thi sách my linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi thê。 trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khởi tặc.
(Án cận khắc ngoa vi thê) công phá châu quận phục chư lạc tướng giai chúc* trưng trắc vi vương trị my linh huyện.
*nhiều bản phiên âm là… giai thuộc Tạm dịch nghĩa:
Sau con trai Lạc tướng ở Chu Diên tên Thi hỏi cưới (lấy) con gái Lạc tướng My Linh tên Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người can đảm, dũng lược, cùng Thi khởi loạn.
(Khảo xét: gần đây khắc sai thành “thê”), công phá châu quận, quy phục được các Lạc tướng khác, họ đều tôn Trưng Trắc làm vua, đóng đô ở huyện My Linh.
(trích từ nguồn internet, cần kiểm chứng thêm)
Trong biên khảo Lịch sử Lạc Việt (L.M. Nguyễn Phương, Bách Khoa Thời Đại, Sàigòn-1965)tác giả trích dẫn đoạn văn ghi chép khác hẳn, nhưng cũng ghi chú là trích từ Thủy kinh chú, quyển 37, tờ 62 a:
Phiên âm: Châu Diên Lạc tướng tử, danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ, danh Trưng Trắc, vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng, tương Thi khởi tặc. Mã Viện tương binh thảo. Trắc, Thi tẩu nhập Cấm Khê….
Tạm dịch nghĩa: con trai Lạc tướng huyện Châu Diên, tên là Thi, đi hỏi con gái Lạc tướng huyện Mê Linh tên là Trưng Trắc làm vợ, Trắc là người có can đảm và dũng lược, cùng với Thi nổi lên làm giặc. Mã Viện đem quân đánh đuổi. Trắc, Thi chạy vào Cấm Khê.
Theo đoạn văn này, Thủy kinh chú không nói gì đến thái thú Tô Định, không ghi gì về nguyên do của cuộc khởi nghĩa, không nhắc đến bà Trưng Nhị, không ghi bà Trưng khởi nghĩa năm nào và xưng Vương năm nào.
Đoạn văn cũng ghi rõ ràng là khi bà Trưng khởi nghĩa thì ông Thi vẫn còn sống, cùng chiến đấu chống Hán, rồi cùng lui chạy vào Cấm Khê.
Ghi chú:Thiên Nam ngữ lục* cho rằng vị anh hùng “Thi Sách” có tham gia khởi nghĩa với Bà Trưng và tử trận trước khi cuộc khởi nghĩa thành công.
*Thiên Nam ngữ lục, tên gọi đầy đủ là Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ, đến nay không rõ tên tác giả, sáng tác vào cuối thế kỷ 17. Tập sách diễn ca lịch sử Việt từ Kinh Dương Vương đến đời Lê Trung Hưng, gồm 8136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ chữ Hán và 2 bài thơ Nôm.
Điểm đáng lưu ý là sách được sáng tác vào cùng thời kỳ khi bộ Đại Việt sử ký toàn thư được khắc bản in (bản Nội Các Quan Bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18, triều Lê Hy tông (1697)), nhưng lại có nhiều điều ghi chép khác với Đại Việt sử ký toàn thư.
Ghi chú và Khảo luận về đoạn văn trích từ Thủy kinh chú
Vào thế kỷ VI, Lịch Ðạo Nguyên là tác giả đầu tiên ghi tên chồng của bà Trưng Chắc vào sử:
Phiên âm: … chu diên lạc tướng tử danh thi sách my linh lạc tướng nữ tử danh trưng trắc vi thê trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khởi tặc…
Tạm dịch nghĩa: Con trai của lạc tướng Chu Diên tên (là) Thi, hỏi (sách) con gái lạc tướng My Linh tên (là) Trưng Trắc làm vợ… Trắc là người can đảm, dũng lược, cùng Thi nổi loạn…
Dựa theo câu trên đây của Thủy kinh chú, thái tử Lý Hiền đời Ðường (thế kỷ VII) chú thích vào Hậu Hán thư thành câu:
… 徵 側 者 麊 泠 縣 雒 將 之 女 也 嫁 為 朱 䳒 人 詩 索 妻 甚 雄 勇 …
Phiên âm: ….trưng trắc giả my linh huyện lạc tướng chi nữ dã giá vi chu diên nhân thi sách thê thậm hùng dũng…
Tạm dịch nghĩa: … trưng trắc (là) con gái lạc tướng huyện my linh được gả làm vợ cho người (huyện) chu diên (tên là) thi sách rất hùng dũng….
Trong Hán văn xưa, văn viết không có chấm, phẩy, tên họ người không viết chữ hoa, lại thêm vì cách đặt chữ của Lý Hiền trong chính câu văn này… nên đã gây hiểu nhầm, chữ “sách” được hiểu là một phần của “ tên người”.
Vì dựa theo câu chú của Lý Hiền, từ bao năm nay, hầu hết các sử sách Việt đã ghi sai nhầm tên của vị anh hùng tên Thi là Thi Sách, như trong:
– Việt Điện U Linh Tập – 越甸幽靈集
Tác giả “khuyết danh”, người đời nhà Lý. Đến đời nhà Trần, Lý Tế Xuyên viết nối thêm vào, hoàn thành tập sách khoảng năm 1329 (theo học giả Dương Quảng Hàm đọc thấy từ bài Tựa của Gia Cát thị viết năm 1774).
– Đại Việt Sử Lược – 大越史略
Tác giả “khuyết danh” biên soạn vào đời nhà Trần, được hoàn thành vào khoảng năm 1377. Trải qua bao nhiêu nạn binh đao vì quan quân Tàu xâm lăng, tàn phá nước ta, Đại Việt Sử Lược bị thất truyền không rõ là tự bao giờ.
Đến thời Càn Long (1736 – 1795) nhà Thanh, quan nhà Thanh Tiền Hy Tộ dùng sách này để tra cứu và bổ túc cho phần ngoại truyện của Tống sử và Nguyên sử, đã tiến hành hiệu đính, cho khắc in, rồi nạp sách vào Khâm định tứ khố toàn thư của
triều Thanh.
Trước khi khắc in, Tiền Hy Tộ đã đổi tên sách là Việt sử lược, trong sách thì đổi danh xưng Đại Việt nước ta là An Nam.
– Lĩnh Nam chích quái – 嶺南摭怪
Tương truyền tác giả là Trần Thế Pháp, người đời nhà Trần (thế kỷ XV) (theo ghi chép trong các tác phẩm Vịnh sử thi tập của Đặng Minh Khiêm, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú).
– Đại Việt Sử Ký Toàn Thư -大越史記全書, được hoàn thành vào niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479). Tác giả Ngô Sĩ Liên biên soạn trên căn bản hiệu đính,bổ sung hai bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và Phan Phu Tiên soạn vào đời nhà Trần.
– Khâm định Việt sử thông giám cương mục – 欽定越史通鑑綱目
Quốc Sử Quán triều Nguyễn được vua Dực tông nhà Nguyễn (Tự Đức) chỉ đạo biên soạn vào năm Tự Đức thứ 8 (1856), giao cho Phan Thanh Giản làm tổng tài (chủ biên). Bộ sách được hoàn thành vào năm 1859, sau đó trải qua các lần “duyệt nghị” (1871), “duyệt kiểm” (1872), “phúc kiểm” (1876), “duyệt định” (1878), “kiểm duyệt” (1884). Đến đời vua Giản tông nhà Nguyễn, năm Kiến Phúc thứ 1(1884), thì được khắc in và ban hành.
Đúng ra, câu chú của Lý Hiền:
….. 嫁 為 朱 䳒 人 詩 索 妻 甚 雄 勇 …. Giá vi chu diên nhân thi sách thê thậm hùng dũng
Nên hiểu là: …Lấy người (ở) chu diên (tên) thi (hỏi) cưới (người) vợ rất hùng dũng.
Ghi chú: chữ 索 (sách) thường được dùng với nghĩa: đòi hỏi, đòi lấy, cầu mong có được,..thí dụ như trong các chữ: yêu sách, sách nhiễu, yêu cầu….
Vào thế kỷ 18, học giả Zhao Yiqing (趙一清 – Triệu Nhất Thanh (1709- 1764)) soạn Thủy kinh chú thích (水經注釋 Shuijing zhu shi – chú thích Thủy kinh chú ), đã ghi rõ: cho chữ “sách” là một phần của “ tên người” là nhầm lẫn.
Zhao Yiqing chú thích: …… 索妻 (sách thê) cũng giống như 娶婦 (thú phụ).
Sau đó, học giả Hui Dong (惠 棟 – Huệ Đống (1697-1758)), có chú thích như sau:
….Cứu Triệu Nhất Thanh viết sách thê do ngôn thú thê*…
tạm dịch là: …tra cứu theo Triệu Nhất Thanh thấy ghi “sách thê” là cưới vợ….
*nhà sử học L.M.Nguyễn Phương đọc thấy chú thích của Huệ Ðống ở phần “Phụ lục” quyển 54 của Hậu Hán thư trong bản in của Nghệ Văn Ấn Thư Quán, Hương Cảng, 1952. L.M. Nguyễn Phương đã công bố điều này trong tác phẩm Phương pháp sử học (Viện Ðại học Huế xuất bản năm 1964) và trong bài Lịch sử Lạc Việt (Bách Khoa Thời Đại, Sàigòn – 1965).
Đến đầu thế kỷ XX, Yang Shoujing (Dương Thủ Kính) và Xiong Huizhen (Hùng Hội Trinh) soạn Thủy kinh chú sớ (水經注疏 Shuijing zhu shu – chú thích kỹ lưỡng về Thủy kinh chú), trong sách có dẫn rằng cổ thư Thái Bình hoàn vũ kí (太平寰宇記 Taiping huanyu ji ) từ thế kỷ X, ghi “sách” là tiếng được dùng ở vùng Giao Chỉ với nghĩa là “hỏi cưới (vợ)”.
Đến hơn 1800 năm sau thời Hai Bà khởi nghĩa, Le P. Mathias Tchang, S.J. biên soạn và ghi chép về cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà khác hẳn với những ghi chép trong các văn bản sử
Trích dẫn từ Chronologie Complète et Concordance avec L’ère Chrétienne, de toutes les dates concernant l’histoire de l’Extrême-Orient (Chine, Japon, Corée, Annam, Mongolie, etc.) – (2357 AV.J.-C.– 1904 APR.J.-C.), par Le P. Mathias Tchang, S.J.- Variétés Sinologiques No.24, Synchronismes Chinois – Chang-Hai, Imprimerie de la Mission Catholique, Orphélinat de T’ouse-Wì, 1905.
Khảo luận về ghi chép trong biên khảo của Le P. Mathias Chang, S.J
Theo Đại Việt Sử lược, trong mục “Quan thủ nhậm qua các thời đại” (của Giao Chỉ), có một khoảng thời gian 80 năm- từ năm 48 trước tây lịch đến khoảng năm 28- 29 khi Tô Định được triều Đông Hán cử làm thái thú Giao Chỉ (theo Le P. Mathias Chang, S.J.) – không thấy ghi có ai làm “quan thủ nhậm” Giao Chỉ.
Như thế chúng ta có thể hiểu là các Lạc tướng và dân các tộc Việt đã khởi nghĩa, thành công trong việc giải thoát Giao Chỉ khỏi ách đô hộ của Tàu: Giao Chỉ được độc lập, tự trị từ khoảng năm 48 trước tây lịch đến khoảng năm 28-29* khi triều Đông Hán cử Tô Định đem quân đi trấn nhậm Giao Chỉ. *Nhiều biên khảo ghi là Tô Định được cử làm thái thú năm 34.
Đại Việt sử lược (thế kỷ XIV) không ghi rõ Tô Định được cử làm thái thú năm nào
Điều này dẫn đến nghi vấn là: Vua quan Đông Hán đã khiến Tô Định đem quân đi đánh dẹp cuộc khởi nghĩa hầu mong chiếm lại được Giao Chỉ để có đất mà trấn nhậm.
Theo ghi chép của Le P. Mathias Chang, S.J:
* Tô Định (Sou Ting) đã là thái thú Giao Chỉ từ khoảng năm 28- 29 và tác giả chỉ ghi vì Tô Định cai trị dân Việt quá khắc nghiệt nên bà Trưng Chắc phẫn nộ, hô hào dân chúng nổi dậy, khởi nghĩa chống nhà Đông Hán, thành công trong việc đánh đuổi được Tô Định.
Điều này phù hợp với câu chú trong Hậu Hán thư (thế kỷ V):
…. 交 阯 太 守 蘇 定 以 法 繩 之 側 忿 故 反….
…. giao chỉ thái thú tô định dĩ pháp thằng chi trắc phẫn cố phản…. Ghi chú:đây là câu chú thích của Lý Hiền (thế kỷ VII).
* bà Trưng Chắc khởi nghĩa vào khoảng năm 30*, thành công trong việc đánh đuổi được Tô Định, tự lên ngôi vua Giao Chỉ (…se fit proclamer reine de Kiao-tche…).
*Ghi chú: Điều này khác hẳn với những ghi chép trong hầu hết các văn bản sử liệu của các sử quan, văn gia Tàu cũng như Việt, đã được lưu truyền từ thế kỷ V đến ngày nay.
Đối chiếu các ghi chép kể trên, ta có thể thấy diễn biến tuần tự hợp lý là:
– năm 30, võ quan Tô Định bị đánh thua phải bỏ chạy khỏi Giao Chỉ.
– qua năm 32, cuộc khởi nghĩa lan đến Cửu Chân, văn quan Nhâm Diên biết sức mình, đành mau lo chạy“thoát được thân mình mà thôi”! (theo Hậu Hán thư, trích từ Nhìn lại sử Việt, từ tiền sử đến tự chủ- Lê Mạnh Hùng, Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 2011).
*Vua Hán thấy tình thế nguy cấp, lập tức cử ngay Mã Viện đem quân đi chống lại bà Trưng (… envoya immédiatement contre elle, Ma Yuen 馬援 …) vào khoảng năm 32.
Nhưng quân khởi nghĩa đã kháng cự mãnh liệt đến độ Mã Viện buộc phải rút quân, bỏ ý định đánh chiếm lĩnh thổ Giao Chỉ (…Mais la reine résista aux troupes chinoises, de sorte que Ma Yuen fut forcé de lui abandonner le territoire.)
Hiểu theo như thế thì rõ ràng là quan quân Hán đã thất bại, không chiếm được Giao Chỉ.
Điều Le P. Mathias Tchang ghi phù hợp với ghi chép theo tác giả Le P. Le Grand de la Liraye (1819-1873): Các cổ sử Tàu cho biết cuộc chiến kéo dài tám năm (… les annales chinoises nous disent que cette guerre dura huit ans, jusqu’à la bataille de Lâm hương…)
(trích từ Notes Historiques sur la Nation Annamite, par Le P. Le Grand de la Liraye, Théophile Marie,1866). Tiếc là Le P. Le Grand de la Liraye đã không kể tên các annales chinoises, không ghi chú địa danh Lâm hương theo chữ Tàu để người đời sau có thể kiểm chứng!
Ghi chú: cách Nhạc Dương khoảng 40km về phía đông bắc có địa danh 臨 湘. (ngữ âm: Lin hsiang, có thể đọc là Lâm Hương hay Lâm Tương). Chữ 湘 thường để chỉ tên sông Tương, khởi nguồn từ Quảng Tây, chảy qua địa phận Hồ Nam rồi đổ vào hồ Động Đình. 湘 cũng có khi được dùng để gọi tắt tên tỉnh Hồ Nam.
Tổng hợp các ghi chép của Le P. Mathias Chang và Le P. Le Grand de la Liraye cho thấy cuộc chiến giữa Mã Viện và các lực lượng khởi nghĩa thời Hai Bà đã kéo dài từ năm 32 đến năm 39.
Suy xét kỹ thì thấy rằng sự kiện Mã Viện phải rút quân, bỏ ý định đánh chiếm lĩnh thổ Giao Chỉ, phù hợp với truyền thuyết Mã Viện dựng trụ đồng xem đấy là biên giới cực Nam của đất nhà Hán, giáp ranh với lĩnh thổ Giao Chỉ: Địa Hán Mã Viện thực đồng trụ dĩ biểu Hán 地漢馬援植銅柱以表漢
(Theo chú thích trên bản đồ Hua yi tu 華基图 khắc lên đá vào năm 1136).
Theo nhận xét trên đây, xin nêu nghi vấn:
1. Tuy truyền thuyết Mã Viện “nãi lập đồng trụ vi Hán cực giới” có đã lâu, nhưng các cổ sử Tàu ghi chép rất mơ hồ và mâu thuẫn nhau. Vì chỉ thấy được nhắc đến nhiều từ đời Đường nên thiển nghĩ khá chắc là vua quan và văn gia nhà Đường cố công ngụy tạo, biến “huyền thoại trụ đồng” thành sự kiện lịch sử, đã ghi chép, thêm thắt tùy tiện theo chủ đích riêng.
Khoảng đời Đường Hiến Tông (Lý Thuần, 806-820), An Nam Đô hộ Mã Tổng (Tống) dựng “hai trụ đồng ở chỗ cũ của nhà Hán” ở Mao lĩnh sơn* (nhưng không ghi rõ vị trí núi ở đâu) để ghi công đức của Mã Viện và để tỏ ra mình là dòng dõi của Phục Ba tướng quân (Mã Viện).
*Tương truyền trên Mao lĩnh sơn có mọc rất nhiều loại cỏ phân mao (分茅)- ngọn ngả theo hai hướng Bắc – Nam, tựa như ranh giới trời định. Do đó mà có tên Phân Mao Lĩnh.
Đồng trụ nếu có trên núi Phân Mao*, thì hàng chữ 銅柱折 交阯滅 (Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt) khắc trên đồng trụ vừa là lời giao ước, vừa có ý hăm dọa: nếu các tộc Việt đánh lấn sang đất nhà Hán, làm gãy đồng trụ, thì Hán sẽ diệt Giao Chỉ!
Suy nghĩ và giải thích câu Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt như thế, thiển nghĩ nhiều phần hợp lý hơn là truyền thuyết kể rằng người Việt vì sợ đồng trụ vô cớ gãy nên mỗi khi đi qua đấy phải ném đá cho đồng trụ được vững, lâu ngày thành núi vùi lấp đồng trụ!.
Vào cuối đời Đường, những đại thần Tàu như Lý Cát Phủ, tác giả Nguyên Hòa Quận Huyện Chí, cho là đồng trụ được Mã Viện dựng ở Khâm Châu, Đỗ Hữu (Hựu), tác giả Thông Điển còn cho là ở xa hơn nữa mãi tận nước Tây Đồ Di (?) ở phía nam của nước Lâm Ấp…
Đến đời Nam Tống, thế kỷ XII, Chu Khứ Phi, từng làm quan ở Quế Lâm (Quảng Tây), tác giả Lĩnh Ngoại Đại Đáp, ghi là đồng trụ được Mã Viện dựng ở khu hang động Cổ Sâm (Cổ Lâu), cách Khâm Châu khoảng ba lí về phía tây.
2. Đến các đời sau, sử quan, văn gia Tàu khi soạn các bộ Nguyên Nhất Thống Chí, Minh Nhất Thống Chí, Đại Thanh Nhất Thống Chí, đã theo các cổ sử từ những đời trước mà ghi là ở Khâm Châu có trụ đồng Mã Viện khắc sáu chữ 銅 柱 折 交 阯 滅“Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt ”.
Theo Đại Thanh Nhất Thống Chí (大清一統志)* thì Phân Mao Lĩnh – 分茅嶺 – tọa lạc tại phía tây của huyện đường Khâm Châu, cách 300 lý và ở trên đường biên giới với Việt Nam.
Ghi chú: *大清一統志 được khắc bản gỗ in năm 1764 theo lệnh của vua Càn Long nhà Thanh, hoàn tất năm 1789.
Gabriel Devéria (1844-1899) dựa theo đấy biên soạn sách La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphique et ethnographique (d’après les documents officiels chinois traduits pour la première fois), do Ernest Leroux ấn loát, l’École des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris, 1886.
Đến cuối thế kỷ XIX, Chiniac de Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới Việt-Trung (1890-
1891) có ghi trong bản báo cáo:
…”riêng về Phân Mao Lĩnh thì quan trọng nhất cho việc xác định đường biên giới… hiện nay có thể xác quyết một cách chắc chắn rằng, không những núi này không có ở đây mà nó còn không hiện hữu trong toàn vùng biên giới mà Ủy Ban Phân Giới đã thám hiểm. Không có một trái núi nào có tên tương tự” …
Chiniac de Labastide còn ghi thêm: …“theo vài tác-giả, núi Phân Mao Lĩnh có thể ở cách Khâm Châu khoảng 360 lí, tức 140 Km… khi tôi cho ông Chủ Tịch Ủy Ban Phân Giới Trung Hoa biết là, mặc dầu bỏ nhiều nỗ lực tìm kiếm, tôi vẫn không tìm ra trái núi “Phân Mao Lĩnh”mà dưới chân nó có trụ đồng để đánh dấu biên giới của tướng Mã Viện. Núi này hoàn toàn không ai biết.
Ông này trước tiên im lặng, và vài ngày sau, ông chỉ cho tôi, ở trên bản đồ, không phải ở phía Ðông Nam mà ở phía Ðông Bắc của Bản Hưng, phía nam Pi-Lao, một trái núi nhỏ và cho đó là Phân Mao Lĩnh. Khi tôi la lớn về sự xác nhận phi lý này thì ông ta mới trả lời cho tôi, bằng một dáng điệu trịnh trọng, trái núi này không phải là Đại Phân Mao Lĩnh, nổi tiếng do nhờ trụ đồng của tướng Mã Viện, mà chỉ là một Tiểu Phân Mao Lĩnh”…Khoảng cách xa xôi của trái núi được chỉ định và cái miếu thờ Phục Ba tướng quân, miếu này cách trái núi 3 cây số,cho ta thấy người Tàu đã lường gạt chúng ta biết bao nhiêu; họ đặt tên, tùy theo sự cần thiết của họ, trái núi này hay trái núi kia, một cái tên lịch sử của một trái núi thuộc vùng khác và dựa vào
đó để thiết lập chủ quyền của họ về đất đai.” …
(Trích từ: Thử nhìn lại một số âm mưu của người Hán đã dàn dựng nhằm lấn đất, giành hải đảo của Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến nay, Trương Nhân Tuấn, 2010).
Bản báo cáo của Chiniac de Labastide vào thế kỷ XIX cho thấy rõ ràng là vua quan Tàu đời Thanh đã gian trá bịa đặt tên núi “Mao Lĩnh”, theo ý họ, cho một ngọn núi vô danh ở vùng Khâm Châu xa tắp mãi tận phía Nam (tọa độ: khoảng Vĩ độ 21⁰ 50’, Kinh độ 108⁰ 25’), nhằm dựa vào đấy để lấn chiếm đất của Việt Nam.
Đồng trụ chưa chắc đã có, nhưng núi Phân Mao thực sự có thật.
Vào thế kỷ XVIII, khi danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746-1803) đi sứ bên Tàu năm 1793, có làm bài thơ Phân Mao lĩnh, ghi rõ ràng là trên đường đi đến Hoàng Mao* thì thấy núi Phân Mao**.
Ghi chú: * Hoàng Mao trong vùng Hành sơn, tỉnh Hồ Nam
** Núi Phân Mao ở vùng Hành Châu phủ (Hành Dương ngày nay), phía nam Hành sơn).
Có vị sưu tầm và đăng lên internet bản chép tay bài thơ Phân Mao Lĩnh với lời chú thích:
Phiên âm:
1. Lộ thượng hữu biển đề: “Phân Mao Lĩnh”, lĩnh sơn phân mao nam bắc hướng.
2. “Lễ – Vương chế”: “Nam bất tận Hành sơn”. Hành sơn giả, Sở chi vọng dã.
3. Hồi Nhạn phong tại Hành Tương giang ngạn, Tương giang bắc lưu, nhạn mao thu lạc, nghịch lưu nhi nam, phù vu than giang.
4. Động Đình chi nam hữu Trưng Trắc miếu, Trưng thị cự Mã Viện vu* Hồ Nam, tương trì song nguyệt, hậu dữ Viện giao phong, bại tích vu Tương âm nhi một. Kim hữu miếu, tục xưng Bà Trắc miếu, thậm giả linh dị.” *Ghi chú: vu có nghĩa là: khắp nơi. …vu Hồ Nam… ở khắp Hồ Nam….
Tạm dịch nghĩa:
1. Trên đường có biển đề: “Phân Mao Lĩnh” (núi Phân Mao), cỏ mao trên núi mọc rẽ về hai phía nam và bắc.
2. Thiên Vương Chế, sách Lễ Ký ghi: “Về phía nam đến Hành sơn chẳng hết”. Hành sơn là chốn từ đất Sở hướng nhìn về phía xa vậy.
3. Đỉnh Hồi Nhạn bên bờ sông Hành Tương, sông Tương chảy về phía bắc, mùa thu lông chim nhạn rơi rụng, đi ngược dòng về phía nam, thấy trôi nổi khắp bãi sông.
4. Phía nam Động Đình (hồ) có miếu thờ Trưng Trắc, họ Trưng chống cự Mã Viện ở khắp Hồ Nam, chống giữ nghiêng ngửa trong đôi tháng, sau cùng Viện giao chiến, bị thua ở Tương âm* mà mất. Nay có miếu thờ, tục gọi là miếu Bà Trắc, rất là linh thiêng khác thường.
* mạn nam sông Tương
Rất mong sẽ được các bậc cao minh kiểm chứng và xác nhận những lời chú thích kể trên đúng thực là của danh sĩ Ngô Thì Nhậm.
Đối chiếu một số địa danh trên các bản đồ cổ của Tàu (thế kỷ XVIII) được nhắc đến trong bài thơ Phân Mao Lĩnh của danh sĩ Ngô Thì Nhậm, với những chi tiết trên các bản đồ vào thế kỷ XX, thì Mao Lĩnh sơn ở vào khoảng Vĩ độ: 26 ⁰ 30’, Kinh độ: 112⁰ 40’, cách Khâm Châu khoảng 400km về phía Tây Bắc, mãi tận vùng phía nam hồ Động Đình.
Vì người xưa chưa có ý niệm về đường biên giới, nên thường chọn một điểm thiên nhiên như dòng sông, ngọn núi để phân định ranh giới giữa hai vùng lĩnh thổ.
Khi tổng hợp và đối chiếu những chi tiết theo các truyền thuyết …Địa Hán Mã Viện thực đồng trụ dĩ biểu Hán… Mã Viện nãi lập đồng trụ vi Hán cực giới… với bài thơ Phân Mao Lĩnh cùng các ghi chú của danh sĩ Ngô Thì Nhậm, chúng ta có thể thấy rõ ràng là điểm phân định biên giới cực Nam của đất nhà Đông Hán là núi Phân Mao trong vùng Hành Châu phủ (phía nam Hành sơn), tỉnh Hồ Nam, ở miền nam hồ Động Đình, và cách xa khoảng hơn 100km về phía bắc rặng Ngũ Lĩnh.
Nay tìm được thêm những ghi chép của Le P. Mathias Tchang, S.J., chúng ta có thể tin là:
* Vào thời Hai Bà Trưng, đất nước Việt thượng cổ vẫn còn bao gồm cả lĩnh thổ Giao Chỉ từ khoảng phía Nam trung lưu Trường giang, vùng hồ Động Đình, vượt qua vùng núi Ngũ Lĩnh, trải rộng khắp miền Lĩnh Nam, đồng bằng Việt giang (Tây giang, Châu giang), ra đến tận biển … * Cuộc khởi nghĩa của các tộc Việt vào thời Hai Bà Trưng khởi phát đi từ lĩnh thổ Giao Chỉ, chứ không phải ở đồng bằng sông Hồng (Bắc Việt Nam ngày nay).
* Quân khởi nghĩa đã kháng cự mãnh liệt đến độ Mã Viện buộc phải rút quân, bỏ ý định đánh chiếm lĩnh thổ Giao Chỉ. Vì Mã Viện không thắng nổi lực lượng khởi nghĩa của các tộc Việt nên đã phải giảng hòa, rồi giao ước lấy Mao Lĩnh sơn làm ranh giới giữa đất Hán và lĩnh thổ Giao Chỉ của các tộc Việt. Mã Viện và quan quân nhà Đông Hán đã thất bại, không chiếm được Giao Chỉ, chưa đến được rặng Ngũ Lĩnh. Vậy là đoàn quân do Mã Viện chỉ huy chưa hề đặt chân đến vùng đồng bằng sông Hồng.
* * *
Chúng tôi hy vọng bài viết này phần nào sẽ gợi ý người đọc nhận ra được những mâu thuẫn, suy xét những điều vô lý trong các sử liệu từ xưa đến nay, giúp mình thoát ra khỏi được các ngộ nhận về lịch sử Việt thượng cổ để không phụ công đức của tiền nhân đã hy sinh xương máu bảo vệ non sông gấm vóc trải rộng bao la dưới trời Đông Á.
Chúng tôi mong bạn đọc suy nghiệm những dữ kiện nêu ra trong bài, cùng nghiên cứu sâu rộng hơn để thẩm định lại các ghi chép trong cổ sử Tàu về lịch sử thượng cổ nước Việt.
Sự thật về cuộc khởi nghĩa thời Hai Bà Trưng cần được làm sáng tỏ, để chúng ta có thể đóng góp và lưu truyền nhiều thêm các dữ kiện chân thực của lịch sử, của văn hóa dân tộc Việt cho các thế hệ mai sau.
Đỗ Hoàng Ý
Hoa Kỳ, tháng Ba năm 2018
Bài viết này là bản tóm tắt gồm một số đoạn trích từ biên khảo Lịch sử thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Đỗ Hoàng Ý, 2016-2018. Xin đọc thêm các bài: Đất nước Việt thời thượng cổ trong vùng Đông Á, Đỗ Hoàng Ý, 2015-2017 Đồng bằng sông Hồng ngày xưa, Đỗ Hoàng Ý, 2016-2017 Xin chân thành ghi công và tri ân tất cả các học giả, những nhà nghiên cứu biên khảo, các nhà nhiếp ảnh đã dành tâm huyết, công sức để thu thập dữ kiện, hoàn thành các công trình biên khảo, những hình ảnh quý báu và phổ biến trên internet cho chúng tôi, những người đi sau, học hỏi, mở mang kiến thức để có thể hoàn thành bài viết này. Xin ghi nhận và cảm ơn ông Hồ Vĩnh Hảo đã hợp tác, đóng góp ý kiến, tận tâm sưu tầm các tài liệu sử cổ, bản đồ cổ và bỏ rất nhiều công sức giúp tìm và định vị trí các địa danh lịch sử Việt cổ trong vùng Đông Á. RECOGNITION and APPRECIATION: We appreciate all authors, researchers, photographers who dedicated their time and efforts to compile valuable books, articles, to capture unforgettable scenes of our homeland Vietnam and generously posted their work on the internet for public use. In recognition of their noble sacrifices, all their intellectual properties used in this presentation are for the education and the preservation of the Vietnamese heritage and for honoring their invaluable contributions to the knowledge of humankind. Notion: Information from this source is evidence-based and objective, and without commercial influence. This is an open-access article distributed under the terms of the Creative Commons Attribution License, which permits unrestricted use, distribution, and reproduction in any medium, provided the original author and source are credited. FAIR USE NOTICE: This essay contains copyrighted material the use of which has not always been specifically authorized by the copyright owner. We are making such material available in our efforts to advance understanding of issues of cultural and humanitarian significance. We believe this constitutes a ‘fair use’ of any such copyrighted material as provided for in section 107 of the US Copyright Law. In accordance with Title 17 U.S.C. Section 107, the material in this essay is distributed without profit to those who have expressed a prior interest in receiving the included information for research and educational purposes. If you wish to use copyrighted material fromthis essay for purposes of your own that go beyond ‘fair use’, you must obtain permission from the copyright owner.